Bài viết trình bày khái quát những yếu tố ảnh hưởng bất lợi của khí hậu nhiệt đới nên bò sữa gốc ôn đới nhập nội, đánh giá thực tiễn nuôi bò sữa nhập nội ở nước ta trong nhiều năm qua, đồng thời nêu ra một số giải pháp giúp giảm thiểu các tác động bất lợi nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa được rộng rãi và có hiệu quả hơn.
Trang 1HẠN CHẾ CỦA VIỆC CHĂN NUÔI BÒ SỮA NHẬP NỘI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Nguyễn Xuân Trạch
Đặt vấn đề
Nước ta đã từng nhập nội một số giống bò sữa gốc ôn đới nhằm mục đích nhân thuần hoặc lai tạo giống Các loại bò sữa thuần gốc ôn đới này nói chung có tiềm năng cho sữa cao hơn các giống bò sữa nhiệt đới (Red Sindhi, Sahiwal) Tuy nhiên tiềm năng ấy chỉ thể hiện khi bò được sống trong một môi trường sống thích hợp Các yếu tố của môi trường sống bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, gió, mưa, ánh sáng, chất lượng thức ăn, cách thức chăm sóc nuôi dưỡng
và sự quản lí của người chăn nuôi Đàn bò sữa nhập nội thực tế đã tồn tại ở nhiều địa phương trong cả nước và trải qua nhiều bước thăng trầm Đã có nhiều mô hình nuôi bò sữa thành công, nhưng khó khăn và thất bại cũng không ít Hiện tại, chăn nuôi bò sữa đang là một vấn
đề thời sự Để đáp ứng nhu cầu trước mắt về con giống, gần đây nhiều địa phương đã nhập bò sữa từ nước ngoài về để nuôi thích nghi Liệu những địa phương nuôi bò sữa nhập nội này sẽ gặp những khó khăn hạn chế gì không? Phương hướng lâu dài cho công tác giống và chăm sóc nuôi dưỡng bò sữa nên như thế nào? Để góp phần giải đáp những vấn đề đó bài viết này trình bày khái quát những yếu tố ảnh hưởng bất lợi của khí hậu nhiệt đới lên bò sữa gốc ôn đới nhập nội, đánh giá thực tiễn nuôi bò sữa nhập nội ở nước ta trong nhiều năm qua, đồng thời nêu ra một số giải pháp giúp giảm thiểu các tác động bất lợi nhằm phát triển chăn nuôi
bò sữa được rộng rãi và có hiệu quả hơn
Khó khăn của việc nuôi bò sữa gốc ôn đới trong điều kiện nhiệt đới
Một điều hết sức quan trọng là phải nhận thức rõ ràng rằng năng suất sữa của bò không chỉ phụ thuộc vào phẩm giống đơn thuần mà còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường trong đó bò được nuôi dưỡng Nói cách khác năng suất sữa khai thác được trong thực tế là do kết quả tương tác giữa tiềm năng di truyền của con vật và các yếu tố môi trường, kể cả chăm sóc nuôi dưỡng Về mặt khách quan, chăn nuôi bò sữa trong điều kiện khí hậu nóng ẩm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn ở các nước ôn đới Các yếu tố khí hậu và thời tiết nhiệt đới nóng ẩm ảnh hưởng không thuận lợi đến sức khoẻ và sức sản xuất của bò sữa thông qua hai con đường:
- Ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ và ẩm độ cao lên cơ thể con vật
- Ảnh hưởng gián tiếp qua chất lượng thức ăn và bệnh tật
Do vậy, thành công của việc chăn nuôi bò sữa trong điều kiện nhiệt đới như ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng áp dụng kỹ thuật để khắc phục các tác động bất lợi trên do điều kiện thời tiết khí hậu nóng ẩm gây ra
Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ cao đến trao đổi nhiệt và năng suất sữa của bò
Các yếu tố thời tiết khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể và do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, đến sức khoẻ và sản xuất của bò Các yếu
tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, gió, bức xạ, thời gian chiếu sáng và lượng mưa Trong các yếu tố này nhiệt độ và ẩm độ là những yếu tố quan trọng nhất
Bò sữa là động vật máu nóng, vì vậy chúng phải cố gắng duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định mặc dù nhiệt độ môi trường luôn thay đổi Muốn vậy, bò phải giữ được sự cân bằng giữa nhiệt sinh ra trong cơ thể và nhiệt thải ra khỏi cơ thể Thân nhiệt bình thường ở bò sữa trưởng thành ổn định trong khoảng 38,5-39OC
Trang 2NL thô (GE) (18,4MJ/kgVCK)
NL tiêu hoá (DE)
NL khí mêtan (6-12%)
