Cội nguồn và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam: Phần 1 trình bày các nội dung chính sau: Sơ lược về nguồn gốc và lịch sử dân tộc Việt Nam, truyền thuyết và huyền thoại Hùng Vương, họ Hồng Bàng, người con gái núi Tam Đảo, An Dương Vương lập cột đá thề,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 2CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN h Òa d â n Tộ c v i ệ t n a m
Trang 4"Dãn ta phái biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kế năm hơn bốn ngàn năm
Tố tiên rực rỡ anh em thuận hòa Hồng Bàng là Tố' tiên ta
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang"
HỒ CHÍ MINH
Trang 5^ ư ư Ị l%aễL đ tì^
Bạn đang cầm trong tay một cuốn sách nhỏ mà nội
dung của nó rất gân gũi với mọi người Cuốn "Cội nguồn
và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam" không phải là
cuốn truyện, chẳng phải là một chuyên đê khảo cứu, nhưng nó mang cái tầm xã hội rộng lớn : Nhìn lại nguồn gốc và lịch sử dân tộc Việt Nam Cuốn sách không phải là một tác phẩm tn ì tình, nhưng nó chứa đựng chất thơ của tình cảm con cháu Lạc Hông hướng vê cội nguồn dãn tộc, hướng v 'ê Tổ tiên Cuốn sách không phải là một công trình luận thuyết, nhưng những câu chuyện về đời Hùng Vương
có chiều sâu vê triết lý đạo đức xã hội sâu xa.
Ba nội dung nói trên, tác giả sưu tâm và biên soạn nhằm giới thiệu với bạn đọc nhất là các bạn trẻ những tư tưởng, tình cảm sâu sắc, và t ế nhị của ông cha ta ngày trước Những tư tưởng và tình cảm đó sáng đẹp hơn kim cương, có giá trị muôn đời Và có thể nói, một số những mẫu chuyện (chưa phải là tất cả) gọi là truyền thuyết, huyên thoại ỏ trong tập sách nhỏ này chứng minh cho
Trang 6những hoạt động văn hóa xã hội thời Hùng Vương mà nhân dân ta, dân tộc ta đã ghi nhớ đời đời.
Nội dung cuốn sách thật ra không có gì mới vì nhân dân ta nhắc đến chuyện các vua Hùng như ăn cơm bữa
và thỏ không khí Tuy vậy, mỗi lần ôn lại cái hay cái đẹp vẫn thấy cái mới đây khoái cẩm cho trí tuệ vá rất đáng lấy làm tự hào mình là con dân nước Việt, là con cháu của các vua Hùng.
NGƯỜI BIÊN SOẠN
Trang 7I ỉ!ơ lược VẾ N6UÔỈI 6ỐƠ
Và ụCH ĩử o ắ n TỘC VIỆT IMM
N guồn gôc của d ân tộc V iệt N am đã đi vào huyền sử, chỉ còn só t lại dư âm từ đời T riệu Đà (207 - 137 trước Công nguyên) nhưng cũng không còn v ế t tích gì để lại cho đời Đ ến đời Lý (1010 - 1224) đã có m ột ít sách về loại h iến chương như Ngọc Điệp, H ìn h Thư nhưng v iết còn r ấ t sơ lược
Đ ến đời T rầ n (1225 - 1399) mới có T rần T ấn được
vua T rầ n T hái Tông giao cho làm Vlệí Chí và Lê
V ăn Hưu có n h iệm vụ hiệu chỉnh lại Việt C hí ấy
Bộ sử n ày chỉ chép từ đời T riệu Vũ Đ ế đến Lý
C hiêu Hoàng Sau đó bộ A n N a m Chí lược của Lê
Tắc (1333) cũng chép từ đời T riệu đến đời T rần Chỉ b ắ t đầu từ Ngô Sĩ L iên theo lện h vua Lê T h án h
Tông (1460 - 1497) mới soạn Đại Việt sử ký toàn
th ư tro n g đó v iết từ H ồng B àng đến T hập nhị sứ
quân gọi là ngoại kỷ và từ Đ inh T iên H oàng đến
Lý T h ái Tổ gọi là b ản kỷ
Trang 8CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Về nguồn gốc họ H ồng B àng của Tổ tiê n ta r ấ t cao đẹp Theo tục tru y ền th ì vua Đ ế M inh là cháu
ba đời vua T h ần N ông đi tu ầ n th ú phương N am đến núi N ghĩa L ĩnh thuộc tỉn h Phú Thọ bây giờ gặp n à n g tiên , lấy nhau đẻ ra người con tê n là Lộc Tục Sau Đ ế M inh phong cho Lộc Tục làm vua phương N am xưng là K inh Dương Vương
K inh Dương Vương lấy con gái Động Đ ình
