Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm xây dựng và hoàn thiện các giải pháp để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng không tích cực của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê (cũng như các dân tộc tại chỗ khác) ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam một cách khả thi và có hiệu quả.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN MINH ĐOAN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Bùi Hồng Quý
Trang 3tục nghiên cứu, các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 26
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT TỤC VÀ ẢNH HƯỞNG
2.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của luật tục trong đời sống xã hội 31 2.2 Pháp luật và quan hệ giữa pháp luật với luật tục 44 2.3 Thực hiện pháp luật và ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật 52
Chương 3: THỰC TRẠNG LUẬT TỤC CỦA NGƯỜI ÊĐÊ VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG
3.1 Khái quát chung về luật tục trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên 67 3.2 Ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG
TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG KHÔNG TÍCH CỰC
CỦA LUẬT TỤC ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI ÊĐÊ Ở CÁC TỈNH TÂY
4.1 Quan điểm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng không
tích cực của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng
người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam giai đoạn hiện nay 118 4.2 Các giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng không
tích cực của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng
người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam giai đoạn hiện nay 129
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 155
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dân PBGDPL : Phổ biến, giáo dục pháp luật QPPL : Quy phạm pháp luật
TAND : Toà án nhân dân TGPL : Trợ giúp pháp lý UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật tục có nguồn gốc từ phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng tộc người; trên thế giới, luật tục còn được gọi là luật dân gian, luật bản địa , và khi được nhà nước thừa nhận như là một nguồn của pháp luật thì được gọi là tập quán pháp Luật tục là một dạng quy phạm xã hội, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành
vi của con người Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, luật tục ra đời, điều chỉnh các quan hệ xã hội từ trước khi có nhà nước, có pháp luật và tồn tại song hành cùng pháp luật cho đến ngày nay Trong tiến trình đó, với vai trò quan trọng của luật tục trong việc duy trì trật tự xã hội, nên kể từ khi mới ra đời, nhà nước đã lựa chọn những luật tục - phong tục, tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý
xã hội để nâng lên thành pháp luật Hiện nay, có rất nhiều quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau thừa nhận phong tục, tập quán là nguồn của pháp luật
Và trong xu thế xã hội loài người ngày càng văn minh, quyền con người, quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc ngày càng được tôn trọng, thì vấn đề đa dạng nguồn pháp luật, đa dạng các phương thức giải quyết các mối quan hệ trong xã hội, đặc biệt là các phương thức hòa giải, tự quản, tự cam kết và tự thực hiện những điều đã cam kết càng được đề cao Do đó, có thể khẳng định, luật tục đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người
Ở Việt Nam, với đặc thù là một quốc gia đa dân tộc, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, nên rất đa dạng và phong phú về phong tục, tập quán Dưới các triều đại phong kiến và thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, các hương ước làng xã, các phong tục, tập quán và luật tục đã đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung, thậm chí thay thế pháp luật, góp phần duy trì sự ổn định của xã hội Sau năm 1945, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong một vài giai đoạn lịch sử, chúng
ta không thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm Quan điểm chủ đạo cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được xác định trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020 là phải "Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu
Trang 6có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật" [26]; một trong những giải pháp về xây dựng pháp luật được Nghị quyết đề ra là nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng tập quán , góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật Trên thực tế, một số lĩnh vực pháp luật nước ta, như dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình , phong tục, tập quán đã được thừa nhận
và đảm bảo thực hiện từ phía Nhà nước, với những nguyên tắc nhất định Ở phương diện rộng hơn, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp hiện hành nước ta (Hiến pháp năm 2013) khẳng định: "Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại" (Khoản 1 Điều 60) [75]; và " Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình" (Khoản 3 Điều 5) [75] Những nội dung Hiến định đó, vừa gợi mở, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về vấn đề nghiên cứu bản sắc, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán và luật tục các dân tộc Việt Nam
Thực tế ở nước ta hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất để Nhà nước quản lý xã hội Mặc dù hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong
xã hội ngày càng tăng, nhưng nhìn tổng thể, phong tục, tập quán và luật tục vẫn có một vai trò không thể thay thế trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, nên có nhiều ảnh hưởng đối với thực hiện pháp luật của người dân, nhất là ở nông thôn, các cộng đồng dân tộc thiểu số và đặc biệt là với những lĩnh vực mà pháp luật chưa hoặc không điều chỉnh được Bên cạnh đó, tuy việc nghiên cứu luật tục trong mối quan hệ với pháp luật không phải là vấn đề mới ở Việt Nam, nhưng nhìn chung còn
ít người quan tâm; những nghiên cứu cho đến nay mới chỉ tiếp cận, khai thác khía cạnh hẹp nào đó hoặc đề cập chung chung, khái quát, mà chưa nghiên cứu, giải quyết một cách đầy đủ và toàn diện về mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục trong quản lý xã hội, cả về mặt lý luận và thực tiễn Đó cũng là nguyên nhân của việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật ở nông thôn và cơ sở thời gian qua còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết Do vậy, việc nghiên cứu luật tục một cách có hệ thống trong quan hệ với pháp luật là một yêu cầu đặt ra hiện nay; việc hiểu đúng giá trị của luật tục, phát huy được những yếu tố tích cực của luật tục là hết sức cần thiết, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý xã hội, quản lý cộng đồng của chính quyền,
Trang 7tạo nên sự ổn định và phát triển ở khu vực nông thôn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tây Nguyên là vùng đất phía Tây của Nam Trung bộ, gồm 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng; có 12 dân tộc tại chỗ cư trú từ lâu đời (Gia Rai, Êđê, Chu Ru, Raglai, Ba Na, Xơ đăng, Giẻ-Triêng, Brâu, Rơ măm, Mạ, M’nông và Cơ Ho); mỗi dân tộc tại chỗ đều có luật tục riêng, trong đó có những luật tục khá nổi tiếng, như luật tục Êđê, luật tục M’nông, luật tục Gia Rai, luật tục Stiêng, luật tục Ba Na, luật tục Mạ , tạo nên kho tàng đa dạng và phong phú hệ thống luật tục tại đây Dân tộc Êđê hiện nay có 330.000 người, xếp thứ 11 về dân số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đứng thứ hai trong số các dân tộc tại chỗ
ở Tây Nguyên (chỉ sau dân tộc Gia Rai), cư trú chủ yếu và tập trung tại tỉnh Đắk Lắk (gần 300.000 người), một bộ phận (khoảng hơn 30.000 người) cư trú tại vùng giáp ranh thuộc các tỉnh Phú Yên, Đắk Nông, Gia Lai Do cư trú kề cận nhau, có nhiều buôn làng cộng cư từ lâu đời, nên giữa dân tộc Êđê với dân tộc Gia Rai (cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắk Lắk, có số dân đông nhất trong số các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên) và dân tộc M’nông (cư trú tập trung ở tỉnh Đắk Nông và tỉnh Đắk Lắk) có rất nhiều điểm tương đồng trong phương thức sản xuất, canh tác, trong tổ chức xã hội và trong sinh hoạt cộng đồng; nhiều phong tục tập quán thấy ở dân tộc Êđê thì cũng thấy ở người Gia Rai, người M’nông và ngược lại; ba dân tộc này cũng dễ dàng hiểu được ngôn ngữ của nhau và có rất nhiều truyền thuyết chung cho cả
ba tộc người này Điều đó có nghĩa là, ở những phạm vi nhất định, các yếu tố cơ bản
về phong tục, tập quán và luật tục của dân tộc Êđê cũng là sự đại diện cho dân tộc Gia Rai, dân tộc M’nông và thậm chí là nhiều dân tộc tại chỗ khác ở Tây Nguyên Do đó,
có thể nói, là sản phẩm tinh thần, là truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán được đúc kết qua quá trình lịch sử lâu đời của cộng đồng người khá đông đảo, luật tục Êđê được coi là điển hình tương đối của các tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên
Từ những lý do và nhận thức trên đây, chúng tôi chọn đề tài "Luật tục và ảnh
hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam" để nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ Luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận án là nhằm xây dựng và hoàn thiện các giải pháp
để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng không tích cực của
Trang 8luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê (cũng như các dân tộc tại chỗ khác) ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam một cách khả thi và có hiệu quả
- Phân tích cơ sở lý luận về luật tục và ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật
- Phân tích, đánh giá thực trạng luật tục của người Êđê và ảnh hưởng của chúng đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên
- Xác định quan điểm và hệ thống giải pháp bảo đảm việc phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng không tích cực của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc nghiên cứu Luận án được thực hiện trên đối tượng là luật tục của dân tộc Êđê, bao gồm luật tục trong xã hội truyền thống và sự hiện diện, tồn tại của luật tục trong các buôn làng người Êđê hiện nay; nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê hiện nay (các yếu tố ảnh hưởng của luật tục và luật tục Êđê đối với thực hiện pháp luật trong Luận án, được đề cập ở hai phương diện là tích cực và không tích cực)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật, vai
trò của luật tục trong quản lý xã hội trước đây, hiện nay và xu hướng phát triển của thời đại; luật tục của người Êđê và những vấn đề nhằm phát huy vai trò tích cực của luật tục đối với quá trình thực hiện pháp luật, mà cụ thể là được tiến hành thông qua các hình thức cơ bản của thực hiện pháp luật (tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật) và các lĩnh vực quan hệ xã hội chủ yếu (duy trì trật tự cộng đồng, hôn nhân và gia đình, dân sự, hành chính, hình sự, bảo vệ tài nguyên - môi trường ) trong cộng đồng người Êđê
Trang 9Về không gian và thời gian: Luận án được nghiên cứu tại những địa bàn cư trú
lâu đời và tập trung nhất của cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, như đã đề cập trên đây, người Êđê hiện nay cư trú tập trung đông nhất là ở tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông (chiếm đến 92% tổng số người Êđê của cả nước) [5, Biểu 5], do đó Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu ở hai tỉnh này