NL trao đổi (ME) = NL thuần (NE) + Gia nhiệt (HI)
thai
ME sữa = NE sữa + HI sữa
HI t trọng
Nhiệt
Sơ đồ 1: Chuyển hoá năng lượng và sinh nhiệt ở bò sữa (Nguyễn
Xuân Trạch, 2003a)
Nhiệt sinh ra trong cơ thể bũ bao gồm nhiệt được giải phúng từ năng lượng dựng cho duy trỡ và lao tỏc của cơ thể cựng với toàn bộ năng lượng gia nhiệt (Sơ đồ 1) Do vậy, bũ cú khối lượng cơ thể càng lớn thỡ nhu cầu năng lượng duy trỡ càng nhiều và cuối cựng nhiệt sinh
ra càng nhiều Thức ăn thụ nhiệt đới cú chất lượng thấp, khú tiờu nờn làm tăng gia nhiệt (liờn quan đến thu nhận và tiờu hoỏ thức ăn) và do vậy mà tăng tổng lượng nhiệt sinh ra Khi năng suất sữa càng cao thỡ nhiệt thừa sinh ra trong cơ thể bũ càng nhiều (do gia nhiệt sản xuất tăng)
Cú ớt nhất 40% năng lượng hấp thu của bũ sữa phải được giải phúng ra khỏi cơ thể dưới dạng nhiệt (Orskov, 2001) Cỏc phương thức chớnh để thải nhiệt ở bũ gồm bốc hơi nước, dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ nhiệt Sự bốc hơi nước qua da (đổ mồ hụi) và phổi (thở) là con đường chủ yếu để thải nhiệt Khi nhiệt độ từ 5-16O
C thỡ bũ sữa thở 15-30 lần/phỳt, cũn khi nhiệt độ tăng cao thỡ nhịp thở tăng cao, cú khi lờn trờn 80 nhịp/phỳt, bũ thở dồn dập và nụng (Đinh Văn Cải, 2003) Sự thoỏt nhiệt bằng cỏch bốc hơi nước của bũ phụ thuộc nhiều vào ẩm
độ mụi trường Ẩm độ mụi trường càng cao thỡ càng cản trở bốc hơi nước từ bũ nờn quỏ trỡnh thải nhiệt sẽ càng khú khăn Mặt khỏc, nhiệt độ của mụi trường cao lại cản trở thải nhiệt từ cơ thể qua con đường dẫn nhiệt Chớnh vỡ thế, trong mụi trường càng núng ẩm thỡ sự thải nhiệt
Trang 3thừa càng bị trở ngại Bức xạ nhiệt của môi trường cao và lưu thông gió kém (những ngày oi bức) thì quá trình thải nhiệt của bò thông qua bức xạ và đối lưu càng bị trở ngại Ngoài ra, khả năng thải nhiệt của bò sữa gốc ôn đới còn bị hạn chế do tỷ diện bề mặt da (diện tích da/thể trọng) thấp (do thể trọng lớn và thường không có yếm, ít nếp nhăn) Do vậy, trong môi trường nóng ẩm con vật buộc phải hạn chế lượng thu nhận thức ăn (chính là nguyên liệu tạo sữa) để giảm sinh nhiệt và kết cục là năng suất sữa giảm sút rõ rệt cho dù con vật có tiềm năng (di truyền) cho sữa cao
Bảng 1: Bảng chỉ số nhiệt-ẩm (THI) dùng để dự đoán stress nhiệt ở bò sữa (Viersma, 1990)
Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn khả năng thải nhiệt thải vào môi trường thì thân nhiệt tăng và bò xuất hiện stress nhiệt Bò bị stress nhiệt thì thu nhận thức ăn và năng suất sữa giảm tùy theo mức độ nghiêm trọng Sự giảm sữa có thể khác nhau nhưng ước chừng nhiệt độ
ở trực tràng tăng lên 1O
C so với bình thường thì con vật giảm 1 lít sữa Trong điều kiện bị stress nhiệt hàm lượng mỡ và protein sữa giảm, tế bào soma trong sữa tăng, đỉnh sữa của chu
Deg 0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50 55 60 65 70 75 80 85 90 95 100 C
25.0 72 72 73 73 74 74 75 75 76 76 77 25.6 72 73 73 74 74 75 75 76 76 77 77 77 26.1 72 73 73 74 74 75 76 76 77 77 78 78 79 26.7 72 72 73 73 74 74 75 76 76 77 78 78 78 79 80 27.2 72 72 73 73 74 74 75 76 77 77 78 78 79 80 80 81 27.8 72 73 73 74 75 75 76 77 77 78 79 79 80 81 81 82 28.3 72 73 73 74 74 75 76 77 78 78 79 80 80 81 82 82 83 28.9 72 73 73 74 75 75 76 77 78 78 79 80 80 81 82 83 83 84 29.4 72 72 73 74 75 75 76 77 78 79 79 80 81 81 82 83 84 84 85 30.0 72 73 74 74 75 76 77 78 78 79 80 81 81 82 83 84 84 85 86 30.6 72 73 73 74 75 76 77 77 78 79 80 81 81 82 83 84 85 85 86 87 31.1 72 72 73 74 75 75 76 77 78 79 80 81 81 82 83 84 85 86 86 87 88 31.7 72 73 74 75 76 76 77 78 79 80 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89 32.2 72 73 74 75 76 77 78 79 79 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89 90 32.8 73 74 75 76 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 86 87 88 89 90 91 33.3 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 85 86 87 88 89 90 91 92 33.9 74 75 76 77 78 79 80 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 