Q uân là Long nữ đẻ ra Sùng L ãm nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân
Lạc Long Q uân lấy con gái vua Đ ế Lai tê n là
Âu Cơ đẻ m ột lầ n được m ột tră m quả trứ n g nở ra
m ột tră m con trai Lạc Long Q uân bảo Âu Cơ "Ta
là dòng dõi long quân, còn hậu là dòng dõi th ầ n
tiên , ă n ở lâu với nhau k hông được Nay được tră m
đứa con th ì hậu đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể N am Hải"
Lạc Long Q uân phong cho người con trưởng làm vua nước V ăn Lang xưng là H ùng Vương Đó
là ông vua đầu tiê n của họ H ồng Bàng
K inh Dương Vương là m ột n h â n v ậ t có tâm tín h cao thượng và độ lượng h iếm có là m ột vỊ vua
Trang 9CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VÀN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
CÓ công d ẫ n bộ lạc vượt qua song Dương Tử xuông
vùng đồng b ằn g phì nh iêu để xây dựng n ề n văn
m in h nông nghiệp Vua đã ý thức được ba tà i nguyên cơ b ả n là Trời (khí hậu, thời tiế t, ngày đêm), Đ ấ t và sức người để tự đ ặ t cho m ình cái tê n Vương là th ô n g m inh, th ấ u suôT T h iên N h â n Địa
ấy Cái tê n K inh Dương Vương tượng trư ng và biểu
lộ yếu tô" cơ b ả n của n ề n v ă n m inh nông nghiệp của người Bách V iệt Chữ V iệt này là biểu tượng
sự sin h sôi nảy nở của d â n tộc ta, quả có nhiều
h ộ t (bách) Tượng h ìn h cái quả ấy chính là chữ
V iệt m à người V iệt thường dùng chứ không phải
là chữ V iệt c h iế t tự như người Tàu xuyên tạc, bôi nhọ nước ta
T h ậ t vậy, nói đến chọn tê n đặt, người V iệt xưa
r ấ t th ậ n trọng, đ ặ t tê n ít ra phải nói lên được ý nguyện của m ìn h hoặc p h ải có m ột ý nghĩa gì Thí
dụ Đê M inh chứng tỏ là người có sự th ô n g hiểu
t r iế t lý, người chỉ huy sán g suô"t, yêu dân yêu nước;
Lộc Tục là người sán g suốt và thương yêu d ân như
con đẻ th ì phải lo k in h t ế cho dân, lo sao cho lộc của trờ i tr ê n m ặ t đ ấ t còn m ãi để nuôi lấy con dân Bởi vậy, khi Lộc Tục làm vua xưng là K inh Dương
Trang 10Vương K inh là đường th ẳn g , Dương là á n h sáng,
Vương là sự thông suốt T h iên - N h â n - Địa; S ù n g
L ã m , L ãm là ngắm , Sùng là cao xa bao quát Sùng
L ãm là con người có m ắ t n h ìn xa trô n g rộng Sùng
L ãm xưng là Lạc Long Quân Lạc Long Q uân -
Lạc là con sư tử, Long là rồng Dòng dõi của rồng tượng trư ng n ăn g lực huyền diệu, lớn được, nhỏ được, b iến được, hóa được Khi lớn th ì làm m ây làm mưa, khi nhỏ th ì ẩ n bóng giấu h ìn h , khi ẩn khi h iện tro n g b ấ t cứ h o àn cản h nào rồng cũng
th ích ứng cho n ê n rồng tượng trưng cho sự b ấ t
diệt, tồ n tạ i m ãi m ãi Còn chữ H ồng B à n g có nghĩa
là ý thức của con người như chim bay giữa không gian và thời gian, bay k hông có thời gian và cây
sô" Chữ Hồng B àng ch iết tự từ chữ H án B à n g là
ngôi n h à lớn tượng trư ng cho k h ô n g gian Chữ
H ồng, m ột bên có chữ giang là sông - tượng h ìn h
cho thời gian luôn luôn chảy và chữ điểu m ộ t bên
là chim, tượng h ìn h cho ý thức
N h ìn lại, Tổ tiê n ta đã nghĩ ra những cái tê n
th ậ t có ý nghĩa và th ô n g hiểu mọi sự tr ê n đời đã cách đây gần 5000 năm Và Tồ tiê n ta b ằn g n g ần
ấy thời gian đã đóng góp cho sự tồ n tạ i vì hòa bình
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VÀN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 11và p h á t triể n , xây đắp tr ê n cơ sở tìn h n h â n ái, tín h cộng đồng M ầm m ống của n ề n văn m inh V iệt