Việc khảo sát, điều tra xã hội học, chủ yếu thực hiện tại các buôn làng người Êđê sinh sống, trong đó chú trọng đối tượng là người dân, các già làng, những người có uy tín, am hiểu luật tục trong cộng đồng, đặc biệt là những vụ việc áp dụng luật tục cụ thể đã diễn ra và những người có liên quan; việc thu thập tư liệu, số liệu được thực hiện ở các cơ quan, tổ chức có liên quan, chú trọng các ban tự quản,
tổ hòa giải ở khu dân cư của người Êđê
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước và pháp luật; các học thuyết, quan điểm của các nhà tư tưởng tiến bộ khác về nhà nước và pháp luật hiện đại, đặc biệt là về nhà nước pháp quyền, về tập quán pháp và về cơ chế tự quản của cộng đồng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận Mác - Lênin
và các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu: Được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài Luận án, bao gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu về văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên đã được công bố trong và ngoài nước; đặc biệt là sử dụng các tư liệu, số liệu thống kê chính thức, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật hiện hành của Nhà nước, các báo cáo của cơ quan chức năng , để minh chứng cho những luận điểm nghiên cứu của Luận án Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu toàn bộ nội dung Luận án, nhất là Chương I, Chương II và Chương III
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Được chúng tôi coi trọng trong quá trình nghiên cứu trên thực địa, bao gồm các thao tác cơ bản như: Quan sát tham dự, quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Trang 10+ Trong quá trình điền dã, chúng tôi cũng đã sử dụng phương pháp quan sát tham dự và quan sát trực tiếp, để cùng trao đổi, cùng thị sát với người dân để có thể thu thập các thông tin về cuộc sống của họ, trong đó có các thông tin về văn hóa -
xã hội và những vấn đề nhạy cảm có liên quan; để đánh giá các khía cạnh đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên, đặc biệt là dân tộc Êđê - đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
+ Để tiến hành trực tiếp phỏng vấn sâu người dân và cán bộ nơi người Êđê sinh sống, chúng tôi đã lựa chọn các thông tín viên chủ chốt gồm chính những người dân tộc tại chỗ, những người tham gia công tác chính quyền các cấp và các già làng, trưởng buôn làng, người có uy tín trong cộng đồng Nội dung phỏng vấn được chúng tôi chuẩn bị trước bằng Đề cương với những câu hỏi được xây dựng theo nguyên tắc gợi ý để người trả lời có nhiều lựa chọn khi đưa ra quan điểm, ý kiến của mình một cách khách quan nhất về vấn đề được hỏi Những vấn đề chính trong Bảng phỏng vấn sâu đề cập tới là những vấn đề mà bảng hỏi định lượng không thể giải quyết được một cách triệt để hoặc sâu sắc
- Phương pháp điều tra xã hội học: Được thực hiện thông qua Bảng hỏi chuẩn
bị sẵn Nguyên tắc chọn mẫu: Theo phương pháp ngẫu nhiên Trong cơ cấu mẫu có chú ý tới các nhóm đối tượng khảo sát: Nhóm người dân tộc tại chỗ và nhóm người dân tộc mới đến Phương pháp trưng cầu ý kiến: Dùng Bảng hỏi trực tiếp với những người được trưng cầu ý kiến, theo nguyên tắc số phiếu phát ra phải lớn hơn số phiếu
dự kiến thu về ít nhất là 10% Kỹ thuật phân tích và xử lý thông tin, số liệu: Các số liệu định lượng được xử lý bằng công cụ phần mềm hỗ trợ SPSS for Windows; các thông tin định tính được kết hợp phân tích, đối chiếu cùng số liệu định lượng nhằm
bổ sung cho nhau, tăng tính xác thực của thông tin, số liệu thu thập được
Phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp điều tra xã hội học trên đây, được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu Chương III và Chương IV Luận án (Thông tin
cơ bản về thực hiện hai phương pháp nghiên cứu này tại Mục I Phụ lục 06)
- Phương pháp chuyên gia: Được thực hiện qua các cuộc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn về pháp luật và luật tục; những người có nhiều trải nghiệm khi nghiên cứu về văn hóa - xã hội Tây Nguyên, cũng như những đánh giá của họ về tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên đến sự ổn định và phát triển; phương pháp này cũng nhằm thu
Trang 11thập ý kiến của lãnh đạo chính quyền các cấp, các ban, ngành trong việc thực thi chính sách từ Trung ương xuống địa phương, làm cơ sở đối sánh với những thông tin, tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này là sự bổ trợ cho các phương pháp nêu trên đây trong quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung Luận án
5 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định trên đây, Luận án có những kết quả nghiên cứu mới sau đây:
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu cả ở phương diện lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục và ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay
Luận án phân tích làm rõ thêm những vấn đề về luật tục Êđê trong xã hội truyền thống và hiện nay; làm rõ các yếu tố và thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê; chỉ ra những yếu tố, nội dung, phạm vi ảnh hưởng tích cực và không tích cực của luật tục đến thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên
Bên cạnh đó, Luận án đánh giá những nguyên nhân chủ yếu và đưa ra được những quan điểm, giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm từng bước phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng không tích cực của luật tục đến thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án góp phần chỉ
rõ những đặc điểm cơ bản của luật tục, luật tục Êđê và vị trí, vai trò của nó trong điều chỉnh quan hệ cộng đồng; nhận diện mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục Kết quả nghiên cứu của Luận án đưa ra cách nhìn đầy đủ về truyền thống, thói quen tâm lý trong đồng bào dân tộc Êđê nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung; góp phần làm phong phú thêm lý luận nhà nước và pháp luật về mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm xã hội khác; bổ sung cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Trang 126.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần đánh giá thực trạng, rút ra những giá trị tích cực, những mặt hạn chế của luật tục Êđê trong quản lý xã hội trên địa bàn nghiên cứu; tìm ra những giá trị của luật tục cùng những giải pháp khả thi để có thể sử dụng luật tục hỗ trợ cùng pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội vùng nông thôn - cơ sở, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; làm cơ sở cho rà soát, hệ thống hóa, phát huy những quy phạm luật tục phù hợp, đưa vào các hương ước, quy ước khu dân
cư, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và loại bỏ những quy phạm mang tính
hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan đang tồn tại trong luật tục, nâng cao ý thức thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê nói riêng và các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên nói chung
Luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho cán bộ; trong xây dựng chính sách về dân tộc của Đảng và Nhà nước; trong quản lý xã hội, đảm bảo an ninh nông thôn, đưa pháp luật vào cuộc sống vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay và trong những năm tới
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu
luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 131.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1.1 Những công trình nghiên cứu về luật tục, luật tục Êđê và vai trò của luật tục đối với đời sống xã hội
Thứ nhất, trên thế giới, vấn đề luật tục sớm được đề cập tại các nước châu Âu
Đó là sự hiện diện của các tập quán được luật hóa trong luật La Mã, khởi đầu là Bộ luật 12 bảng - vào khoảng năm 450 trước Công Nguyên (Đây là một trong những văn bản luật ra đời sớm nhất và mãi cho đến thế kỷ XIX vẫn được xem là nguồn luật pháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu Âu (ngay các Bộ luật Dân sự hiện đại, như Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Áo cũng hình thành trước tiên
từ Luật La Mã)) [121] Tuy vậy, theo nhiều nghiên cứu, trên thế giới luật tục được giới học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu một cách chính thức kể từ cuối thế kỷ XVIII G Condominas (một nhà nghiên cứu người Pháp) cho biết, chính quyền thực dân trước đây có ý định tập hợp các bài thơ luật tục thành một dạng luật để áp dụng, những người đi đầu vận động cho công việc này có C Van Vollenhoven và
B Ter Haar đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu lớn [112, tr.55-56] Nguyễn Thị Hiền, khi tiếp cận luật tục cũng cho rằng, ở phương Tây luật tục đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX [112, tr.188]
Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về luật tục của các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á, do các nhà
Trang 14nghiên cứu phương Tây thực hiện Cũng theo Nguyễn Thị Hiền, khi thực dân Đức, Pháp và Anh đặt ách đô hộ một số nước ở hai châu lục này, thì một trong những vấn
đề căng thẳng là mâu thuẫn giữa luật bản địa (luật tục) và luật pháp phương Tây và để giải quyết vấn đề này, một số nước đã công nhận luật tục và kết hợp luật tục với luật pháp trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, nhất là các quan hệ dân sự, hôn nhân, và
gia đình [112, tr.188-189] Ở châu Phi, có công trình nghiên cứu: "African Law and
Legal Theory" (Luật châu Phi và lý thuyết pháp luật) của Woodman [160], Gordon R
và A O Obilade, đã đề cập đến nhiều vấn đề về luật tục trong mối tương quan với luật pháp, trong đó phần lớn nội dung đề cập tới bản chất của luật tục châu Phi, luật tục trong hệ thống pháp luật của nhà nước [160] Bên cạnh đó, Ngô Đức Thịnh cho biết
còn có công trình của Y C Bekker: "Luật tục Nam phi", đề cập đến các khía cạnh
quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình, quyền thừa kế, quyền sở hữu [99, tr.17]
Ở châu Á, vốn có nhiều quốc gia chịu sự đô hộ bởi nhà nước thực dân, vấn đề nghiên cứu luật tục được người Anh, người Pháp quan tâm từ rất sớm ở Ấn Độ, Inđônêxia, Malayxia và nhất là ở Việt Nam Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng, công
trình nghiên cứu: "Asian indigenous law in Interaction with Received law" (Luật bản địa châu Á trong mối quan hệ tương hỗ với luật thành văn) của Masaji Chiba
[154], bao gồm nhiều chương viết về luật tục của nhiều dân tộc và quốc gia khác nhau, như người Ai Cập Hồi giáo, Iran Hồi giáo, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật
Bản [99, tr.17-18] Tại Ấn Độ, có công trình: "Luật tục bộ lạc ở Đông Bắc Ấn Độ" của Shinbani Roy và S H M Rizvi; hay "Đất đai công cộng và luật tục" của
Minoti Charcravarty-Kaul, đề cập đến vấn đề sở hữu đất đai theo luật tục ở Bắc Ấn Độ Inđônêxia và Malayxia là hai quốc gia hiện còn sử dụng luật tục trong đời sống thường ngày của nhiều dân tộc, nên đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu đến từ Hà Lan (Von Benda-Beckmann K và Von Benda-Beckmann F), Mỹ
(John Ambler) [99, tr.18], tiêu biểu có tác phẩm ADAT Law in modern Indonesia
(Luật ADAT ở Inđônêxia hiện nay) của M B Hooker [153]
Các nhà khoa học Việt Nam cũng có những nghiên cứu luật tục của các nước
trong khu vực, như tác phẩm: "Một số luật tục và luật cổ ở Đông Nam Á" của Vũ
Quang Thiện, Tô Nguyễn [97] (sưu tầm, biên dịch và giới thiệu: Luật tục của người Chin (ở Myanma và một phần đất tiếp giáp ở Ấn Độ) Ka-chin (ở Myanma và một phần đất tiếp giáp ở Trung Quốc); Bộ luật Lào cổ; Bộ luật Luông Pha-băng của
Trang 15người Lào; Bộ luật hôn nhân và thừa kế của người Gia-va Hồi giáo ở Malayxia và
Inđônêxia) [97] Công trình: "Family law and Customary Law in Asia: A contemporary
Legal Perspective" (Luật gia đình và Luật tục ở châu Á: Một góc nhìn pháp lý hiện