34.4 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 35.0 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 35.6 75 76 77 78 79 80 81 82 83 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 36.1 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 91 92 93 94 95 96 97 36.7 76 77 78 79 80 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 93 94 95 96 97 98 37.2 76 78 79 80 81 82 83 84 85 87 88 89 90 91 92 93 94 96 97 98 99 37.3 77 78 79 80 82 83 84 85 86 87 88 90 91 92 93 94 95 97 98 99 38.3 77 79 80 81 82 83 86 86 87 88 89 90 92 93 95 95 96 97 99 38.9 78 79 80 81 83 85 85 86 87 89 90 91 92 95 95 96 97 97 39.6 78 79 81 82 83 86 86 87 88 89 91 92 94 96 96 97 40.0 79 80 81 82 85 85 86 88 89 90 91 93 95 95 96 40.6 79 80 82 83 86 86 87 88 89 91 92 93 95 96 97 41.1 80 81 82 86 85 86 88 89 90 91 93 94 95 97 98 41.7 80 81 83 86 85 87 88 89 91 92 94 95 96 98 42.2 81 82 83 85 86 87 89 90 92 93 94 96 97 42.3 81 82 86 86 87 88 89 91 92 94 95 96 98 43.3 81 83 86 86 87 89 90 91 92 94 96 97 43.9 82 83 85 86 88 89 91 93 94 95 96 98 44.4 82 86 85 87 88 90 91 94 94 96 97 45.0 83 86 86 87 89 90 92 95 95 96 96 45.4 83 85 86 88 89 91 92 94 96 97 46.1 86 85 87 88 90 91 94 95 96 98 46.7 86 86 87 89 90 92 94 95 97 47.2 85 86 88 89 91 93 94 96 98 47.3 85 87 88 90 92 93 95 97 48.3 85 87 89 90 92 94 96 97 48.9 86 88 89 91 93 94 96 98 49.4 86 88 90 92 93 96 97
Relative Humidity (%)
STRESS NHẸ
KHÔNG BỊ STRESS
STRESS NGHIÊM TRỌNG
STRESS NẶNG
BÒ CHẾT
Độ ẩm (%)
o
C
Trang 4kỳ thấp thấp, hệ số sụt sữa cao Mặt khác, hoạt động sinh sản cũng bị ảnh hưởng xấu Bò chậm hoặc không động dục lại sau khi đẻ, biểu hiện động dục không rõ ràng, có khi có động dục mà mà không rụng trứng Tỷ lệ phối giống đậu thai thấp, phôi có sức sống yếu, tỷ lệ phôi chết cao, nhất là những ngày đầu sau phối giống Thai sống sót cũng phát triển kém, khối lượng bê sinh ra nhỏ (Johnson, 1992, Đinh Văn Cải, 2003)
Do tầm quan trọng đặc biệt của nhiệt độ và ẩm độ đối với khả năng thích nghi của bò đối với các vùng khí hậu khác nhau, nên người ta đã xây dựng chỉ số nhiệt-ẩm (THI) liên quan đến stress nhiệt của bò (bảng 1)
THI = 0,72 (W + D) + 40,6 Trong đó, W là nhiệt độ của nhiệt kế bên ướt
D là nhiệt độ của nhiệt kế bên khô
Bò HF sẽ không bị stress nhiệt nếu THI <72, bị stress nhẹ khi THI = 72-78, bị stress nặng khi THI=79-88, bị stress nghiêm trọng khi THI=89-98 và sẽ bị chết khi THI>98 Do vậy, THI là một chỉ số rất hữu ích cần phải tham khảo khi quyết định chăn nuôi bò sữa nguồn gốc ôn đới trong một vùng nhiệt đới nào đó Đồng thời chỉ số này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hành chăm sóc nuôi dưỡng bò hàng ngày vì nó có thể cho ta dự đoán được vào một giai đoạn nào đó bò có thể bị stress hay không căn cứ vào nhiệt độ và ẩm độ môi trường lúc đó Chỉ số THI này cũng phản ánh được rõ ràng rằng trong điều kiện ẩm độ càng cao thì bò đòi hỏi phải được sống trong điều kiện nhiệt độ càng thấp để không bị stress nhiệt Đây là một khó khăn lớn cho phần lớn các vùng sinh thái ở Việt Nam
Bảng 2 minh hoạ khả năng bị stress nhiệt của bò HF khi nuôi ở một số vùng có nhiệt
độ và ẩm độ trung bình khác nhau Các địa phương vùng cao như Lâm Đồng, Mộc Châu (Sơn La), Tuyên Quang nhờ có nhiệt độ bình quân (xa dưới 22OC) và chỉ số nhiệt ẩm (THI<72) thấp nên nguy cơ bị tác động trực tiếp của stress nhiệt là không lớn Tuy nhiên, khả năng bị stress thực tế còn phụ thuộc vào chỉ số THI của từng tháng và từng ngày, thậm chí từng thời
điểm trong ngày Nói chung ở Việt Nam, trong các tháng mùa hè nhiệt độ và chỉ số nhiệt ẩm
THI vượt xa giới hạn thích hợp đối với bò sữa Căn cứ vào các thông số nhiệt độ và ẩm độ của mình các địa phương có thể lường trước được mức độ ảnh hưởng của stress nhiệt khi nuôi
bò HF nhập nội
Bảng 2: Nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số nhiệt ẩm (THI) trung bình của một số địa phương Địa phương Nhiêt độ trung
bình tháng (OC)