N am m à Tổ tiê n ta để lại t h ậ t không th ể có tưởng tượng nào cao đẹp hơn, lý thú hơn tượng h ìn h m ột bọc tră m trứ n g nở th à n h tră m con, sau n ày sinh hóa ra to à n th ể con d â n V iệt Nam Cùng trong
m ộ t bọc sin h ra k h ô n g có kẻ trước người sau, tră m trứ n g đều thụ hưởng cùng tìn h yêu thương rộng
rã i n hư Trời Đ ấ t bao la hùn g vũ T răm người con sông chung với nhau, m ột m à là trăm , tră m m à là
m ột, kẻ ở tr ê n núi cao, kẻ ở dưới biển sâu không
chỉ là chung m ộ t gốc rồi chia ra n gành lớn, n g àn h
nhỏ, n h á n h đầy n h á n h vơi m à là chung cùng m ột bọc
Từ khởi đầu cho đến H ùng Vương th ứ 18 không
có việc tra n h chấp địa vị, k hông chém g iết nhau
vì đ ấ t đai, không ganh g h é t nhau vì quyền lợi
K hông cần chờ đến lúc xung khắc để g h é t nhau,
b iế t tiê n liệu trước sự việc nh ư không ở được với
nhau lâu th ì chia con ra m à đi mỗi người m ột phương để giữ nguyên vẹn cái tìn h với nhau (như Lạc Long Quân), không b iế t lấy cớ gì để giải bày nổi oan khi th ấ y an h về th ì th à ch ết còn hơn (như
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VÀN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 12em n h à họ Cao); n h ẫ n nhục chịu đựng (như Chử Đồng Tử); lấy nghĩa cha con làm trọ n g (như Chử Đồng Tử) lấy tìn h vợ chồng th ì hơn (như cây trầ u
và cây cau)
N hững sả n phẩm nói tr ê n không đơn th u ầ n là trí tưởng tượng m à là hồi quang của h iệ n thực xã hội V iệt Nam , Tổ tiê n ta ngày trước Có th ể nói những câu chuyện về thờ i đại H ùng Vương là m ột
th ể sử th i tro n g thời đại lập quô"c
CỘI NGUỐN VÀ BẢN SẮC VẢN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
*
*
Xã hội của ta lúc bấy giờ chỉ chia làm 15 bộ (còn gọi là quận) là V iệt Thường, Giao Chỉ, Lục
H ải, Hoài Hoan, N inh H ải, Dương Tuyền, Chu
D iên, Vũ N inh, Phú Lộc, Cửu C hân, N h ậ t Nam ,
C h ân Đ ịnh, V ăn Lang, Quế L âm và Tượng Quận Các vua H ùng chia nhau ra cai trị Có khi ba bô"n người tro n g cùng m ột chi họ k ế tiế p nhau làm vua
m à cũng chỉ gọi cùng m ột tê n là H ùng Vương th ứ
m ấy, khi sang qua chi họ khác vì chi n ày h ế t người
tà i đức th ì mới lấy m ột d an h hiệu H ùng Vương th ứ
m ấy khác, tiếp theo
Trang 13Nói về người tà i đức th ì không p h â n b iệ t tra i gái trẻ già như cậu bé con làn g Phù Đổng có tài cũng được quyền chỉ huy quân đội đi đ án h giặc
M ột kẻ nghèo n à n không có lấy m ột cái khố^ nhưng
có lòng hiếu th ảo như Chử Đồng Tử th ì cũng lấy được n à n g công chúa
Q uan niệm của Tổ tiê n ta ngày xưa là khi có quôh b iến lại cho sứ đi rao gọi người h iền tà i m à không gọi các cấp phong hầu; khi truyền ngôi cho con th ì chọn người hiếu thảo, h iện đức b iế t dâng
b á n h dầy, b á n h chưng tượng h ìn h Trời Đ ất Tài đức làm điều k iện để cầm quyền cai trị Sự nôì tiế p ngôi vua là nôi tiếp trá c h nhiệm chứ không
p h ải là sự nối tiế p m ột sự th ụ hưởng
X ét về m ặ t phong tục tậ p quán, xã hội ta có tục nhuộm ră n g đen, n h ai trầu , vẽ m ình, người
T àu th ấ y vậy, hỏi và sứ của ta trả lời vẽ m ình để cho th ủ y quái khỏi ă n th ịt, n h ai trầ u để trừ độc khí, nhuộm ră n g để làm c h ặ t chân răng
Mỗi lần , sau thời vụ nh ư vào đầu xuân dân chúng vui chơi, mở hội Leo dây, m úa rối x u ất h iện cùng với nhữ ng điệu h á t quan họ, trố n g quân, (ớ
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 14V ĩnh Yên) m à còn n h en lê n những đóm sán g mới tro n g h o ạ t động văn hóa của n h â n dân, h ă n g say lao động và chiến đấu.