nay) của David C Buxbaum [145] đã nghiên cứu một cách hệ thống về luật gia đình và luật tục của nhiều quốc gia châu Á đặt trong mối quan hệ với pháp luật đương đại; và
công trình: "The Nature of Customary Law - Legal, Historical and Philosophical
Perspectives" (Bản chất của Luật tục - Quan điểm pháp lý, lịch sử và triết học) của
Amanda Perreau - Saussine và James B Murphy [144], nghiên cứu về bản chất của luật tục trên cơ sở các quan điểm pháp lý, lịch sử và triết học
Thứ hai, ở Việt Nam, với đặc điểm có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên đa
dạng về phong tục tập quán, đặc biệt là có rất nhiều luật tục được hình thành từ lâu đời và tồn tại với tính ổn định cao; cùng với đó, với lịch sử gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ, nên việc nghiên cứu luật tục của các dân tộc ở vùng đất này (gồm cả hương ước của người Việt) đã được người Pháp và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khác quan tâm từ đầu thế kỷ XX cho đến nay Tiêu biểu như:
Một là, ở góc độ luật học ứng dụng: Ngày 30/7/1923, Toàn quyền Đông
Dương Pierre Pasquier ra Thông tri số 578-ca, yêu cầu thu thập và ghi chép luật tục
để thực thi việc cai trị, kể cả ở người Kinh và các dân tộc thiểu số [99, tr.20], [112, tr.65] Việc ban hành Thông tri này thể hiện sự quan tâm chính thức của chính quyền thực dân, tuy nhiên, thực tế từ năm 1913, Leopold Sabatier (Ông sinh năm
1877, mất năm 1936, được bổ nhiệm làm đại diện tại Đắk Lắk năm 1912, sau đó làm Công sứ tỉnh này trong gần 14 năm (từ 1915 đến 1929)) đã để công sưu tầm, hệ thống luật tục và đến năm 1927 cho công bố cuốn sách ghi chép luật tục bằng tiếng Êđê (Hdruôm hră klei duê klei bhiăn đưm) [151] (Đến năm 1940, Dominique Antomarchi đã dịch cuốn sách này ra tiếng Pháp và công bố thành cuốn: "Recueil des Cutumes Rhadies du Daclac" So với cuốn xuất bản năm 1927, cuốn sách này
có bổ sung hoàn chỉnh hơn, nội dung ghi chép các luật tục của người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk, thực chất là các câu nói vần truyền miệng về: Các điều chung về tội, về hình phạt; tội chống lại thủ lĩnh, các tội mà thủ lĩnh phạm phải, tội phạm với các cá nhân, tội trong hôn nhân, tội hình về tranh chấp của cải, đất đai ) Tuy chưa thật hoàn chỉnh và có nhiều nội dung biên soạn theo ý chí của tác giả nhằm mục đích phục vụ việc cai quản của chính quyền do chính Ông làm Công sứ, nhưng có thể
Trang 16nói, đây là công trình sưu tầm, hệ thống và ứng dụng đầu tiên về luật tục ở Việt Nam, nó có vai trò mở đầu cho các các công trình nghiên cứu luật tục ở Việt Nam
và chủ yếu là ở Tây Nguyên sau này
Sau cuốn luật tục Êđê của Leopold Sabatier, có các tác phẩm nghiên cứu luật
tục ở Việt Nam và chủ yếu ở Tây Nguyên, như: "Coutumier Stieng" (Luật tục Stiêng) của Theophile Gerber [159] đã ghi chép nội dung luật tục Stiêng "Nri:
Recueil des Coutumes Srê du Haut-Donnai" (Luật tục xét xử theo phong tục tập
quán của người Srê và người Mạ vùng thượng nguồn sông Đồng Nai) của Jacques Dournes [149] đã ghi chép bằng tiếng Srê và dịch sang tiếng Pháp luật tục xét xử theo phong tục tập quán của người Srê và người Mạ vùng thượng nguồn sông Đồng
Nai "Coutumier de la tribu Bahnar, des Sedang et des Gia Rai de la Province de
Kontum Selon la Coutume appliquée dans les tribunnax" (Luật tục của bộ lạc Bana,
Xơ đăng và Gia rai ở tỉnh Kon Tum, theo luật tục áp dụng trong các toà án) của Paul Guilleminet [156] dẫn ra và bình luận những luật lệ tương ứng mà chính quyền
thực dân Pháp sử dụng "Quelques aspects du coutumier (N’ri) des Cau Mae" (Một
vài khía cạnh về luật tục (N’ri) của người Mạ) của Jean Boulbet [150] nói về luật
tục Mạ "Tơ lơi djuat: coutumier de la tribu Gia Rai" (Tơ lơi djuat: luật tục của bộ
lạc Gia Rai) của Pierre Bernard Lafont [157] đã ghi chép tương đối đầy đủ và trực tiếp từ những người có hiểu biết về luật tục của dân tộc Gia Rai ở tỉnh Gia Lai
Hai là, ở góc độ xã hội học và nhân học pháp luật: tác phẩm: "Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII" của Insun Yu [143], chỉ ra sự khác biệt giữa nguyên
lý Nho giáo mà triều Lê nâng lên địa vị thống trị với những phong tục tập quán lâu
đời của truyền thống văn hóa Việt Nam Tác phẩm: "Xứ người Mạ lãnh thổ của
thần linh" của Jean Boulbet [42], nghiên cứu về luật tục của dân tộc Mạ và các dân
tộc thiểu số khác ở tỉnh Đồng Nai và vùng Tây nguyên Công trình: "Les peuples
Mon-Khmer, trait d’union antre les peuples de l’Asie Centrale et de l’Austronésie"
(Các dân tộc Môn-Khmer, gạch nối giữa các dân tộc của châu Á Trung tâm và châu Úc) của P W Schmidt [155] nghiên cứu và chỉ ra có sự liên hệ và nhiều điểm tương đồng giữa các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (Ở Việt Nam có đến 21 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, cư trú ở cả ba miền: Miền Bắc
có 5 tộc người, trong đó, 4 tộc người (Khơ Mú, Mảng, Kháng, Xinh Mun) cư trú ở các tỉnh Tây Bắc, tộc người Ơ Đu ở Nghệ An; Miền Trung - Tây Nguyên có 15 tộc người (Bru - Vân Kiều, Tà ôi, Cờ Tu, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, H Rê, Gié Triêng,
Trang 17Xtiêng, Co, Chơ Ro, Rơ Măm, Brâu); Nam Bộ là địa bàn cư trú của tộc người Khmer Các tộc người này đều có lịch sử lâu đời ở Việt nam và Đông Dương Bên cạnh đặc điểm chung về ngữ hệ, mỗi tộc người có những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán và cả luật tục riêng [2]) của châu Á và các dân tộc ở châu Úc Tác
phẩm điền dã: "Chúng tôi ăn Rừng đá - Thần Gôo" của G Condominas [41] về
những phong tục tập quán của người M’nông Gar ở Tây nguyên Công trình:
"Người Êđê một xã hội mẫu quyền" của Anne de Hautecloque - Howe [54] đã có
cách nhìn thực tế về người Êđê ở Tây Nguyên trong bối cảnh đời sống xã hội, tôn giáo, gia tộc, khế ước hôn nhân và đặc biệt là xã hội mẫu quyền điển hình nhất của dân tộc này, là kết quả của tác giả qua 14 tháng (tháng 4/1961 đến tháng 6/1962) đi điền dã ở Đắk Lắk, nên có thể nói đây là một trong những công trình rất có giá trị
và có tính đại diện cao về phản ánh phong tục tập quán cũng như luật tục của người
Êđê ở Tây Nguyên Các tác phẩm: "Rừng người thượng" của Henri Maitre [61];
"Free in the Forest Ethnohistory of the Vietnamese Central Highland 1954-1976"
(Tự do trong rừng Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam 1954-1976) của
Gerald Hickey [146]; "Sons of the Mountains Ethnohistory of the Vietnamese
Central Higlands to 1954" (Những đứa con của núi rừng Lịch sử tộc người ở Tây
Nguyên Việt Nam cho đến năm 1954) của Gerald Hickey [147]; "Shatted World
Adaptation and Survival among Vietnam’s Highland Peoples during the Vietnam War" (Một thế giới bị chia cắt Thích ứng và sinh tồn của các tộc người cao nguyên
trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam) của Gerald Hickey [148] , đã giúp chúng ta có thêm khám phá về vùng Tây Nguyên, với những phong tục tập quán và luật tục đa dạng, phong phú của các cộng đồng người dân tộc thiểu số tại chỗ ở vùng đất này
Phạm Văn Sơn, với Luận án Tiến sĩ: "Research on village covenants in Vietnamese
rural communities management" (Nghiên cứu về hương ước thôn bản trong quản lý
cộng đồng nông thôn Việt Nam) của Pham Van Son [158] đã nghiên cứu về luật tục, luật dân gian, hương ước ở Việt Nam dưới góc độ của nhân loại học và xã hội học pháp luật, qua đó đã chỉ ra vai trò của hương ước cùng các phong tục tập quán
và luật tục đối với quản lý trong xã hội nông thôn; mối quan hệ giữa pháp luật với hương ước và luật tục, phong tục tập quán cùng xu hướng phát triển của chúng
Ba là, với các nhà nghiên cứu trong nước, cho đến nửa cuối thập niên 80 của
thế kỷ XX, trong đợt sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian của Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đắk Lắk, vấn đề luật tục
Trang 18mới được quan tâm đề cập Trong các cuốn sách: "Văn hóa dân gian Êđê" của Ngô Đức Thịnh, Tô Đông Hải và Đỗ Hồng Kỳ [101] và "Văn hóa dân gian M’nông" của
Ngô Đức Thịnh, Tô Đông Hải và Đỗ Hồng Kỳ [102] - là các kết quả của đợt sưu tầm, ngoài các nội dung phản ánh về lịch sử, bản sắc văn hóa tộc người Êđê, M’nông, mỗi cuốn sách đều có một chương viết về luật tục của hai dân tộc này Tiếp theo đó là các công trình do Ngô Đức Thịnh chủ trì thực hiện, như: Bổ sung,
biên dịch và công bố bộ: "Luật tục Êđê - tập quán pháp" [103; 104], nội dung giới
thiệu có hệ thống và đầy đủ về luật tục trong xã hội Êđê truyền thống; năm 1998,
công bố: "Luật tục M’nông - tập quán pháp" [108] giới thiệu về luật tục trong xã hội M’nông; năm 2004, xuất bản tác phẩm "Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Nam
Tây Nguyên" [105] trên cơ sở bổ sung các bộ luật tục đã được người Pháp sưu tầm,
giới thiệu nội dung các văn bản luật tục các dân tộc Xtiêng, dân tộc Mạ, và dân tộc
Kơ ho; công trình: "Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam" [99]; "Luật tục
trong đời sống các tộc người ở Việt Nam" [100] đã khảo sát các khía cạnh khác
nhau của luật tục như góc độ tiếp cận, nguồn gốc và bản chất, các hình thức phát triển, nội dung luật tục, việc thực thi luật tục, giá trị của luật tục, luật tục và pháp luật; giới thiệu luật tục Êđê, M’nông ở Tây Nguyên, luật tục Thái ở phía Bắc và
hương ước của người Kinh Phan Đăng Nhật với các công trình: "Luật tục Gia Rai" [69]; "Luật tục với đời sống" [70] đã luận giải luật tục các dân tộc Việt Nam, đặc
biệt giới thiệu về xã hội, luật tục dân tộc Gia Rai ở Gia Lai; luật tục và các quy ước văn hóa; luật tục với việc phát triển xã hội hiện nay của các dân tộc thiểu số Việt
Nam "Luật tục người K’ho Lạch" của Krajan Plin [73], giới thiệu về văn hóa xã hội
và luật tục của người K’ho Lạch ở tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Nông
Vượt ra ngoài không gian các tỉnh Tây Nguyên là các công trình nghiên cứu về luật tục của dân tộc Chăm và dân tộc Raglai ở các tỉnh Nam Trung bộ Có thể nói Phan Đăng Nhật, Tô Đông Hải, Nguyễn Thế Sang, Sử Văn Ngọc và Sử Thị Gia Trang , là những người Việt Nam có công nghiên cứu về cộng đồng người Chăm, người Raglai
và văn hóa, luật tục của hai tộc người này [68; 71; 72; 79] Bùi Quang Thanh, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Hữu Thông cũng đã có những nghiên cứu
về đặc điểm các dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực miền núi các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị (các dân tộc Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng và Co ở Quảng Nam;
Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị) [62; 91; 92]
Trang 19Ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, việc nghiên cứu và sưu tầm luật tục của các dân tộc thiểu số chưa được quan tâm như ở khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Năm 1999, Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng chính thức công bố bộ luật tục Thái (xuất bản lần 2 vào năm 2003), đây là bộ luật tục đầy đủ nhất cho tới nay của dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam, được người Thái ghi chép lại bằng chữ Thái cổ [106; 107]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong các dân tộc ở Việt Nam
Thứ nhất, đối với luật tục của các dân tộc thiểu số: Trong những năm gần đây, khi
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật, các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến những yếu tố có tính thực tiễn Đặc biệt, gần đây nhất có một loạt đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 đã được nghiệm thu, nghiên cứu tổng thể về các lĩnh vực khác nhau, nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, trong đó có rất nhiều đề tài có nội dung nghiên cứu về vai trò và sự ảnh hưởng của luật tục các dân tộc đối với quản lý xã hội ở vùng Tây Nguyên hiện nay (chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn về các đề tài này tại Mục 1.1.3)