Ẩm độ trung bình tháng (%)
Chỉ số nhiệt-ẩm (THI) trung
bình
Do tác động tiêu cực của nhiệt độ và ẩm độ cao đến năng suất sữa nên cùng một giống
bò nhưng nuôi ở các nơi càng nóng ẩm (THI cao) thì thu nhận thức ăn và năng suất sữa thực
tế càng thấp (bảng 3) Bình quân lượng thu nhận thức ăn giảm 0,23 kg VCK/ngày và năng
Trang 5suất sữa giảm 0,26 lớt/ngày khi THI tăng 1 đơn vị (Johnson, 1992) Do vậy, việc nuụi bũ HF ở cỏc nước càng núng ẩm thỡ sẽ cú nhiều hạn chế đến sức sản xuất sữa
Bảng 3: Ảnh hưởng của khớ hậu nhiệt đới đến năng suất sữa của bũ HF (Johnson, 1992)
Ảnh hưởng thời tiết khớ hậu đến chất lượng và tớnh mựa vụ của thức ăn
Thức ăn, đặc biệt là thức ăn thụ, ở Việt Nam cũng như cỏc nước nhiệt đới khỏc thường cú chất lượng khụng cao như ở cỏc nước ụn đới Cõy cỏ nhiệt đới thường cú hàm
lượng hydratcacbon bị lignin hoỏ cao nhưng hàm lượng protein lại thấp Hơn nữa, hàm lượng
khoỏng cũng thấp và khụng cõn bằng, đặc biệt là thường thiếu phốt-pho Chớnh vỡ thế mà tỷ lệ tiờu hoỏ của cỏ nhiệt đới thấp hơn nhiều so với cỏ ụn đới Vỡ tỷ lệ tiờu hoỏ của cỏ nhiệt đới thấp nờn bũ khụng ăn được nhiều (do tốc độ giải phúng thức ăn khỏi dạ cỏ chậm) Ngoài ra,
do bũ sữa gốc ụn đới đó được chọn lọc lõu dài trong điều kiện thức ăn tốt nờn dung tớch đường tiờu hoỏ (tớnh theo % thể trọng) thấp hơn nhiều (khoảng 33%) so với bũ nhiệt đới Bởi hai lý do này mà ngay cả khi mỏt mẻ bũ sữa gốc ụn đới cũng khụng ăn được nhiều thức ăn thụ nhiệt đới Do khối lượng và chất lượng thức ăn thu nhận thấp nờn năng suất sữa của bũ ụn đới nuụi trong điều kiện nhiệt đới sẽ giảm xuống và trong một thời gian dài sức khoẻ và khả năng sinh sản của bũ cũng giảm sỳt
Mặt khỏc, mựa vụ cú ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của cỏ Điều này thực tế đó hạn chế rất nhiều đến hiệu quả chăn nuụi bũ sữa khi khả năng khắc phục tớnh
“trạng mựa” về thức ăn cũn nhiều hạn chế Bảng 4 cho thấy biến động năng suất sữa bỡnh quõn trờn toàn đàn qua cỏc thỏng trong năm của bũ HF thuần nuụi tại Mộc Chõu trước đõy (Nguyễn Xuõn Trạch, 1989) và ở Lõm Đồng gần đõy (Nguyễn Xuõn Trạch và Phạm Ngọc Thiệp, 2003) Trong cỏc thỏng đụng-xuõn đỏng lẽ bũ cú thể cho nhiều sữa do cú nhiệt độ và
ẩm độ thấp, thế nhưng do thiếu cỏ và chất lượng cỏ thấp nờn năng suất sữa thực tế của bũ thấp hơn so với cỏc thỏng mựa hố-thu Như vậy, tỏc động “giỏn tiếp” của thời tiết khớ hậu qua nguồn thức ăn thụ xanh ở hai địa phương này đó cú ảnh hưởng mạnh hơn là tỏc dộng “trực tiếp” qua trao đổi nhiệt của cơ thể bũ
Bảng 4: Biến động năng suất sữa của bò HF nuôi tại Mộc Châu và
Lâm Đồng (kg/con/ngày)
Mộc Chõu* 9,6 9,2 9,7 10,3 11,8 12,1 12,0 11,9 11,5 11,1 10,9 10,6 Lõm Đồng** 11,6 11,9 11,1 11,5 12,5 12,4 12,4 12,4 12,7 13,0 12,7 12,4 Ghi chỳ: * Nguyễn Xuõn Trạch (1989), **Nguyễn Xuõn Trạch và Phạm Ngọc Thiệp (2003)
Trang 6Thực tế trong điều kiện nhiệt đới như ỏ Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng, mỗi mùa bò phải chịu một kiểu “khổ” khác nhau: mùa hè có nhiều cỏ xanh thì phải chịu nóng, mùa đông không bị nóng thì lại thiếu cỏ xanh Vì vậy, khắc phục được sự thiếu hụt thức ăn thô xanh trong vụ đông xuân có ý nghĩa sống còn đối với chăn nuôi bò sữa ở nước ta
Ảnh hưởng các điều kiện nhiệt đới đến bệnh tật của bò
Trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm bò sữa mang máu ôn đới rất dễ bị mắc bệnh, đặc biệt là bò cao sản Do bị stress nhiệt nên bò dễ mẫn cảm với bệnh tật Hơn nữa, trong môi trường nóng ẩm vi sinh vật gây bệnh dễ sinh sôi nảy nở nên các bệnh truyền nhiễm dễ phát sinh và lan truyền Viêm vú là một bệnh rất phổ biến đối với bò sữa khi nuôi trong điều kiện nóng ẩm Mặt khác, trong môi trường ẩm độ cao các loại côn trùng như ruồi, muỗi, ve rất nhiều Chúng không chỉ tấn công gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của bò mà còn là trung gian truyền bệnh kí sinh trùng đường máu rất nguy hiểm Bò sữa gốc ôn đới không có sức kháng tự nhiên đối với các bệnh ký sinh trùng đường máu như biên trùng và lê dạng trùng nên các bệnh này rất dễ xáy ra, nhất là trong mùa hè khi ký chủ trung gian là ve phát triển mạnh Ở những nơi mà thức ăn xanh cung cấp cho bò là cỏ cắt nơi đồng trũng, ven kênh rạch thì có nguy cơ cỏ này mang mầm bệnh như sán lá gan và kí sinh trùng đường ruột khác Bò