Ta có tiế n g nói riêng, có m ột nếp suy nghĩ riêng Hơn m ột ngàn n ăm người Tàu đô hộ m à không thể’ đồng hóa được Ngô Vương Quyền với
tr ậ n Bạch Đ ằng nước ta lại tự lập riê n g m ột sơn
hà Sau 1000 năm bị đô hộ, ta vẫn là ta m ặc dầu
xã hội V ăn Lang đã bị tà n phá, kho tà n g đồ sộ của n ền văn m inh Văn Lang đã rơi vào tay của những triều đại phong k iến phương Bắc Đó là nhờ nước ta đã có m ột n ền v ăn m inh vững chắc đ ạ t đến đỉnh cao của nền văn m inh n h â n loại thờ i cổ đại n ên không sợ, không phục, k hông chịu b ắ t chước nếp sông ngoại bang Cũng nhờ th ế n ê n d ân
ta trá n h được cái m ấ t gốc m ặc dầu v ăn h ó a của Tàu tr à n sang với những học th u y ết như Khổng, Lão, T rang N ền văn m inh V ăn Lang là k ế t quả của sự k ế t hợp sức m ạn h của vũ trụ vởi tin h hoa trí tuệ của con người Lạc Việt
T h ậ t vậy, người Bách V iệt có m ột tr ìn h độ tiế n hóa r ấ t cao cho n ên khi đ ấ t nước bị thuộc H án,
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 15người V iệt đã có m ột cô"t cách riên g và v ăn m inh
N hờ vậy các cuộc đôì k h á n g về sau suốt 1.000 năm khi công khai, khi bí m ậ t vừa bền bỉ, dai dẳng vừa uyển chuyển, lin h diệu
B ên tro n g th ì giữ được nguyên vẹn cốt cách của giống nòi, bên ngoài th ì lậ t được ách đô hộ lớn gấp m ấy chục lần
V ăn hóa H ùng Vương k hông chịu ả n h hưởng
v ăn hóa T rung Hoa, lại chứa chan tìn h cảm và đặc
b iệ t phong phú D ân Bách V iệt mơ mộng, giàu tìn h cảm và có óc sán g tạo dồi dào cho n ên từ thời xa xưa đã xây dựng được m ột khoa học th iê n văn, lịch
p h áp và cả m ột n ề n y học phương Đông đồ sộ.Nói cụ th ể hơn, qua nhữ ng truyền th u y ết dân gian được ghi chép lại cho ta th ấ y trước khi văn hóa T rung Hoa vào V iệt N am (từ 110 trC N ) th ì người Lạc V iệt từ thời n h à nước Văn Lang và nhà nước Âu Lạc đã p h á t triể n tư duy đến mức độ tương đôd cơ b ả n về tr iế t học phương Đông, như âm dương ngũ h à n h là nguồn gô"c sinh th à n h và biến hóa,
p h á t triể n m uôn v ậ t muôn loài Điều đó chứng tỏ con người đã n h ậ n b iết được quy lu ật của tự n h iên
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VẨN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 16và k h ẳ n g định được vị th ế của con người tro n g th ế giới tự n h iê n đó.
độ văn m inh đời Hồng B àng với các nước khác
- K inh Vê Đa của An Độ cùng với đạo Bà La Môn x u ất h iện vào kh o ản g 1000 n ăm trước công nguyên (tr.CN ) nghĩa là sau H ồng B àng 1879 năm
- P h ậ t Thích Ca của Ấ n Độ xuống th ế n ăm
528 trC N nghĩa là sau H ồng B àng 2402 năm
- Khổng Tử của T rung Hoa ra đời n ăm 550 và
Trang 17- N hững n h à tiê n tri Do T hái lập độc th ầ n giáo đồng thời với sự điêu tà n của th à n h Jeru salem (587 trC N ).
- Ai Cập suy yếu và bị Ba Tư xâm chiếm n ăm
- Đức C húa Jé su s h o ạ t động công khai năm
26 - 29 hay 27 - 30 sau CN nghĩa là sau Hồng
Trang 18nhắc đến cuô"n N guồn gốc d â n tộc V iệt N a m của
Đào Duy Anh, có đoạn :
"Người Lạc V iệt ấy (tr 60) đã b iết kỹ th u ậ t
đồ đồng của người Ngô V iệt là kỹ th u ậ t đã tiế n đến m ột trìn h độ r ấ t cao Sau khi nước V iệt bị diệt,
có lẽ người Lạc V iệt di cư đến m iền lưu vực sông
N hị và sông Mã đã làm môi giới để du n h ậ p kỹ
th u ậ t đồ đồng có tiến g của người V iệt vào m iền Nam Từ khi tru y ền đến m iền Bắc V iệt th ì kỹ
th u ậ t đồ đồng đã chịu ít nhiều ả n h hưởng của văn hóa người In đ ô n êsien thuở trước và nhờ điều k iện sin h h o ạ t dễ dàng mà p h á t đ ạ t đến m ột trìn h độ
r ấ t cao S ản phẩm đặc b iệ t n h ấ t của kỹ th u ậ t đồ dùng ấy là trô n g đồng lớn m à trô n g đồng Ngọc Lũ
h iện tà n g trữ ở Viện Bảo tà n g Quô"c gia H à Nội là
đại diện T rông đồng m à Mã Viện lây ở đ ấ t Lạc
V iệt đem về T rung Quốc đúc tượng ngựa đồng chính
là th ứ trô n g đồng ấy Sách Lâm Ấp Ký (dẫn ở Thủy Kinh Chú) lại chép rằ n g người Lạc V iệt còn đúc cả thuyền bằng đồng"
Khi nói nước ta đã có gần 5000 năm lịch sử lúc ấy có vua quan h ẳ n hoi, có t r ậ t tự kỷ cương
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 19đ àn g hoàng Đó là chuyện có th ậ t hay m ạo n h ậ n ?