Trong thực tiễn ở nước ta, sau khi có Nghị quyết Trung ương 05 Khóa VII (1993) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), vấn đề quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật cũng như vai trò của luật tục, hương ước với quản lý
và phát triển nông thôn ở cơ sở được đặc biệt quan tâm nghiên cứu trên khắp cả nước, nhiều hội thảo khoa học về vấn đề này đã được tổ chức ở Tây Nguyên [23; 24] Khởi
đầu là Hội thảo khoa học về "Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện
hành" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp [136] Hội thảo thu hút sự
tham gia của 10 tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Miền Trung - Tây Nguyên và có 13 bài phát biểu cùng tham luận được trình bày Các ý kiến thống nhất cho rằng cần nghiên cứu, sử dụng luật tục và hương ước vào quản lý cộng đồng và phát triển nông thôn ở cơ
sở, góp phần tăng cường tình đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tiếp theo là một loạt các hội thảo, đề tài, công trình khoa học được triển khai, nghiên cứu trên khắp cả nước và tập trung nhất là tại khu vực Tây Nguyên - Trung bộ
và khu vực Miền núi phía Bắc, tiêu biểu có:
Một là, ở khu vực Tây Nguyên và Trung bộ: Năm 1999, Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn Quốc gia và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đắk Lắk phối hợp tổ
chức Hội thảo khoa học quốc tế về "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở
Trang 20Việt Nam" [112] với sự tham gia của 40 nhà khoa học trong nước và 18 nhà khoa
học nước ngoài đến từ Pháp, Mỹ, Hà Lan, Inđônêxia, Thuỵ Sỹ, Đức, Nhật Bản và đại diện các Bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương trên phạm vi cả nước (Hội thảo nhận được hơn 60 báo cáo khoa học trong và ngoài nước, tập trung vào 4 chủ
đề lớn: Có 11 báo cáo tham luận đề cập các vấn đề chung về luật tục và nghiên cứu luật tục; 15 báo cáo tham luận đề cập các vấn đề về luật tục với việc bảo tồn, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên; 17 báo cáo tham luận đề cập về luật tục và vấn
đề quản lý xã hội và văn hóa ở cơ sở; 16 báo cáo tham luận đề cập các vấn đề về luật tục và pháp luật) Hội thảo nhận định luật tục là sản phẩm của xã hội cổ truyền, gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội tiền công nghiệp, gắn với cơ cấu xã hội mà ở
đó gia đình và buôn làng giữ vai trò then chốt và cơ bản của hệ thống xã hội; luật tục đã từng phát huy vai trò cố kết cộng đồng và điều hòa các mối quan hệ giữa con người với con người và con người với thiên nhiên; hiện nay, vùng nông thôn nước
ta đang trải qua sự biến đổi từ xã hội cổ truyền sang xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh đó, sự tồn tại của luật tục với những hình thức khác nhau, mức độ khác nhau trong các tộc người là một thực tế khách quan; tuy vậy, sự tồn tại của luật tục trong bối cảnh hiện nay luôn thể hiện hai mặt, mặt tích cực là góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và đó là mặt cơ bản, mặt không tích cực là không phù hợp, thậm chí kìm hãm sự tiến bộ xã hội hiện nay [112]
Tiếp đến, năm 2001, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia phối
hợp với UBND tỉnh Gia Lai tổ chức thành công Hội thảo: "Luật tục - Hương ước và
những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên" [113]
có hơn 100 đại biểu tham dự, là các nhà khoa học và các nhà quản lý của các cơ quan Trung ương, các tỉnh khu vực Tây Nguyên và Trung bộ Có 30 báo cáo khoa học được trình bày, tập trung vào ba chủ đề chính: Tổ chức buôn làng và vai trò của buôn làng trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng hiện nay ở Tây Nguyên; Luật tục - hương ước và vai trò của nó trong quản lý cộng đồng buôn làng; Một số cơ chế, chính sách trong phát triển kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên Hội thảo cũng cho rằng cần củng cố và phát triển toàn diện buôn làng, coi đó như là tổ chức xã hội cơ sở để phát triển kinh tế, tổ chức và quản lý xã hội, bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa, đảm bảo an ninh chính trị ở nông thôn các dân tộc Tây Nguyên [113]
Trang 21Ngày 23/4/2005, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đã phối hợp với Trường Đại học Đà Lạt tổ chức Hội thảo về chủ đề "Luật tục với thi hành pháp luật" [20] Tham gia Hội thảo có các nhà nghiên cứu luật học,
xã hội học, dân tộc học, đại diện một số cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý Nhà nước, một số già làng và sinh viên luật (Hội thảo đã nghe 8 báo cáo tham luận và thảo luận về những vấn đề: Khái niệm, khái luận về luật tục; vị trí và vai trò của luật tục trong mối quan hệ với pháp luật, quản lý xã hội vĩ mô và vi mô; sự hình thành
và vai trò của luật tục trong sinh hoạt và quản lý cộng đồng của dân tộc K’ho, Chăm
và một số dân tộc ở Tây Nguyên; vận dụng tục lệ trong xét xử; vai trò của hoà giải qua cơ chế luật tục trong giải quyết tranh chấp và quản lý cộng đồng ở một số cộng đồng dân tộc ít người; sự cần thiết của nghiên cứu luật tục để tiếp thu bổ sung, hoàn thiện các dự án lập pháp, lập quy để tăng cường tính khả thi của pháp luật; về việc xây dựng và thực hiện giảng dạy luật tục ở Trường Đại học Đà Lạt) Một trong những nội dung được Hội thảo thừa nhận, đó là giá trị xã hội của luật tục, khi cho rằng xã hội ngày càng phát triển, vai trò của pháp luật càng lớn, càng tạo tiền đề cho
nó chuyển dần sang sự thực hiện mang tính tự quản; luật tục, ở một phạm vi nhất định cũng có vai trò, giá trị xã hội quan trọng như pháp luật là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, duy trì và đảm bảo trật tự cộng đồng [20]
Về vai trò và ảnh hưởng của luật tục đối với sự vận hành thiết chế tự quản
buôn làng, trong cuốn: "Buôn làng cổ truyền xứ Thượng" của Lưu Hùng [55] cho
thấy luật tục của các tộc người Tây nguyên đã từng bị thách thức nghiêm trọng dưới tác động của những chính sách cai trị trước năm 1975 (Sau khi xâm chiếm vùng cao nguyên, người Pháp đã thay thế tòa án phong tục bằng tổ chức tòa án và hệ thống luật pháp quốc gia, từ tháng 6/1929, tòa án phong tục được chính quyền thuộc địa thừa nhận trở lại; đến chính quyền Ngô Đình Diệm lại bãi bỏ tòa án phong tục và thay vào đó là pháp luật chung, do đó đã bị dân chúng chống đối mạnh mẽ; đến tháng 7/1969, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận tái lập tòa án phong tục) Và sau năm 1975 đến nay, vị trí của người thủ lĩnh buôn làng và vai trò của thiết chế tự quản buôn làng cổ truyền có phần giảm sút [55, tr.183, 252]
Ngoài ra, năm 2007, Trương Bi và cộng sự còn xuất bản cuốn sách: "Vận dụng
luật tục M’nông vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa" [6] và cuốn sách:
"Vận dụng luật tục Êđê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa" [8] đã
Trang 22phân tích những yếu tố tích cực của luật tục, đưa ra các chỉ dẫn thực hành nhằm vận dụng luật tục M’nông, luật tục Êđê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa
Trong cuốn: "Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây
Nguyên" của Bùi Minh Đạo [27] đã nêu ý kiến đề nghị cần tôn trọng và kế thừa
những truyền thống xã hội của buôn làng trong xây dựng buôn làng mới, vì những truyền thống đó vẫn đã và đang tồn tại; ngành tư pháp và tòa án cần nghiên cứu để
có phương án phù hợp nhằm kết hợp hài hòa luật pháp và tòa án nhà nước với luật tục và tòa án phong tục ở các buôn làng Tây Nguyên; thực sự tôn trọng, tôn vinh, tranh thủ và thu hút già làng vào xây dựng buôn làng mới bằng những chính sách thiết thực và cụ thể [27, tr.211] Trương Tiến Hưng có các công trình nghiên cứu khái quát về luật tục và nội dung cơ bản của luật tục dân tộc Chăm; những giá trị cơ bản của luật tục và những khả năng vận dụng luật tục trong quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở và ở tỉnh Ninh Thuận [56; 57] Vi Văn Sơn với Luận án Tiến sĩ Luật học, đã có sự phân tích giá trị xã hội của luật tục người Thái hiện nay và thực trạng vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam [80] Cũng với Luận án Tiến sĩ Luật học, Nguyễn Thị Vân Anh đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên [1] Bùi Hồng Quý, cũng đã thực hiện thành công Luận văn Thạc sĩ Luật học về sự ảnh hưởng của luật tục trong thực hiện pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số và những khả năng vận dụng luật tục trong quản lý
cộng đồng ở các tỉnh Tây Nguyên [77]
Hai là, ở khu vực phía Bắc: Năm 1997, trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp
Bộ, Bùi Xuân Trường và cộng sự đã có những nghiên cứu cơ bản về luật tục của dân tộc Thái và dân tộc H’mông ở Tây Bắc Việt Nam, trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật như hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và quản lý xã hội ở cơ sở [118] Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, cũng có sự quan tâm,
tổ chức Hội thảo khoa học tại Lào Cai vào năm 1999, nghiên cứu về mối quan hệ giữa luật tục của các dân tộc ở miền núi phía Bắc và pháp luật, nhằm vận dụng vào
quản lý cộng đồng ở nông thôn - cơ sở [137]; Hội thảo khoa học "Vai trò và ảnh
hưởng của hương ước, quy ước trong việc bảo vệ môi trường - Thực trạng và giải pháp" [133] Năm 2011, Trung tâm Tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và Phát
Trang 23triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) có đề tài nghiên cứu trong cộng đồng người Dao ở tỉnh Lào Cai và người Thái ở tỉnh Điện Biên, nhằm tìm hiểu và phân tích các luật tục, phát hiện các bất cập giữa luật tục và chính sách, pháp luật của nhà nước trong quản lý, sử dụng tài nguyên rừng và nước Đề tài khuyến nghị để pháp luật thi hành nghiêm và hiệu quả, thì các văn bản pháp luật cần tính đến tính đặc thù của luật tục và cần coi cộng đồng dân cư là đối tượng điều chỉnh, thừa nhận những yếu tố tích cực của luật tục; cần có những nghiên cứu sâu, đồng bộ và đánh giá đầy đủ luật tục của các cộng đồng thiểu số nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của nguồn tri thức này; chú trọng nâng cao vai trò, vị trí của già làng, trưởng tộc, đồng thời nâng cao nhận thức cho người dân về các chính sách, pháp luật của Nhà nước [117] Dương Tuấn Nghĩa với Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, đã nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò tri thức dân gian và luật tục trong khai thác, bảo vệ tài nguyên rừng của người Hà Nhì Đen, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai [66]
Thứ hai, đối với hương ước của người Việt: Bên cạnh nghiên cứu luật tục của
các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu hương ước của người Việt (một dạng luật tục thành văn) có ý nghĩa về nhiều mặt, nên từ các thập kỷ giữa thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa dân gian, sử học, xã hội học của Việt Nam đã có sự quan tâm Công trình có tính chất tổng hợp và quan trọng đầu tiên, là năm 1991 Viện Thông tin khoa học xã hội đã tập hợp và công bố Thư mục hương ước Việt Nam (thời kỳ cận đại) với khoảng 6.000 tên bản hương ước [109] Gần đây dần xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu rất có giá trị về hương ước, như: Bùi Xuân Đính
với các tác phẩm: "Lệ làng phép nước" [32]; "Hương ước và quản lý làng xã" [33]
và Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Lịch sử: "Về một số hương ước làng Việt ở đồng
bằng Bắc Bộ" [34], đã nêu giá trị pháp lý, những tác động tích cực và không tích