HF mới nhập gặp thời tiết nóng làm cho khả năng đề kháng bệnh tật thấp nên dễ bị bệnh
Vì những tác động trực tiếp và gián tiếp không thuận lợi nói trên nên ở các nước nhiệt đới bò sữa cao sản gốc ôn đới không thể phát huy hết tiềm năng cho sữa chúng Tổng kết tình hình nuôi bò sữa gốc ôn đới trong điều kiện nhiệt đới, Syrstad (1992) có nhận xét:
Trong một vài trường hợp việc nhập nội nuôi thuần chủng các giống bò gốc ôn đới vào nuôi trong điều kiện nhiệt đới đã thành công, nhưng phần đa các trường hợp đã làm thất vọng và đôi lúc dẫn đến thảm hoạ Bệnh tật, tỷ lệ chết cao, sinh sản kém là những hiện tượng phổ biến đối với bò ôn đới nhập nội cũng như các thế hệ con cháu của chúng Những con sống được cũng không cho được mức sản xuất như mong đợi Con gái sinh ra trong điều kiện nhiệt đới thường cho năng suất thấp hơn mẹ của chúng được nhập khi còn là bò tơ Bò sữa
ôn đới thuần chỉ nên nuôi ở những nơi mà stress nhiệt không lớn, có điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng và thú y tốt
Thực tiễn nuôi bò nhập nội ở Việt Nam
Nước ta đã từng có nhiều thời kỳ nhập nội bò sữa từ các nước khác nhau với một số giống bò khác nhau Đặc biệt đáng chú ý là trong những năm 1970, chúng ta đã nhập khá nhiều bò sữa Holstein Friesian (HF) từ Cuba về nuôi và nhân thuần tại các cao nguyên có khí hậu mát mẻ như Mộc Châu (Sơn La) và Đức Trọng (Lâm Đồng) Kết quả theo dõi trên đàn bò này qua một số thế hệ đầu nuôi tại Mộc Châu từ 1978 đến 1986 (Bảng 5) cho thấy mặc dù bò Holstein này đã được “nhiệt đới hoá” ở Cuba nhưng khi sang nuôi ở Việt Nam vẫn giảm năng suất sữa và thể vóc qua các thế hệ
Bảng 5: Khả năng cho sữa và sinh sản của bò Holstein thuần nuôi tại Mộc Châu
(Nguyễn Xuân Trạch và Lê Văn Ban, 1994a,b)
Thế hệ bò HF
Trang 7Khối lượng bê sơ sinh (kg) 36,1 31,7 30,4
Ghi chú: Bò HF gốc Cuba là bò được nhập trực tiếp từ Cuba; Bò Mộc Châu I là con của bò gốc Cuba
sinh ra tại Mộc Châu; Bò Mộc Châu II là con của bò Mộc Châu I
Năng suất sữa tính bình quân trên toàn đàn cũng giảm rõ qua các năm đầu nuôi thích nghi ở Mộc Châu và tỷ lệ sẩy thai đẻ non rất cao (Bảng 6) Mặt khác, bò Holstein thuần nuôi
ở Mộc Châu dễ bị mắc bệnh ký sinh trùng đường máu (nhất là về mùa hè do ve phát triển mạnh), bệnh viêm vú và các bệnh sản khoa khác, do vậy mà tỷ lệ loại thải hàng năm cao
Bảng 6: Diễn biến năng suất sữa và tỷ lệ sẩy thai đẻ non của bò Holstein qua một số năm đầu
nuôi thuần chủng tại Mộc Châu (Nguyễn Xuân Trạch, 2003b)
Năng suất sữa bình quân (kg/con/ngày)
Tỷ lệ sẩy thai và đẻ non (%)
Việc giảm sút năng suất sữa qua các thế hệ đầu và trong những năm đầu sau khi nhập nội như trên có thể một phần do thay đổi khí hậu Mặc dầu Cuba là một nước nhiệt đới nhưng
đó là một quốc đảo với khí hậu biển rất ôn hoà, có đồng cỏ chăn thả luân phiên khoa học với năng suất và chất lượng cỏ cao Khi chuyển về Mộc Châu khí hậu tuy mát mẻ nhưng vần mang tính lục địa Do vậy dù nguy cơ stress nhiệt không lớn nhưng bò HF nhập nội này vẫn phải chịu sự thay đổi về thời tiết khí hậu nên đã ảnh hưởng đến sự thích nghi Tuy vậy, vấn
đề cơ bản là do chăm sóc nuôi dưỡng không được tốt Giai đoạn đầu đồng cỏ được xây dựng theo mô hình đồng cỏ chăn thả luân phiên của Cuba và được chuyên gia trực tiếp chỉ đạo nên việc đảm bảo dinh dưỡng cho bò khá tốt, do vậy bò cho năng suất khá cao (bình quân 15,6 kg/con/ngày) Càng về sau đồng cỏ ngày càng suy thoái mà không được phục trạng kịp thời trong khi số lượng đầu con tăng lên nên bò bị thiếu thức ăn thô xanh nghiêm trọng, đặc biệt là trong vụ đông-xuân Đó là lý do chính làm cho năng suất bình quân trên toàn đàn giảm sút rõ rệt qua các năm về sau cùng như sự thoái hoá của các thế hệ sinh ra sau