N ếu lịch sử do ta biên soạn th ì có th ể đ ặ t dấu hỏi nghi vấn Vì vậy xin trích d ẫ n m ột sô" đoạn sau đây để người đọc th am khảo
T rong S ử ký T ư M ã T h iê n của T rung Quô"c v iết
vào thờ i H ân Võ Đ ế (140 - 88 trCN ) nói :
- Lạc là nước Việt "Giao Chỉ có huyện Lạc, trô n g nước triều lên xuông, d ân kiếm ă n ở ruộng, người nào được ă n lộc ở ruộng gọi là Lạc hầu Mọi huyện tự gọi là Lạc tướng, ấ n đồng dây xanh tức
là quan lện h ngày nay"
- T rong bộ Đại T h a n h n h ấ t thống chí cũng của
T rung Quô"c (quyển 422, tr.40) chép rằn g
"Lạc vương quân ở châu Tam Đái Phủ Giao Châu Lịch Đạo Nguyên (trong bộ T h ủ y k in h chú)
có d ẫn Giao C hâu ngoại vực ký Quyển này chép vừa lúc chưa có quận, huyện th ì có ruộng lạc cầy cấy theo nước triều lên xuông; làm ruộng là Lạc dân, trị d ân là Lạc Vương; dưới có Lạc hầu, Lạc tướng Gọi nước là V ăn Lang, phong tục th u ần phác, t h ắ t n ú t để ghi nhớ công việc T ruyền 18 đời,
bị con Thục Vương là P h á n tiêu diệt Cung n ền
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 20h ãy còn" N h ân đây cũng cần hiểu rõ tạ i sao sử chép có 18 đời vua H ùng với độ dài thờ i gian từ
2879 tới 258 nghĩa là kh o ản g 2622 năm N ếu tín h mỗi thời đại là m ột ông vua th ì ông ấy phải tr ị vì tới 145 n ăm và cuộc sống của ông vua ấy ít n h ấ t
có 170 tuổi Bởi vậy, tro n g 18 đời m à thực ra không
p h ải chỉ có 18 ông vua
Đặc điểm nổi b ậ t của xã hội nước ta lúc ban đầu là mỗi ông vua k hông có tê n riên g và chỉ gọi chung là H ùng Vương th ứ n h ấ t, H ùng Vương th ứ hai cho đến H ùng Vương th ứ 18 Xây dựng được nguyên tắc đó không p h ải dễ nếu không có tin h
th ầ n vì nước vì dân, Tổ quôh tr ê n h ế t, trước h ế t,
đ ặ t cái chung lên trê n cái riêng, k hông có cái cá
n h â n chủ nghĩa Khác h ẳ n với xã hội T rung Hoa -
m ột tổ chức phong kiến, cha tru y ền con nôl, có tước có lộc, có chức vụ h ẳ n hoi trong triề u đ ìn h và ngoài xã hội, có p h ân b iệ t rõ rà n g các giai cấp,
không được phép lẫn lộn Xã hội T rung Hoa, ỗ mỗi
địa phương có người đứng đầu làm th ủ lĩn h gọi là nước chư hầu, cứ năm n ăm triề u cống n h à vua m ột lần
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 21T ruyền th ố n g và b ả n sắc văn hóa d ân tộc của
mỗi quôc gia là ở chỗ ấy.
Nói đến văn hóa, đặc b iệ t là chữ viết H àn
T huyên là người ký giấy k h ai sinh cho chữ Nôm Chữ Nôm ra đời là do nhu cầu tro n g xã hội V iệt Nam Chữ Nôm ra đời là m ột sự sán g tạo và khi
x u ất h iệ n rồi th ì k hông có gì là lạ nữa Chữ Nôm
là th ứ chữ hoặc mượn h ẳ n chữ Nho hoặc đem ghép nhữ ng chữ Nho dùng to àn th ể hay m ột p h ầ n th à n h chữ mới để v iết tiế n g V iệt N am - V iết chữ Nôm
Suốt 1000 n ăm Bắc thuộc ta vẫn giữ nguyên vẹn m ột lôd nói riêng P h ải chăng ta phải k iến tạo
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 22ra loại chữ Nôm để tiế n g nói của ta mỗi ngày được phong phú thêm Khi chữ Nôm được dùng chính
thức, đứng bên cạnh chữ Nho ở ngay giữa T riều
Đường, rõ rà n g d ân ta phải có m ột ý thức quốc gia
m ạn h mẽ không ai có th ể n g ăn cản được Vì vậy giá trị của chữ Nôm không phải chỉ là giá trị của việc làm đơn từ k iện cáo hay văn tự mua b á n m à
là biểu tượng của sự đối k h á n g về văn hóa để xây dựng m ột n h à nước độc lập h o àn toàn Sự đối k h á n g
và xây dựng ấy là k ế t tin h qua từ đời n h à Lý đến đời nhà T rần Chu V ăn An sau H àn T huyên soạn sách Quô"c ngữ th i tập, ông đã đ ặ t tê n là Quô"c ngữ
th i tậ p có nghĩa là ông đã gọi chữ Nôm ấy là chữ Quôc ngữ rồi Rõ ràn g đây là m ột giá trị đích thực Đây là sự k iện cực kỳ quan trọ n g sau khi xây dựng
ý thức hệ Hồng Bàng
Ta không phủ n h ậ n giữa sự giao tiếp của ta
và T rung Hoa, tiế n g và chữ V iệt có chịu ả n h hưởng của tiến g và chữ v iết T rung Hoa Song, sự chịu ả n h hưởng này suôT n g àn n ăm đô hộ đã không bị đồng hóa T iếng ta đã không trở th à n h m ột phương ngữ của nước đô hộ Đó là điều lạ lùng tro n g lịch sử
CỘI NGUỐN VÀ BẢN SẮC VÀN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 23Có những chữ sau này ta quen gọi là H án V iệt
ta đã học với người Tàu, nhưng không đọc bằng giọng Tàu m à p h á t âm theo giọng Việt, th í dụ :