cực trong xã hội Lê Đức Tiết sưu tầm các sử liệu từ những bản hương ước cổ; phân tích giá trị của hương ước trong điều chỉnh các mối quan hệ làng xã [81] Ngô Đức Thịnh nghiên cứu giá trị của luật tục các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt [99; 100] Đào Trí Úc và cộng sự, Trương Thìn đã có những nghiên cứu mối quan hệ hương ước với pháp luật và trong thực hành, phát huy dân chủ ở nông thôn hiện nay [98; 125] Nguyễn Hữu Thông và cộng sự đề cập về đặc trưng của làng xã
và hương ước trong đời sống cộng đồng ở các tỉnh Bắc miền Trung [110] Vũ Duy Mền nghiên cứu vai trò của hương ước đối với đời sống cộng đồng làng xã [63]
Trang 24Nguyễn Huy Tính với Luận án Tiến sĩ Luật học [58] và Nguyễn Thị Quế Hương với Luận án Tiến sĩ Triết học [82] nghiên cứu biến đổi từ hương ước cổ đến hương ước mới, khẳng định hương ước là công cụ tự quản hữu hiệu của các cộng đồng dân cư,
có quan hệ biện chứng với pháp luật
Nghị quyết số 05-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ngày 10/6/1993, với chủ trương khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn, xã; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) xác định thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân, trong
đó có làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở [23; 24]; ngày 19/6/1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư Với các văn bản này, hương ước nói riêng và luật tục, phong tục tập quán nói chung không chỉ dừng ở việc nghiên cứu, mà đã trở lại,
đi vào đời sống, tiếp tục phát huy những giá trị tích cực trong đời sống xã hội thường nhật, được Đảng và Nhà nước thừa nhận, nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia xây dựng, bảo tồn và thực hiện với tinh thần tự giác cao
1.1.3 Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng dân tộc Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên
Như đã đề cập, các vấn đề liên quan đến luật tục, luật tục Êđê ở Tây Nguyên được các nhà chức trách, nhà khoa học liên tục quan tâm nghiên cứu suốt hơn một thế kỷ qua Gần đây nhất, có một loạt các đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 - Mã số: KHCN-TN3/11-15 đã được nghiệm thu, nghiên cứu tổng thể về các lĩnh vực nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, có không ít
đề tài với nội dung nghiên cứu sâu về vai trò và sự ảnh hưởng của luật tục các dân tộc đối với quản lý xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc
Êđê, như: Đề tài: "Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây
Nguyên" [132_ENREF_132]; Đề tài: "Vai trò của văn hóa và lối sống trong phát
triển bền vững Tây Nguyên" [139]; Đề tài: "Quan hệ tộc người và chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong phát triển bền vững Tây Nguyên" [129]; Đề
tài: "Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên" [119]; Đề tài: "Xây dựng luận cứ khoa học cho việc bổ sung và đổi mới hệ thống thể chế phát
triển bền vững Tây Nguyên" [115]; Đề tài: "Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông
Trang 25thôn trong phát triển bền vững Tây Nguyên" [142]; Đề tài: "Vai trò của một số nhóm xã hội của các dân tộc tại chỗ trong phát triển bền vững Tây Nguyên" [135];
Đề tài: "Các giá trị phát triển cơ bản của vùng Tây Nguyên và xác định các quan
điểm, định hướng, giải pháp phát triển bền vững Tây Nguyên" [114]; Đề tài: "Vai trò của một số định chế xã hội phi chính thức đối với sự phát triển bền vững Tây Nguyên" [124]
Có thể nói, sự quan tâm của đông đảo các Đề tài cấp Nhà nước trên đây đã khẳng định giá trị, tầm quan trọng, vai trò và sự ảnh hưởng của luật tục đối với quản
lý xã hội và thực hiện pháp luật trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc Êđê ở Tây Nguyên hiện nay Tổng hợp các phát hiện nghiên cứu, các kết quả phân tích từ điều tra, khảo sát, tư liệu về thực trạng luật tục ở Tây Nguyên, tổng kết các đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 trên đây đã đưa ra những kết luận có liên quan về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng các dân tộc tại chỗ và dân tộc Êđê ở Tây Nguyên: Đề tài TN3/X04 nhận định cấu trúc
xã hội hiện nay ở Tây Nguyên chưa kết hợp hài hòa giữa truyền thống (luật tục) và hiện đại (pháp luật); vai trò của khua buôn (trưởng buôn), hội đồng làng và những già làng chưa được xem trọng và phát huy ; các nguyên tắc quản trị cộng đồng và
an sinh xã hội trên nền tảng của luật tục chưa được chú ý; cán bộ các cấp chưa lưu tâm nhiều đến tri thức "bản địa", nên đôi lúc đã áp đặt những quan điểm không phù hợp với nhận thức, với tâm tư nguyện vọng, với văn hóa, lối sống truyền thống của cộng đồng, giữa pháp luật của Nhà nước và luật tục của địa phương [139, Điểm 4.1, Mục II, Chương Hai của Tài liệu (Tài liệu gốc không đánh số trang)] Đề tài TN3/X07 nhận xét trong số các giá trị văn hóa tiêu biểu này, văn hóa luật tục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ của Tây Nguyên, thậm chí tại nhiều cộng đồng tác động của luật tục đôi khi còn cao hơn pháp luật; cũng chính vì thế, trong quá trình phát triển, đôi khi việc thực thi các quy định của pháp luật có sự khác biệt với luật tục truyền thống của người dân; điều này đòi hỏi cán bộ thực thi pháp luật, nhất là cán bộ cấp xã phải am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán của người dân; từ đó, có các biện pháp tuyên truyền, vận động phù hợp để người dân có thể hiểu và tuân thủ theo các quy định pháp luật cũng như dần dần thay đổi các phong tục, tập tục lạc hậu [119, tr.195] Đề tài TN3/X09 cho rằng luật tục là một loại thể chế cộng đồng quan trọng của các tộc người Tây
Trang 26Nguyên; nói đến luật tục tức là nói đến phong tục, tập quán đã hình thành trong nhiều năm, trong nhiều thế hệ, đồng bào nói rằng, luật tục là "ông bà để lại cho"; đến nay, cùng với pháp luật của Nhà nước, luật tục vẫn tồn tại và có một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; ở mỗi dân tộc thiểu số khác nhau có luật tục riêng, thể hiện bản sắc, đặc trưng riêng của dân tộc mình [115, tr.185] Báo cáo Tổng kết Chương trình khẳng định thiết chế
tự quản cộng đồng, hay thiết chế già làng là giá trị văn hóa xã hội đặc trưng, tiêu biểu của Tây Nguyên; luật tục được coi là giá trị văn hóa xã hội đặc trưng, tiêu biểu ở Tây Nguyên có vai trò như một loại luật pháp sơ khai [131, tr.145-146]
Như đã đề cập trên đây, luật tục Êđê lần đầu tiên được Leopold Sabatier, viên Công sứ Pháp tại tỉnh Đắk Lắk để công sưu tầm, ghi chép, hệ thống hóa và cho công bố vào năm 1927 Sau này, các nhà dân tộc học gồm Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu đã dựa trên văn bản luật tục Êđê của Leopold
Sabatier và tham khảo các điều luật tục mới sưu tầm được soạn thành cuốn: "Luật
tục Êđê - tập quán pháp" [104] Ấn phẩm này được Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia xuất bản năm 1996 và được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản lần thứ hai vào năm 2012 Trong lời giới thiệu của ấn phẩm này, các soạn giả đã đánh giá cao giá trị của luật tục đối với việc nghiên cứu tộc người trong xã hội cổ truyền và phần nào cả trong xã hội hiện đại Như vậy, những người Việt Nam tiên phong và có nhiều thành công trong nghiên cứu luật tục Êđê, đó là Ngô Đức Thịnh và các cộng
sự của Ông Ngoài cuốn sách: "Luật tục Êđê" nêu trên đây, trong các công trình được công bố khác, Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng luật tục Êđê có giá trị về khá nhiều mặt, một trong số đó là tri thức dân gian về quản lý cộng đồng [99, tr.130] Ông cũng cho rằng hiện nay luật tục Êđê còn đang phát huy vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệ xã hội tại các buôn làng dân tộc, có khá nhiều điều ở luật tục vẫn còn phù hợp với xã hội hiện tại, nhưng cũng có những quy định đã thực sự lỗi thời, cản trở sự tiến bộ và phát triển ở cộng đồng Êđê [99, tr.139], [104, tr.49]; hiện nay mô hình tòa án phong tục theo truyền thống dần được chuyển hóa sang tổ hòa giải và đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trên cơ sở kết hợp luật tục và không đi ngược với pháp luật [99, tr.141-142], [104, tr.51]
Ở phương diện nghiên cứu ứng dụng luật tục Êđê trong quản lý cộng đồng
hiện nay, có cuốn sách: "Luật tục Êđê về bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước" của
Trang 27Trương Bi và cộng sự [7] Những nội dung được nêu trong cuốn sách này, bên cạnh khai thác những điều có sẵn trong luật tục cổ truyền còn được bổ sung những điều mới được sưu tầm ở các buôn làng dân tộc Êđê về bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, động thực vật quý hiếm của núi rừng; cảnh báo về sự tàn phá của con người đối với tài nguyên của núi rừng và đề xuất cần phát huy vai trò của luật tục Êđê để bảo vệ các nguồn tài nguyên này [7, tr.4-5] Tiếp đó, Trương Bi và cộng sự còn có cuốn
sách: "Vận dụng luật tục Êđê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa" [8],
trên cơ sở kết quả vận dụng luật tục Êđê vào việc quản lý, xây dựng đời sống văn hóa mới ở một số buôn làng, được sưu tầm biên soạn lại, biên dịch thành song ngữ Êđê - Việt dưới dạng lời nói vần để thuận lợi cho công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện
Đề cập đến già làng - một chủ thể không thể thiếu trong luật tục và thực hành
luật tục, có: "Tây Nguyên - nét độc đáo của văn hóa truyền thống các dân tộc" của Nguyễn Minh Thắng, Nguyễn Thị Thanh [95]; "Già làng Tây Nguyên" của Linh Nga Niê Kđăm [59]; "Vai trò của già làng trong đời sống xã hội hiện nay ở huyện
Krông Nô, tỉnh Đắk Nông" của Đào Huy Quyền [78] Các nghiên cứu này chủ yếu
đề cập về thiết chế tự quản buôn, làng, vai trò của già làng và các luật tục các dân tộc tại chỗ và dân tộc Êđê ở Tây Nguyên
Gần đây nhất, trong cuốn: "Luật tục Ê Đê, một nền tư pháp hòa giải: Những
giá trị xã hội và sự biến đổi" của Trương Thị Hiền [47] đã khảo sát, nghiên cứu rất
công phu nền tảng giá trị xã hội và sự biến đổi của luật tục Êđê với tính chất vừa là kết quả của sự thay đổi về đời sống kinh tế và tinh thần của người Êđê, vừa là sự thích ứng của luật tục Êđê đối với các thiết chế mới trong xã hội Việt Nam hiện đại (xét luật tục như một hiện tượng xã hội trong mối tương quan với luật pháp Nhà nước; quy ước thôn buôn, cơ chế hòa giải cơ sở )
Tại Hội thảo khoa học về: "Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật
hiện hành" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp [136], có 2 tham
luận được trình bày về luật tục Êđê, trong đó tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã so sánh những quy định cụ thể của luật tục Êđê với các quy định tương ứng của pháp luật trên các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, hình sự, hành chính , chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa luật tục Êđê và pháp luật, những điểm tích cực của luật tục Êđê có thể vận dụng và phát huy trong tổ chức thực hiện pháp
Trang 28luật (Luật tục Êđê hiện nay có những ưu điểm nhất định, góp phần không nhỏ vào việc duy trì, điều tiết cuộc sống cộng đồng Tuy nhiên, nó cũng có những mặt hạn chế như những quy định không phù hợp với luật pháp hiện hành; nhiều vụ việc, mặc
dù TAND các cấp đã xét xử nhưng người dân tộc Êđê có thể yêu cầu buôn làng xét
xử lại và bản án được xét xử theo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn; cần nghiên cứu kỹ các luật tục để khi ban hành các văn bản pháp luật có những quy định phù hợp cho người dân tộc thiểu số; những người xử kiện ở buôn làng là người am hiểu luật tục, rất có uy tín với cộng đồng, cần tạo điều kiện cho họ được học tập luật pháp nhà nước, và hướng cơ cấu để họ là thành viên hoặc tổ trưởng các tổ hoà giải
ở buôn làng) [136, tr.35-66]
Tại Hội thảo khoa học quốc tế về: "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay
ở Việt Nam" của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia [112], trong số