Trước đó bò lang trắng đen Trung Quốc cũng đã được nhập về nuôi ở Nông trường Ba
Vì (Hà Tây) Tổng kết 10 năm sau đó cho thấy sản lượng sữa bị giảm 50%, khối lượng cơ thể
bò mẹ giảm 25-30%, bê sơ sinh chết 80% (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2000) Tuy nhiên, sau
đó đàn bò này được chuyển lên Mộc Châu và do ở đây có khí hậu mát mẻ hơn và được nuôi dưỡng tốt hơn nên sản lượng sữa dần dần được nâng lên Điều này cho thấy tầm quan trọng của điều kiện khí hậu và chăm sóc nuôi dưỡng đối với bò sữa gốc ôn đới nhập nội
Trong những năm gần đây, một mặt do các thế hệ bò về sau sinh ra trong nước đã thích nghi tốt hơn với điều kiện khí hậu, mặt khác do chăn nuôi bò sữa có lãi, việc đầu tư cho chăm sóc nuôi dưỡng bò được tốt hơn nên năng suất sữa của bò đã tăng lên liên tục qua các năm (bảng 7) Đặc biệt, ở những vùng mát mẻ có nhiệt độ <22OC hay THI<72 với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y tốt thì việc nuôi được bò HF thuần chủng rất khả quan Một khảo sát gần đây tại các cơ sở chăn nuôi bò HF tập trung và nông hộ ở Lâm Đồng cho thấy bò HF ở đây rất ít bệnh tật và cho năng suất sữa cao, đặc biệt trong khu vực chăn nuôi nông hộ nơi bò đã được chọn lọc, nuôi dưỡng và chăm sóc tốt hơn (bảng 8)
Bảng 7: Năng suất sữa bình của bò qua các năm (1000kg/chu kỳ 305 ngày)
(Cục Khuyến nông-Khuyến lâm, 2002)
Trang 8Năm 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002
B¶ng 8: N¨ng suÊt s÷a cña bß Holstein Friesian nu«i t¹i L©m §ång
(Nguyễn Xuân Trạch và Phạm Ngọc Thiệp, 2003)
C«ng ty LD Thanh S¬n
C«ng ty gièng bß s÷a L©m
§ång
Năng suất sữa
Năng suất bình
Gần đây một số bò HF và bò Jersey được nhập từ Mỹ và một số lượng lớn bò được nhập từ Australia và New Zealand về nuôi ở nhiều vùng khác nhau trong nước, kể cả ở đồng bằng và những nơi lần đầu tiên chăn nuôi bò sữa Nguồn gốc lý lịch và chất lượng giống của những bò nhập từ hai nước này không rõ ràng (có thể gồm cả bò HF, AFS, AMZ, NZFS) Cho đến nay, một số nơi cho thấy kết quả khá tốt, nhưng nhiều vấn đề về sức khoẻ, bệnh tật
và năng suất thấp cũng rất đáng quan tâm Cần phải có thêm thời gian dài hơn nữa mới đánh giá được khả năng thích nghi của những bò này trong điều kiện của các vùng khác nhau của nước ta Tuy nhiên, cần phải coi việc nhập này là nhập nguồn gen và là một giải pháp tình thế
và hết sức thận trọng bởi vì như đã phân tích ở phần trước nuôi thích nghi những bò này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi nuôi ở vùng đồng bằng (nóng ẩm) và/hay chưa có kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa
Trong số những nơi ta nhập bò vừa rồi thì bang Queensland của Australia được coi là
có khí hậu nhiệt đới gần với Việt Nam nhất Tuy nhiên, khí hậu ở đó ôn hoà hơn nhiều so với
ở Việt Nam Nhiệt độ trung bình ở đó vào tháng cao nhất là 25O
C (tháng 12 và tháng 1) và tháng thấp nhất dưới 15OC (tháng 6-7) Đặc biệt độ ẩm ở đó thấp, trung bình khoảng 60% Như vậy, ngay cả vào tháng nóng nhất thì chỉ số nhiêt-ẩm (THI) trung bình cũng chỉ khoảng
72, thấp hơn chỉ số THI trung bình cả năm của nhiều vùng của Việt Nam (trừ các cao nguyên như Lâm Đồng) Điêù đó có nghĩa là bò ở Queensland chỉ hơi bị stress nhiệt nhẹ vào tháng nóng nhất, trong khi đó ở Việt Nam bò hầu như luôn luôn bị stress nhiệt vào phần lớn các tháng trong năm nếu nuôi ở vùng đồng bằng
Mặt khác, ở Australia và New Zealand bò được sống trong điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc rất khác so với ở Việt Nam sau khi nhập về Ở hai nước này bò được chăn thả tự do thoải mái trên đồng cỏ rộng lớn, năng suất và chất lượng cỏ rất tốt Vào mùa khô tuy cỏ trên đồng cỏ thiếu hụt nhưng chúng lại được bổ sung thêm cỏ khô, cỏ ủ xanh dự trữ chất lượng cao và khoáng hỗn hợp Hơn nữa, trình độ quản lí của chủ trại, tính chuyên nghiệp của công nhân chăn nuôi rất cao, vì nuôi bò là một nghề truyền thống Khi chúng được chuyển đột ngột qua Việt nam, không những môi trường tự nhiên mới quá khác biệt mà chúng phải trải qua