M ạnh hẩu, tiế n g Tàu là cái m iệng, ta đọc là m ẫn khẩu T ại sao vậy ? Nếu chẳng có ý thức độc lập
về ngôn ngữ (như H enri M aspéro nói) th ì làm sao lại b iến hóa cả tiế n g của người đô hộ m ình như vậy Theo phương p h áp này th ì người V iệt đọc bao
n h iêu chữ H án ra giọng V iệt cũng được Và chữ
H á n càng nh iều bao nh iêu th ì tiế n g V iệt càng phong phú bấy nhiêu
T rong quá trìn h giao lưu h à n g n g àn năm với
v ăn hóa T rung Hoa, v ăn hóa V iệt Nam đã không ngừng p h á t triể n b ằn g cách tiếp n h ậ n có chọn lọc nhữ ng yếu tố tích cực của văn m inh v ậ t c h ấ t và tin h th ầ n T rung Hoa để bổ sung, làm giàu cho n ền văn hóa của m ình Đồng thờ i người V iệt N am từ các n h à lã n h đạo trí thức cho đến người d ân bình thường đều có ý thức m ạn h mẽ trong việc bảo tồn
b ả n sắc văn hóa d ân tộc của chính m ình
N hưng lịch sử cũng đang còn có m ột điều còn
p h ải tiếp tục suy nghĩ - đó là hệ th ố n g chữ v iết
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 24chính thức của n ền văn m inh V ăn Lang Đây là điều k iện t ấ t yếu để p h á t triể n n ề n v ăn hóa có đủ
k h ả n ă n g d iễn đ ạ t những k h á i niệm trừu tượng của th u y ết Âm Dương ngũ h àn h
Dấu ấ n được ghi n h ậ n xưa n h ấ t về chữ v iết của người Lạc V iệt gọi là khắc văn Khoa Đẩu Vua
N ghiêu - n ăm 2253 trC N đã sai người chép lại và gọi là Quy Lịch (lịch rù a theo sách Thông chí của
T rịn h T iền - T rung Quốc) N hư vậy, sự x u ất h iện văn Khoa Đẩu được ghi n h ậ n từ n ăm 2253 trC N
C ăn cứ vào những tư liệu cổ, các n h à khảo cổ
V iệt N am đã đề nghị cơ quan văn hóa L iên H iệp Quô"c ghi n h ậ n di tích văn hóa ở S aPa - Lào Cai,
ở đây có tản g đá ghi chữ Khoa Đẩu là di sả n của
n ề n v ăn hóa th ế giới
C húng ta tin chắc ngày xa xưa người V iệt cổ
đã có chữ v iết đích thực C húng ta có th ể tin như
th ế vì sự tồ n tạ i n ền văn m inh tư tưởng đã đ ạ t đến đỉnh cao của xã hội V ăn Lang so với các xã hội cổ đại cùng thời tr ê n th ế giới như Ai Cập, Babilon Hy Lạp - La Mã, Ân Độ, T rung Quôh v.v
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 25th ì k hông th ể th iếu chữ v iết của thời đại Hùng Vương.
BẢNG ĐỐI CHIẾU LỊCH sử VIỆT NAM
VÀ LỊCH SỬ TRUNG QUỐC
(từ thời B ắc thuộc đến thời Lý)
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Lịch sử V iệ t Nam Lịch sử Trung Quốc Sự kiện
đáng chú ý Triều
đại
Niên
biểu
Triều dại
Niên biểu
Trang 26CỘI NGUỐN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Bắc
thuộc
111 - 931 Tam Quốc
Tấn Nam Bắc Triều Tùy Đường Ngũ Quý
- Bắt đầu có bản gỗ in sách
Ngô 939 - 965 Tống 958 - 1270 - Chu Hy với Đinh 965 - 980 Nguyên 1230 - 1368 Luận ngữ
Lê 980 - 1009 Minh 1368 - 1458 làm ra tứ thư.
và lịch sử d ân tộc V iệt N am ta với ý thức được
h ìn h th à n h gắh liền với thờ i kỳ Bắc thuộc đen tối hơn n g àn năm Tiếp đến lại là m ột thời kỳ th ử
th ác h đầy cam go từ Hậu T rần , qua sự xâm lăn g của n h à M inh, qua n h à Lê, qua thời nội loạn Mạc,
T rịn h , Nguyễn và tiếp đến thời P h áp thuộc
*
*
26
Trang 27Sau chiến th ắ n g quân Nguyên và quân M inh, nhữ ng nỗ lực k iến th iế t nước n h à không có gì nhiều
để so sá n h với những công trìn h vĩ đại của thời
Lý và T rần N hững cơ sở có sẵn của tiề n n h â n cũng k hông được tu sửa, bảo dưỡng Mặc dầu có những n h â n v ậ t lịch sử n hư Lê Lợi, Hồ Quý Ly, Mạc Đ ăng Dung, Quang T rung v.v nhưng t ấ t cả sin h vào cái thờ i kỳ đi xuống của lịch sử
N goài chiến công oanh liệ t của Nguyễn Huệ phá quân T h an h và C húa Nguyễn mở th êm đ ấ t đai bờ cõi ở m ũi Cà Mau, nhưng cũng chẳng được
bao lâu thực d ân P h á p nổ súng ở Phú Xuân chiếm
đóng nước ta L àn sóng văn m inh phương T ây tr à n vào V iệt N am như nước vỡ bờ và đã theo ba hướng ;
- Hướng th ứ n h ấ t là tô n giáo Gia Tô với h ìn h thức tổ chức quy mô, có phương pháp, có hệ thống
để nô dịch d ân ta
- Hướng th ứ hai là súng đ ạn và kỹ th u ậ t với
tr ìn h độ cao vượt h ẳ n ta r ấ t nhiều lầ n để dễ bề
đ à n áp, cai trị, bóc lột
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 28- Hướng th ứ ba là học th u ật, văn chương với những điều k iện h ế t sức th u ậ n lợi và dễ d àn g để phục vụ cho chúng.