hơn 60 báo cáo khoa học thì có đến 10 báo cáo về Luật tục Êđê, gồm: Nguyễn Hữu Trí có tham luận "Luật tục Êđê, luật tục M’nông và vai trò của nó trong đời sống đồng bào các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk"; Nguyễn Thành Chinh có tham luận "Luật tục Êđê, M’nông với việc xây dựng đời sống văn hóa ở buôn làng"; Nguyễn Thị Hòa có tham luận "Tập quán pháp và vai trò của người đàn ông Êđê trong xã hội mẫu hệ"; Thu Nhung Mlô có tham luận "Luật tục với phụ nữ Êđê xưa và nay"; Trương Bi có tham luận "Luật tục Êđê với việc xây dựng buôn văn hóa ở huyện Cư M’gar"; Chu Thái Sơn có tham luận "Về tập quán "lấy cắp một phải đền ba""; Hoàng Cầm có tham luận "Tài sản và sở hữu tài sản trong luật tục Êđê"; Hoàng Thị Kim Quế có tham luận "Một số vấn đề về luật tục và pháp luật ở Đắk Lắk hiện nay"; Trần Đình Long có tham luận "So sánh luật tục Êđê và luật tục M’nông với một số vấn đề
trong luật pháp hiện hành" Đặc biệt, Ama Thin (người Êđê, sinh sống ở Buôn
Tring) có tham luận "Luật tục trong đời sống của người Êđê ở buôn Tring, xã Ea
Blang, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk" đã trình bày một cách cụ thể, sinh động về
vai trò của già làng, người xử kiện, tổ hòa giải, tình hình sử dụng luật tục, sự thay đổi trong sử dụng luật tục ở địa phương so với xưa kia và có những nhận định, kiến nghị cần quan tâm (Hiện nay, luật tục Êđê vẫn được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng dân tộc Êđê với mục đích nhằm hoà giải các mâu thuẫn, xung đột trong cộng đồng, bên cạnh đó luật tục còn có tác dụng giáo dục các thế hệ trẻ người Êđê cách cư xử đúng đắn với mọi người trong cộng đồng của mình, và hơn nữa còn giúp cho họ biết trân trọng
Trang 29những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc như luật tục; luật tục Êđê cần được duy trì bằng cách thành lập các Tổ hoà giải với sự tham gia tích cực của các Khoa phat kđi (người xử kiện) ở tất cả các cấp xã, huyện, tỉnh, và tuyển chọn những Khoa phat kđi
am hiểu luật tục cũng như có kinh nghiệm trong cuộc sống; cần in ấn các tài liệu về luật tục và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Êđê để cho các thế hệ trẻ sau này đều biết được; sự quan tâm đúng đắn của các cấp chính quyền đối với luật tục là rất quan trọng để bảo lưu được luật tục cho người Êđê, xóa bỏ một số điểm lạc hậu không phù hợp với xã hội hiện nay trong luật tục để dân tộc Êđê tiến tới một xã hội tiến bộ, văn minh và phát triển về kinh tế, xã hội và văn hoá ) [112, tr.1015-1016]
Ngoài ra, còn có Hội thảo: "Luật tục - Hương ước và những vấn đề phát triển
kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên" của Trung tâm Khoa học xã hội
và nhân văn Quốc gia [113], có 03 trên tổng số 30 báo cáo về luật tục Êđê Hội thảo
"Tập quán pháp, tiền lệ pháp và việc đa dạng hóa hình thức pháp luật ở Việt Nam"
[123] (trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp Bộ), do Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 11/2016, đã thu hút 14 báo cáo tham luận, trong đó có
3 báo cáo về luật tục Êđê (Tạ Quang Tòng có Báo cáo: "Người Êđê ở Tây Nguyên và cách thức xử lý các hành vi vi phạm luật tục" và Báo cáo: "Luật tục Êđê - Một số quy định về hôn nhân gia đình"; Vũ Thị Bích Hường có Báo cáo: "Những hành vi vi phạm
luật tục của người trưởng buôn)" [123] Hội thảo: "Các tập quán điển hình điều chỉnh
quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền" của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp [134] đã thu
hút rất nhiều báo cáo về tình hình luật tục của các dân tộc thiểu số (chủ yếu là của dân tộc Êđê) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đặc biệt có các báo cáo của đại diện Sở Tư pháp, Toà án nhân dân (TAND) tỉnh, Đoàn Luật sư, Ban Dân tộc, Sở Văn hóa - Thể thao và
Du lịch, các huyện, xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số
Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách xã hội (SPERI) và Viện Tư vấn phát
triển (CODE), có đề tài nghiên cứu điểm - thực địa về: "Vai trò của luật tục trong
phát triển cộng đồng thiểu số ở Việt Nam" [138] Với mục tiêu tìm hiểu thực trạng
và vai trò của luật tục đối với quản trị đất đai, an toàn xã hội và quản trị cộng đồng trong đời sống xã hội của một số cộng đồng dân tộc thiểu số, cho rằng luật tục vẫn tồn tại trong các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các điểm nghiên cứu và đóng vai trò
to lớn trong quản trị cộng đồng, điều này càng được khẳng định rõ với những cộng
Trang 30đồng tộc người có bản sắc rõ nét như người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk
Trương Thị Hiền (2015), với Luận án Tiến sĩ Xã hội học [45], đã nhận diện sự tồn tại của luật tục Êđê trong bối cảnh của tộc người Êđê hiện nay; chỉ ra mối quan
hệ giữa luật tục Êđê và luật pháp trong lĩnh vực quản lý xã hội Ở giác độ luật học,
Lê Đình Hoan [49], Nguyễn Thị Tĩnh [83] cũng đã thực hiện thành công các Luận
văn Thạc sĩ Luật học về mối quan hệ của luật tục Êđê với pháp luật v.v
1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, CÁC CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu và mức độ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, các vấn đề luật tục ở nước ta và luật tục Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên đã được đề cập từ rất sớm, nhưng chủ yếu được nghiên cứu chuyên sâu ở phạm vi giác độ là đối tượng của ngành văn hóa dân gian, dân tộc học và xã hội học Dưới tiếp cận luật học, luật tục và luật tục Êđê cũng đã được các cơ quan, tổ chức, ngành chức năng và các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, như: Sưu tầm và văn bản hóa; giá trị của luật tục đối với pháp luật; vai trò của luật tục trong quản lý xã hội; quan hệ giữa luật tục và luật pháp Các nghiên cứu đã cho thấy những giá trị của luật tục trong việc góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và quản lý xã hội trong cộng đồng
Tuy vậy, nhìn chung việc nghiên cứu về luật tục ở Việt Nam, đặc biệt là ở Tây Nguyên của các học giả nước ngoài, chủ yếu được thực hiện vào những thập niên đầu của Thế kỷ trước, và cũng chủ yếu nhằm phục vụ mục đích cai trị của chế độ Thực dân, nên còn phiến diện, thiếu thực tế và những kết quả nghiên cứu không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Các nghiên cứu về luật tục ở nước ngoài cho thấy thiếu tính tương đồng về bản sắc văn hóa so với các dân tộc nước ta,
do đó cũng chỉ có giá trị tham khảo Các nghiên cứu trong nước gần đây càng được chú trọng, nhưng cũng chưa đi sâu làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội của việc hình thành, tồn tại và phát huy tác dụng của luật tục, để từ đó lý giải vì sao có những quy định của luật pháp mặc dù đã được tuyên truyền nhưng vẫn kém hiệu lực ở những vùng
có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; bên cạnh đó, các nghiên cứu luật tục dưới tiếp cận luật học cũng thường chỉ xuất phát từ quan điểm luật tục ở vị trí thứ yếu, chỉ có vai trò phụ trợ trong quản lý cộng đồng, nên chưa thấy hết các giá trị cũng như vị trí, vai trò của luật tục trong đời sống xã hội của các buôn làng dân tộc
Trang 31thiểu số ở nước ta và dân tộc Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta và xu thế chung của tiến bộ xã hội, của hội nhập toàn cầu hiện nay
Ở giác độ khác, nhiều công trình nghiên cứu luật tục ở Việt Nam và Tây Nguyên chủ yếu tập trung thực hiện ở việc sưu tầm, tập hợp, biên dịch, văn bản hóa
và giới thiệu nội dung; việc nghiên cứu còn dừng lại ở mức nhìn nhận một cách chung và tổng thể; tập trung ghi nhận và đánh giá cao các giá trị tích cực của luật tục, còn quá ít các công trình đi sâu nghiên cứu về từng lĩnh vực và từng mặt, nhất
là những mặt không tích cực hoặc chưa được phát huy của luật tục
Bên cạnh đó, tuy luật tục đã được rất nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu với nhiều giác độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau và đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều kết luận khoa học đã được áp dụng vào thực tiễn , nhưng thực tế vẫn còn rất thiếu vắng những công trình nghiên cứu luật tục một cách có hệ thống,
có giá trị, tiếp cận ở giác độ luật học về sự ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng tộc người, nhất là đối với luật tục các dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần
có những nghiên cứu tiếp tục, nhằm bổ sung cho những vấn đề thiếu vắng này 1.2.2 Những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu
Những nội dung được nêu và phân tích trên đây cho thấy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn luật tục ở nước ta nhằm góp phần tăng cường hiệu quả quản lý xã hội trong cộng đồng tộc người là cần thiết trong điều kiện hiện nay và cả trong thời gian tới Điều đó cũng phù hợp với một trong những gợi mở hướng nghiên cứu quan trọng mà Kết luận Hội thảo khoa học quốc tế "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam" đã đặt ra là:
việc kế thừa và phát huy luật tục, việc kết hợp giữa luật pháp và luật tục ở nông thôn cần tiến hành như thế nào, theo nguyên tắc nào, trong phạm vi nào luật tục được thực thi và mang lại hiệu quả, các hình thức tổ chức nào đảm bảo cho sự kết hợp ấy phát huy tác dụng? Đây là những vấn đề thực tiễn đặt ra đòi hỏi các nhà khoa học và những người làm công tác quản lý phải cùng nhau trả lời [112, tr.1087]
Đồng thời phù hợp quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được xác định trong Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị và nội dung
Trang 32khẳng định trong Hiến pháp nước ta đã được nêu tại phần Mở đầu trên đây
Ở Tây Nguyên, nhu cầu nghiên cứu luật tục theo hướng xác định rõ những ảnh hưởng tích cực, không tích cực của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, nhất là vùng dân tộc tại chỗ càng trở nên cấp thiết, khi
mà các vấn đề xã hội và dân tộc hiện nay đang tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp và không chỉ bó hẹp trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ mà là vấn đề quan hệ phức tạp giữa ba nhóm: Dân tộc thiểu số tại chỗ (chiếm 25,3% dân số), dân tộc thiểu số từ nơi khác đến (chiếm 8,33% dân số) và dân tộc Kinh (chiếm 66,37% dân số) Nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ, trong đó có dân tộc Êđê với số dân đông đứng thứ hai, có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của vùng này, vì tuy là thiểu số, nhưng vẫn là chủ nhân của nền tảng văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên
Với ý nghĩa đó, và cũng nhằm góp phần lấp đầy những khoảng trống trong nghiên cứu và ứng dụng việc kết hợp luật tục với pháp luật trong quản lý cộng đồng dân cư ở buôn làng tại các tỉnh Tây Nguyên hiện nay, Luận án tập trung giải quyết những vấn đề đã được nêu ra về mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên
cứu tại phần Mở đầu trên đây Và do vậy, việc nghiên cứu: "Luật tục và ảnh hưởng
của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam", dưới tiếp cận luật học là hướng nghiên cứu còn tương đối
mới, có tính thực tế, nhằm góp phần bổ khuyết những hạn chế của các nghiên cứu trước; đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết cả lý luận và thực tiễn về việc kết hợp luật tục với pháp luật trong quản lý xã hội và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay
1.2.3 Các câu hỏi cần trả lời và giả thuyết nghiên cứu
1.2.3.1 Các câu hỏi cần trả lời
Câu hỏi 1: Luật tục và luật tục Êđê được hình thành, tồn tại và có vai trò đối
với đời sống xã hội của cộng đồng như thế nào? Trong điều kiện hiện nay, luật tục Êđê có còn tồn tại và tiếp tục phát huy vai trò đối với xã hội cộng đồng không?