Trang 9một thời kỳ “tân đáo” với đủ loại stress “nhân tạo” Hết thời gian nuôi tân đáo phần lớn bò được chuyển về nuôi tập trung hay phân tán tại các nông hộ theo phương thức nuôi nhốt trong điều kiện vệ sinh chuồng trại và nuôi dưỡng kém
Phần lớn nông dân nuôi bò nhập nội hiện nay chưa có kiến thức và kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa Có nhiều người lần đầu tiên nuôi bò nên không biết phát hiện bò động dục, không biết phát hiện viêm vú, không có khái niệm về stress nhiệt ở bò sữa, không biết phối hợp khẩu phần và cho ăn hợp lý Một bộ phận lớn bò nhập nội hiện đang được nuôi trong chuồng lợn cũ rất chật chội tù túng và cho ăn không khác mấy so với nuôi lợn Nhiều nông hộ
đã cho bò ăn quá nhiều thức ăn tinh (do không nhận thức được tầm quan trọng của thức ăn thô xanh với bò sữa hay do thực tế không có đủ cỏ, đặc biệt là trong mùa đông) nên đã làm cho bò bị rối loạn tiêu hoá, bị các bệnh về trao đổi chất và thậm chí bò đã bị chết Bệnh về chân móng là một hậu quả của việc chuyển bò từ chỗ chăn thả tự do trên đồng cỏ sang nuôi nhốt trên nền xi-măng và cho ăn nhiều thức ăn tinh
Có thể đưa ra vài ví dụ để nói rằng trình độ và kinh nghiệm của nông dân ta còn quá thấp để có thể đáp ứng được yêu cầu của bò sữa, đặc biệt là bò HF mới nhập nội Một số nông hộ ở Lương Sơn (Hoà Bình) do quá “quý” bê nên đã cho chúng ăn tới 10 kg sữa/ngày, không những không kinh tế trước mắt mà chắc chắn những con bê này sẽ bị khủng khoảng sau cai sữa và về sau khả năng tiêu hoá thức ăn thô của bò sẽ không tốt Cũng tại đây nhiều
hộ đã và đang cho bò ăn một chế phẩm “kích sữa” chứa các vitamin nhóm B, tốn tiền mà chẳng ích lợi gì vì vitamin nhóm B vi sinh vật dạ cỏ tự tổng hợp được Còn có cả chuyện nực cười nữa là (theo Phạm Kim Cương, 2003) có nông dân mới nuôi bò sữa nhập nội ở Hà Nam
đã mua bột sắn dây về cho bò ăn để “giải nhiệt” trong mùa hè
Các giải pháp khắc phục khí hậu nóng ẩm
Các giải pháp chuồng trại
Thiết kế chuồng trại hợp lý sẽ giúp cho việc điều hoà nhiệt độ và ẩm độ không khí, hạn chế được stress nhiệt cho bò Trái lại nếu thiết kế chuồng nuôi không hợp lý thì nhiệt độ
và ẩm độ trong chuồng có thể cao hơn môi trường bên ngoài, gây bất lợi cho bò sữa khi trời nóng Chuồng nuôi phải làm nơi cao ráo và thông thoáng Mái chuồng cao và lợp bằng vật liệu cách nhiệt tốt Xung quanh chuồng nên trồng cây bóng mát hoặc che mái rộng để cản ánh nắng chiếu trực tiếp Nếu nuôi bò chăn thả thì trên bài chăn và đường đi cũng cần trồng cây bóng mát và/hay làm lán che mát cho bò Trong chuồng nên lắp quạt thông gió và có hệ thống phun nước làm mát để hoạt động những lúc trời nóng Kết hợp phun nước dưới dạng hạt sương với quạt gió sẽ làm mát chuồng nuôi và làm tăng khả năng bốc hơi nước trên mình gia súc cũng như làm tăng sự mất nhiệt do đối lưu
Theo kinh nghiệm của một số nước nhiệt đới, vòi phun bụi nước và quạt gió đặt cao cách lưng bò 1,2-1,5m và phun theo chu kỳ 30 giây rồi quạt 5 phút theo chế độ tự động vào lúc trời nóng cho hiệu quả rất tốt Ở nước ta những nơi chăn nuôi tập trung và các nông hộ có
10 bò trở lên nên lắp đặt hệ thống phun nước và quạt gió như vậy Các hộ chăn nuôi nhỏ không có điều kiện đầu tư hệ thống quạt và phun sương tự động thì cần dội nước lên mình bò Phun nước lên mái chuồng cũng là một cách làm mát tiểu khí hậu chuồng nuôi giúp bò được thoái mái hơn Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu cụ thể hơn cả về mặt kỹ thuật và kinh tế chuồng nuôi bò sữa ở nước ta với những mức độ đầu tư khác nhau cho các quy mô chăn nuôi
và vùng sinh thái khác nhau
Các giải pháp nuôi dưỡng
Khi thời tiết nóng bò giảm thu nhận thức ăn, vì vậy để đảm bảo cho bò ăn đủ dinh dưỡng thì cần phải sử dụng những loại thức ăn có chất lượng cao Cho ăn thức ăn dễ tiêu và
có nồng độ dinh dưỡng cao sẽ đảm bảo được tổng nhu cầu dinh dưỡng cho bò khi lượng thu
Trang 10nhận vật chất khô giảm, đồng thời giúp giảm năng lượng gia nhiệt (liên quan đến tiêu hoá thức ăn) nên hạn chế được sinh nhiệt trong cơ thể bò Nên cho bò ăn thức ăn xanh chất lượng cao như cỏ non phơi héo (để vật chất khô đạt trên 25%) Khi ăn và tiêu hoá thức ăn thô nhiệt sinh ra nhiều, cho nên cần cho ăn thức ăn thô vào lúc trời mát (sáng sớm và chiều tối) Có thể phải tăng lượng thức ăn tinh lên để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho bò nhưng phải chia làm nhiều bữa hay trộn đều với thức ăn thô xanh để tránh rối loạn tiêu hoá và ức chế tiêu hoá của
vi sinh vật dạ cỏ đối với khẩu phần cơ sở Có thể tăng hàm lượng năng lượng cho khẩu phần
và giảm gia nhiệt bằng cách cho ăn nhiều các loại hạt có dầu để tăng hàm lượng chất béo
Đảm bảo cho bò luôn có đủ nước sạch uống tự do suốt ngày đêm cũng giúp chống nóng Uống nước lạnh giúp bò thải nhiệt vì uống vào nước lạnh và thải ra nước tiểu nóng làm giảm nhiệt độ cơ thể Bò chưa thích nghi với môi trường nóng có nhu cầu nước cao hơn so với bò đã thích nghi (Đinh Văn Cải, 2003)
Ngoài biện pháp nuôi dưỡng bò hợp lý trong mùa hè thì chiến lược giải quyết đầy đủ thức ăn thô cho bò trong vụ đông (mùa khô) là một yếu tố sống còn đối với chăn nuôi bò sữa Thế nhưng hiện nay vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức ở cả khu vực chăn nuôi tập trung và chăn nuôi nông hộ Cần phải hiểu rõ rằng trong mùa đông/khô hạn cả năng suất
và chất lượng cỏ tự nhiên cũng như cỏ trồng đều giảm sút nghiêm trọng nên thường không đảm bảo đủ dinh dưỡng cung cấp cho bò Nếu không khắc phục được tình trạng này thì không những năng suất sữa giảm sút mà sức khoẻ và khả năng sinh sản của bò cũng bị đe doạ Để đảm bảo cho bò có đủ thức ăn thô xanh quanh năm, một số giải pháp sau cần phải được áp dụng:
- Dự trữ cỏ thu cắt trong mùa hè-thu bằng phương pháp ủ xanh và làm cỏ khô
- Trồng bổ sung một số loại cây cỏ có thể phát triển được trong mùa đông/khô, đặc biệt là gần những nơi có nguồn nước
- Chế biến dự trữ các loại phụ phẩm xơ thô (như rơm rạ, cây ngô sau thu bắp, ngọn
lá mía, vv) để cho bò ăn trong mùa thiếu cỏ xanh
Các giải pháp về giống
Nhập nội và nhân thuần
Chúng ta có thể nhập nội và nhân thuần bò HF nhưng phải hết sức thận trọng Bò HF thuần cần phải có thời gian để thích nghi với thời tiết nóng ẩm Con non sinh ra trong môi trường nóng dễ thích nghi hơn những con được nhập từ nơi khác về Bò nhập lúc càng non thì càng dễ thích nghi với môi trường mới hơn Chính vì vậy, khi nhập bò HF vào những nơi có khí hậu nóng ẩm ta nên nhập chúng ở độ tuổi còn non (bê từ sau cai sữa đến trước khi thành thục về tính) Nhập phôi để cấy truyền cho bò địa phương được xem là phương pháp nhập nội tốt hơn so với nhập bò sống vì bê sinh ra dễ thích nghi hơn và không có nguy cơ “nhập nội” các bệnh lạ
Thời điểm nhập gia súc cũng có tác động lớn đến sức khoẻ đàn bò nhập Tốt nhất là nên nhập vào mùa mát mẻ Giai đoạn nuôi tân đáo đặc biệt quan trọng, cần coi đây là giai đoạn chuyển tiếp giúp bò thích nghi dần với môi trường sống mới Trong thời gian nuôi tân đáo bò phải được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt và tạo ra cho bò những điều kiện trung gian để chúng có thể “chuyển tiếp” được dễ dàng
Nói chung, bò HF thuần chỉ thích nghi tốt với điều kiện nhiệt độ dưới 22OC hay THI
<72 Hơn nữa, nuôi bò HF thuần đòi hỏi phải có kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và quản lí rất cao mới phát huy hết tiềm năng cho sữa Trong điều kiện càng nóng ẩm bò HF càng dễ cảm nhiễm bệnh tật Do vậy, chỉ nên nuôi bò HF thuần chủng ở những vùng khí hậu mát mẻ, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y tốt Những người mới khởi sự chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở đồng bằng, không nên nuôi bò HF thuần