Câu hỏi 2: Trong quá trình cùng tồn tại và điều chỉnh các quan hệ xã hội, luật tục
có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong cộng đồng tộc người như thế nào?
Câu hỏi 3: Thực tế ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật trong
cộng đồng người Êđê như thế nào? Có thể phát huy vai trò của luật tục nhằm nâng
Trang 33cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở Tây Nguyên không?
1.2.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Luật tục được hình thành từ phong tục, tập quán của cộng đồng
tộc người, là một dạng quy phạm xã hội, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người Trong xu thế xã hội loài người ngày càng văn minh, vấn đề
đa dạng nguồn pháp luật, đa dạng các phương thức điều chỉnh các quan hệ trong xã hội càng được đề cao Ở nước ta và đối với cộng đồng người Êđê, luật tục đã, đang
và sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
Giả thuyết 2: Là công cụ cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữa luật tục và
pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau Với những giá trị cùng những yếu tố phù hợp với pháp luật, luật tục có ảnh hưởng tích cực đối với thực hiện pháp luật; ngược lại, với những hủ tục lạc hậu, cùng những điểm không phù hợp với pháp luật,
luật tục có ảnh hưởng không tích cực đối với thực hiện pháp luật trong cộng đồng
Giả thuyết 3: Hiện nay, trong cộng đồng người Êđê, việc áp dụng luật tục
trong đời sống hằng ngày còn phổ biến, nên luật tục đã, đang và sẽ tiếp tục có sự ảnh hưởng quan trọng đối với thực hiện pháp luật ở tộc người này Với chủ trương, biện pháp và cách thức thích hợp, sẽ phát huy được vai trò của luật tục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức tự giác và hiệu quả thực hiện pháp luật trong cộng đồng người Êđê ở Tây Nguyên, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu chung trên đây cho thấy, luật tục là một hiện tượng xã hội phổ quát của nhân loại, xuất hiện từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp và còn tồn tại đến ngày nay với những mức độ khác nhau ở nhiều tộc người trên thế giới; là kho tàng tri thức về ứng xử và quản lý cộng đồng, thể hiện tư duy, bản sắc văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của mỗi tộc người Trên thế giới, từ lâu luật tục đã được quan tâm nghiên cứu cả về phương diện lý luận cũng như giá trị thực tiễn
Ở Việt Nam, luật tục đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ khá sớm, đã để công sưu tầm và khai thác dưới góc độ tư liệu giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, xã hội mỗi dân tộc và và phát huy những giá trị tích cực vào tự quản trong cộng đồng tộc người Tây Nguyên là địa bàn đầu tiên ở nước ta mà các nhà dân tộc học và cai trị thực dân đã để công sưu tầm và hệ thống hóa luật tục của một số tộc người ở đây ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX Từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay,
Trang 34việc sưu tầm, nghiên cứu luật tục các dân tộc có cơ hội bùng phát do nhu cầu nghiên cứu xã hội các tộc người và đặc biệt là việc quản lý xã hội nông thôn trong sự nghiệp phát triển của đất nước Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương khuyến khích việc sưu tầm, nghiên cứu và kế thừa những tri thức về quản lý cộng đồng buôn làng vốn có trong luật tục Những giá trị tích cực của luật tục đã được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, nên không chỉ dừng ở đối tượng nghiên cứu, mà đã trở lại đi vào đời sống, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước Những công trình nghiên cứu được điểm luận trong phần Tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây, là nguồn tư liệu tương đối đầy đủ và quý giá để thực hiện việc nghiên cứu tiếp theo, nhất là các công trình nghiên cứu vận dụng luật tục trong điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý xã hội ở cơ sở hiện nay
Trang 35Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT TỤC
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của luật tục
Khi đề cập đến luật tục, về cơ bản, các nhà nghiên cứu thống nhất rằng: Luật tục còn gọi là tập quán pháp, là thuật ngữ chuyển dịch từ droit coutumier (tiếng Pháp) hoặc customary law (tiếng Anh); luật tục còn được gọi là folk law (luật dân gian), indigenous law (luật bản địa) Chúng được hiểu với nghĩa chung nhất, đó là một loại luật được sử dụng và lưu truyền trong dân gian, có nguồn gốc từ phong tục, tập quán của cộng đồng tộc người [112, tr.25-61] Với ý nghĩa đó, luật tục là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ lâu đời, có tác động mạnh mẽ đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của con người trong cộng đồng xã hội, là những quy tắc ứng xử được hình thành trong cộng đồng tộc người, sau thời gian dài đã dần trở thành truyền thống, được mọi người trong cộng đồng tuân thủ và nghiêm túc thực hiện, nên cũng được xem là một chuẩn mực xã hội, một cách ứng xử mang tính phong tục, tập quán Hiện nay, còn có những quan điểm khác nhau về khái niệm luật tục, như: Có quan điểm đồng nhất luật tục vớ tập quán pháp, đồng nhất luật tục với phong tục tập quán và cho rằng luật tục có ba hình thức thể hiện, bao gồm dạng các lời nói vần, dạng thành văn hay được văn bản hóa, dạng những thực hành xã hội, trong đó bao gồm cả hương ước làng [112, tr.25-32]; quan điểm khác cho rằng luật tục có nội hàm hẹp hơn,
là một dạng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, thể hiện dưới hình thức
"là những phương ngôn, ngạn ngữ diễn đạt bằng lời nói có vần điệu", phân biệt với hương ước làng và không thể mặc nhiên coi là tập quán pháp [113, tr.164]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, thì:
Luật tục là toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ Ranh giới giữa luật tục và quy phạm pháp luật (QPPL) không cứng nhắc và khi luật tục được đưa vào văn bản QPPL hoặc được xem là cơ sở cho việc xét xử thì nó trở thành một bộ phận của pháp luật [140, tr.770]
Trang 36Và theo Từ điển Thuật ngữ lý luận nhà nước và pháp luật, thì:
Luật tục là những quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xây dựng nên và được truyền từ đời này qua đời khác Luật tục có thể tồn tại bằng truyền miệng hoặc được ghi thành văn bản Dưới dạng văn bản luật tục có thể đơn giản dưới hình thức "hương ước" nhưng cũng có thể xây dựng dưới dạng bộ luật như bộ luật tục Êđê có 11 chương
236 điều Luật tục khác với tập quán thông thường là mang tính bắt buộc thực hiện Luật tục là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của các dân tộc ít người Luật tục nếu phù hợp với tiến bộ xã hội, tạo được công bằng, công lý và trật tự xã hội được Nhà nước thừa nhận thì trở thành tập quán pháp luật của Nhà nước, còn nếu luật tục cổ hủ, lạc hậu hoặc mang tính chất mê tín dị đoan sẽ bị Nhà nước cấm đoán [96, tr.156]
Như vậy, theo quan điểm này thì luật tục cũng tồn tại dưới dạng văn bản luật tục và "hương ước" cũng được xem là một hình thức của luật tục; đồng thời, trong những điều kiện nhất định (phù hợp với tiến bộ xã hội, tạo được công bằng, công lý
và trật tự xã hội, được Nhà nước thừa nhận) thì luật tục trở thành tập quán pháp luật của Nhà nước (là một trong ba hình thức và nguồn phổ biến của pháp luật)
Tiếp cận ở phương diện văn hóa và xã hội học, Hoàng Xuân Tý cũng đồng tình với quan điểm của Ngô Đức Thịnh, cho rằng:
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành trong lịch
sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó
đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng Luật tục như hình thức phát triển của phong tục, tục lệ và là những hình thức sơ khai của luật pháp [112, tr.311-312]
Tuy còn có những quan điểm khác nhau về khái niệm, nhưng về nội dung, nhìn chung các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: Luật tục, đó là quy tắc xử sự, quy tắc hành vi có được do quá trình áp dụng nó một cách tự phát trong một thời gian dài ở những vùng dân cư nhất định; luật tục có sự tương đồng tương đối với
Trang 37phong tục, tập quán và cả với hương ước (còn có các tên gọi khác là khoán ước, hương khoán, hương biên, hương lệ, cựu khoán, quy ước )
Qua nghiên cứu, khảo sát luật tục của nhiều dân tộc khác nhau, chúng tôi cũng thấy rằng: Trước hết, luật tục là một bộ phận, một hình thức biểu hiện của phong tục, tập quán - đó là những thói quen trong suy nghĩ, ứng xử trong cộng đồng tộc người, được xem là khuôn mẫu, quy tắc chi phối hành vi của các thành viên trong cộng đồng, hình thành, tồn tại và phát huy vai trò trong quá trình phát triển của xã hội Trong phong tục, tập quán và luật tục đều chứa đựng các quy phạm xã hội dưới dạng quy ước, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống hằng ngày của cộng đồng Phong tục, tập quán nói chung và luật tục nói riêng được bảo đảm thực hiện hoặc bằng sự tác động về mặt dư luận, niềm tin, tín ngưỡng của cá nhân, của cộng đồng hoặc bằng các hình thức phạt, các biện pháp xử lý do cộng đồng áp dụng
Ở khía cạnh khác, có thể nói luật tục là hình thức sơ khai của luật pháp trong
xã hội tiền giai cấp Cũng có thể coi luật tục là những phong tục có dáng dấp của pháp luật hay luật tục là pháp luật dựa trên phong tục tập quán của tộc người (có xử phạt, có chế tài thông qua "tòa án" phong tục) Luật tục chưa phải là "luật", nhưng cũng không phải hoàn toàn là "tục", mà là hình thức trung gian giữa tục và luật; và trong những điều kiện nhất định, được nhà nước thừa nhận, thì luật tục trở thành pháp luật và được được nhà nước bảo đảm thực hiện
Từ nội dung được nêu và phân tích trên đây, chúng tôi đưa ra khái niệm: Luật
tục là tổng hợp các quy tắc xử sự chung, chứa đựng các quy chuẩn về đạo đức, luân
lý, các phong tục, tập quán, lễ nghi tôn giáo, cách ứng xử trong cộng đồng; do nhiều thế hệ kế tục xây dựng nên và lưu truyền cho tới ngày nay, thể hiện ý chí chung của cộng đồng tộc người; để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm điều hòa và bảo vệ xã hội của cộng đồng tộc người; được bảo đảm thực hiện bằng quyền uy của cả cộng đồng và
sự tự giác của mỗi thành viên trong cộng đồng tộc người, và khi được nhà nước thừa nhận thì luật tục còn được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật
Từ nội hàm khái niệm trên đây, cho thấy luật tục có các đặc điểm đó là:
Thứ nhất, luật tục là hình thức phát triển cao của phong tục tập quán, là sản
phẩm của cả cộng đồng và được chọn lọc, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được các thành viên trong cộng đồng mặc nhiên thừa nhận và thực hiện Luật tục được hình
Trang 38thành một cách tự phát trong đời sống xã hội như một nhu cầu tất yếu không thể thiếu để duy trì và ổn định trật tự cộng đồng, phản ánh ý chí chung của cộng đồng,
là hệ thống các quy phạm trên cơ sở quan niệm đạo đức xã hội Là một dạng quy phạm xã hội, một loại công cụ điều chỉnh hành vi của con người, luật tục là những chuẩn mực xã hội, giới hạn hành vi ứng xử của con người sao cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng; đưa ra những quy phạm để giải quyết có lý, có tình những mâu thuẫn, để răn đe, giáo dục, hướng thiện cho con người Bên cạnh đó, luật tục không phải là công cụ để duy trì địa vị thống trị của riêng một giai cấp nào trong xã hội, mà là công cụ duy trì trật tự chung của cộng đồng, do đó không phản ánh ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một tầng lớp trong xã hội mà nó phản ánh ý chí, nguyện vọng của cả cộng đồng, nhằm ổn định trật tự có lợi cho toàn thể các thành viên trong cộng đồng
Thứ hai, luật tục hình thành, tồn tại gắn liền với hoạt động của con người trên
các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau, nên có phạm vi điều chỉnh rộng, chứa đựng
cả luật nội dung và luật tố tụng, là tiêu chí cho xử sự của các thành viên trong cộng đồng trên tất cả các lĩnh vực đạo đức, luân lý và tình cảm Nội dung của luật tục bao quát toàn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội trong cộng đồng người, với các lĩnh vực: Tổ chức và quản lý cộng đồng; ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng; tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ phong tục, tập quán; quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; quản lý, sử dụng đất đai; bảo vệ sản xuất, môi trường; duy trì và giáo dục nếp sống văn hóa, tín ngưỡng Luật tục là kết quả của quá trình lịch sử hình thành
và phát triển lâu dài trong đời sống xã hội của mỗi tộc người, được truyền từ đời này sang đời khác chủ yếu thông qua thực hành xã hội, nên có tính ổn định cao Tuy nhiên, với tư cách là một loại công cụ điều hành xã hội, luật tục có mối liên hệ chặt chẽ với các điều kiện thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nên luật tục cũng tự điều chỉnh và thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của thực tế cuộc sống Đây cũng chính là
cơ sở quan trọng để luật tục tồn tại song hành cùng với sự phát triển của xã hội
Thứ ba, bản chất nguyên thủy của luật tục ra đời chứa đựng các quy tắc xử sự
chung trong phạm vi cộng đồng và có tính "bắt buộc" thực hiện bằng quyền uy của cả cộng đồng và thông qua sự tự giác, tự nguyện của mỗi thành viên cộng đồng Luật tục tồn tại lâu bền trong đời sống xã hội, gần gũi với lối sống và tâm lý của các thành viên cộng đồng, ăn sâu vào tiềm thức của con người và trở thành tiêu chuẩn cho hành vi ứng
Trang 39xử của mỗi thành viên cộng đồng Thêm vào đó, sự tồn tại của luật tục luôn gắn với một cộng đồng tộc người, phù hợp với các điều kiện thực tiễn nên các quy định của luật tục thường rất cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng cho mọi người trong cộng đồng, có giá trị thực tiễn cao, phù hợp để điều chỉnh các quan hệ cụ thể mà nó hướng tới Luật tục xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đời sống xã hội của mỗi dân tộc, lại phụ thuộc nhiều vào truyền thống văn hóa, trình độ phát triển, ý chí của cộng đồng và thành viên cộng đồng , do đó, luật tục vừa chứa đựng những yếu tố tiến bộ của xã hội, vừa tồn tại những hủ tục, những yếu tố lạc hậu so với yêu cầu của sự phát triển xã hội
2.1.2 Nội dung của luật tục
Luật tục hình thành từ phong tục, tập quán của mỗi dân tộc khác nhau Việt Nam với 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những đặc trưng văn hóa riêng, nên các phong tục, tập quán trong cộng đồng các dân tộc nước ta cũng rất đa dạng, phong phú Mỗi dân tộc thiểu số ở nước ta, thậm chí là mỗi buôn làng có luật tục riêng, thể hiện những sắc thái riêng, phù hợp với yêu cầu của từng dân tộc, từng cộng đồng người trong điều hòa các mối quan hệ xã hội, nên nội dung các luật tục có tính đa dạng rất cao Hơn nữa, trình độ phát triển xã hội của các tộc người ở nước ta vốn có nhiều chênh lệch, luật tục cũng thể hiện tính khác biệt về trình độ không đồng đều
ấy Do vậy, không thể có một "mẫu số chung" toàn diện và cụ thể về nội dung đối với các luật tục ở nước ta Tuy nhiên, xét về tổng thể, các luật tục đều có điểm chung là một mặt nó mang những yếu tố của luật pháp (quy định những điều nên làm, được làm, không được làm; các hành vi bị xem là vi phạm và chế tài xử lý…), nhưng mặt khác, luật tục mang tính chất của tục lệ, phong tục (những quy ước, những điều răn dạy, những điều khuyên nhủ mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cho mỗi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi của con người trong cộng đồng, nhằm đảm bảo sự ổn định của cộng đồng Qua nghiên cứu các luật tục (nhất là các luật tục tiêu biểu ở vùng Tây Nguyên - Trường Sơn, phía Bắc ) và tham khảo những nghiên cứu trước đây [70; 100], nếu bỏ qua những yếu tố đa dạng thuộc bản sắc riêng của mỗi tộc người, thì nội dung chung nhất của luật tục thể hiện
ở những phạm vi, lĩnh vực chủ yếu dưới đây
Thứ nhất, quy định về hệ thống tổ chức và quản lý cộng đồng
Luật tục, với tư cách là công cụ quản lý xã hội đã đề cập trực tiếp tới tổ chức
và quản lý cộng đồng Tuy nhiên, cơ cấu xã hội truyền thống cũng tùy từng dân tộc
Trang 40mà mang những sắc thái riêng Đối với các tộc người thiểu số, nhất là Tây Nguyên, thì cơ cấu xã hội cổ truyền là buôn làng Với trình độ phát triển xã hội còn thấp, do vậy hệ thống tổ chức buôn làng ở nơi đây chưa phức tạp như làng xã của người Việt, nên luật tục đề cập nhiều đến người chủ làng và những già làng, mối quan hệ giữa chủ làng và dân làng Luật tục các dân tộc Tây Bắc thì ngoài việc quy định ranh giới của mường (như buôn làng ở Tây Nguyên), ghi rõ hệ thống tổ chức bản mường (việc bổ nhiệm vào các vị trí của hệ thống chức dịch, kể cả việc xin chức dịch, các bổng lộc, như ruộng công, các hình thức lao dịch, cống nạp mà từng cấp chức dịch được hưởng)
Thứ hai, quy định về trật tự và an ninh của cộng đồng
Trật tự và an ninh rất quan trọng đối với cộng đồng buôn làng, bởi vậy trong nội dung của luật tục các dân tộc, vấn đề này rất được chú trọng và đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau, như gây chia rẽ, phá vỡ sự đoàn kết cộng đồng, phao tin đồn nhảm, theo kẻ xấu bên ngoài chống lại cộng đồng, các tội đốt làng, đốt nhà, đốt rừng, xâm phạm tới cơ thể của người khác (đánh đập, giết người), hiếp dâm, ăn cắp,
ăn trộm Các luật tục đều quy định cụ thể những điều phải làm, không được làm và
xử phạt rất nặng những người xâm phạm đến an ninh, trật tự của buôn làng
Thứ ba, quy định về phong tục tập quán (tục lệ)
Luật tục được hình thành từ phong tục, tập quán, nên nội dung chứa đựng các phong tục tập quán của từng dân tộc Luật tục Thái có rất nhiều quy định về phong tục, nghi lễ, trong đó nghi lễ cưới xin, ma chay là tiêu biểu nhất Luật tục M’nông
có 30 điều thuộc chương riêng "về phong tục tập quán" Luật tục Êđê, Gia Rai cũng có nhiều quy định về phong tục tập quán, như tập quán sinh hoạt lễ hội của cộng đồng buôn làng, mọi người phải có nghĩa vụ tham gia
Thứ tư, quy định về quan hệ nam nữ, hôn nhân và gia đình
Quan hệ nam nữ, hôn nhân và gia đình luôn được đề cập tới trong nội dung luật tục của các dân tộc thiểu số, bởi vì nó trực tiếp liên quan tới các phong tục tập quán, quan hệ xã hội, rất dễ xảy ra những xung đột trong nội bộ cộng đồng Về quan
hệ nam nữ, tuy các dân tộc thiểu số đều có phong tục trai gái tự do trong giao tiếp, nhưng phải tuân thủ các phong tục tập quán, ngăn cấm các hành vi đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc Luật tục Êđê có 11 điều trong chương "Về tội gian dâm"; luật tục M’nông cũng có rất nhiều điều quy định về vấn đề này Luật tục