Trong lịch sử, đây cũng là m ột cuộc th ử th ác h
vô cùng lớn và không kém đau thương cho xã hội
V iệt Nam V ăn m inh phương T ây tr à n vào nói là với sứ m ện h khai hóa và bảo hộ, tro n g thực tế,
n ền văn m inh ấy lại đem theo mọi loại kỹ th u ậ t mới về h à n h chính, cai trị Đặc b iệ t là đem theo
m ột nếp sống của phương Tây, m ột quan n iệm luân
lý của họ, nó làm lay chuyển tậ n gô"c rễ những quan niệm tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức của người xưa, hiểm độc hơn là đầu độc văn hóa thực d ân và đ án h m ạn h vào niềm tự tô n của
d ân tộc
Suốt tră m n ăm bị đô hộ, không ít người V iệt
N am ta bị phương T ây hóa, nhưng n h â n d â n ta đã
có k in h nghiệm và đã chông trả m ạn h mẽ Đó là
k h ả n ă n g đặc b iệ t của nòi giông V iệt Nam , tro n g
đó có khả n ăn g giao tiếp để học hỏi : "đãi c át tìm vàng"
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 29K hông cam chịu nỗi nhục m ạ t nước, n h â n dân
ta đã tiế n h à n h cuộc đấu tra n h bền bỉ, k iên cường,
b ấ t k h u ấ t để g iàn h độc lập Từ các sĩ phu yêu nước
nh ư P h a n Đ ình P hùng, Trương Định, Nguyễn
T h iện T huật, Thủ Khoa H uân, Hoàng Hoa Thám
đã liê n tục p h á t động các phong trào dấy lên các cuộc nổi dậy của n h â n dân, khởi nghĩa nôi tiếp khởi nghĩa; lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên
h iế n dâng cuộc đời m ình cho Tổ quốc, v iết tiếp những tra n g sử vàng của d â n tộc Song các cuộc khởi n ghĩa ấy đều không th à n h công M ột giai đoạn mới mở ra từ đầu năm 1930, khi Đ ảng Cộng
sả n V iệt N am ra đời dảm n h ậ n sứ m ệnh lãn h đạo cuộc đấu tra n h giải phóng d ân tộc Đứng trước những th ử th ác h đầy khó k h ă n , Đ ảng vẫn đứng vững và p h á t triể n n h a n h chóng vì Đ ảng có đường lôl đúng, có quan hệ m ậ t th iế t với n h â n dân Sức
m ạn h của Đ ảng b ắ t nguồn từ sức m ạn h của n h â n dân Sức m ạn h đó đã làm n ê n th ắ n g lợi của Cách
m ạn g th á n g T ám năm 1945, lập ra nước V iệt Nam
d â n chủ cộng hòa - n h à nước d ân chủ n h â n dân đầu tiê n ở Đông N am Á
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 30Ngay sau Cách m ạn g th á n g Tám , n h â n d â n
ta lại phải tiế n h à n h hai cuộc k h á n g chiến cực kỳ
ác liệ t đầy hy sin h gian khổ Qua 30 n ăm k h á n g chiến đ á n h thực d ân P háp, p h á t xít N h ậ t và đ ế quôh Mỹ d ẫn đến đại th ắ n g m ùa xuân 1975 th ố n g
n h ấ t h o àn to àn đ ấ t nước
N h â n d ân thời đại Hồ Chí M inh đã xứng đáng với tru y ền thô'ng của tổ tiê n tro n g đâ^u tra n h chô^ng ngoại xâm Vinh quang này thuộc về tru y ền th ô n g
n g àn n ăm v ăn h iến của m ộ t d ân tộc từ xa xưa đã
tự k h ẳ n g định m ình với đạo lý "lấy đại n ghĩa
th ắ n g bạo tàn" với lòng n h â n ái "thương người như th ể thương thân", với tin h th ầ n đoàn k ế t d â n tộc được rè n luyện tro n g suôT lịch sử dựng nước
và giữ nước T ấ t cả đã hun đúc nên ý chí " ^ ô n g
có gì quý hơn độc lập tự do" rè n luyện cho n h â n
d â n ta tin h th ầ n đấu tra n h an h dũng b ấ t k h u ất,
k h ả n ă n g chịu đựng bền bỉ, nghị lực và trí tuệ sán g tạo, tậ p họp xung quanh Hồ Chủ tịch - vị
lã n h đạo yêu nước vĩ đại của d ân tộc, Người đã
lã n h đạo n h â n dân ta chiến đấu với ý chí "Nưức
V iệt N am là m ột, dân tộc V iệt N am là m ột, sông
CỘI NGUỔN VÀ BẢN SẮC VÁN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 31CÓ thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Sách tham khảo :
- Lê Văn Siêu - Nền văn minh Việt Nam, Sài Gòn 1955, 130 tr.
- Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và
Trang 32II ĩữUVỂtl ĨHU1ẾĨ Vá
HIIVẾN THOại HÙN6 UưtíNũ''*
HỌ HỒNG BÀNG
Tục tru y ền K inh Dương Vương có tà i đi dưới
th ủ y phủ, lâ"y con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sin h ra Sùng Lãm , hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước K inh Dương Vương k hông b iế t đi đâu m ất Lạc Long Quân dạy d ân việc cày cấy nông tran g , đ ặ t ra các đẳng quân, th ầ n , tô n ti, các đạo cha con, vợ chồng, đôi khi trở về th ủ y phủ m à tră m
họ vẫn yên vui Hễ dân có viêc lại lớn tiế n g gọi Long Q uân "Bố ơi, sao k hông lại cứu chúng tôi" Long Quân tới ngay, sự lin h h iển cảm ứng của Long Quân, người đời không ai lường nổi Long
Q uân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra m ột bọc, cho là điềm b ấ t thường, vứt ra cánh đồng Qua sáu, bảy ngày bọc
vỡ ra m ột tră m trứng, mỗi trứ ng nở ra m ột con
(*) Thanh Lê sưu tẩm và biên soạn.
Trang 33tra i, mới đem về nuôi Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều k ín h trọ n g cho là chuyện phi thường.
Long Q uân ở lâu dưới th ủ y quôh, vợ con ít gặp
M ột hôm Long Q uân trở về, gặp nhau ở đ ấ t Tương
Âu Cơ nói "Thiếp vô"n là người đ ấ t Bắc, ở với vua sin h h ạ được tră m con tra i, vua bỏ th iế p m à đi,
k h ô n g cùng th iế p nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ b iế t thương m ình" Long Quân nói "Ta là nòi rồng, đứng đầu th ủ y tộc, n àn g là giống tiên, sống ở tr ê n đ ất, tuy k h í âm dương hợp lại m à sin h
ra con, nhưng th ủ y hỏa tương khắc, dòng giông b ấ t
đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly
Ta đem n ăm mươi con về th ủ y phủ, chia trị các xứ,
n ăm mươi con theo n à n g về ở trê n đất, chia nước
m à trị L ên núi xuông bể, hữu sự th ì báo cho nhau biết"
Âu Cơ và n ăm mươi con lên ở đ ấ t Phong Châu^^^
suy phục lẫ n nhau, cùng tô n người con cả lên làm
CỘI NGUỐN VÀ BẢN SẮC VẰN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
(1) Phong Châu nay là vùng đất thuộc tĩnh Vĩnh Phú và một phẩn tỉnh Hà Sơn Bình; đúng ra phải gọi là Văn Lang, vì tên Phong Châu mới có từ khoảng thế kỷ thứ VII - VIII.
Trang 34vua, hiệu là H ùng Vương, lấy tê n nước là V ăn Lang, đông giáp N am H ải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động
Đ ình Hồ, nam tới Hồ Tôn (nay là C hiêm T hành)
C hia nước làm mười lăm bộ (còn gọi là quận) là
V iệt Thường, Giao Chỉ, Lục H ải, Hoài Hoan, N inh
H ải, Dương Tuyền, Chu Diên, Vũ N inh, Phú Lộc, Cửu C hân, N h ậ t Nam , C h ân Đ ịnh, V ăn Lang, Quế Lâm , và Tượng Quận C hia các em ra cai trị, lại
đ ặ t các em làm tướng văn, tướng võ ; v ăn là lạc hầu, võ là lạc tướng, con tra i vua gọi quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, tră m quan gọi là bồ chính th ầ n tộc, nữ lệ gọi là xảo xứng (còn gọi là
nô tỳ) Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha tru y ền con nôl gọi là phụ đạo Vua đời đời th ế tậ p gọi là H ùng
Vương, không hề th ay đổi Lúc ắy, d ân sô"ng ở vén
rừng xuô^ng nước đ án h cá thường bị giô"ng giao long làm h ại, lên nói với vua Vua đáp "Giông sơn nam
và giông th ủ y tộc có thù với nhau, thường g h é t nhau cho n ê n h ại nhau đó” K hiến người đời lấy mực xăm vào m ình theo h ìn h Long Quân, theo
d ạn g th ủ y quái Từ đó d â n không bị tai họa giao long làm h ại nữa Tục xăm m ình của d ân Bách
V iệt cũng b ắ t đầu từ đây Hồi quôc sơ, d ân không
đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, d ệ t cỏ g iàn h
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÀN TỘC VIỆT NAM
Trang 35làm chiếu, lấy cô"t gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm m ắm , lấy rễ gừng làm muôi, cày bằng dao, trồ n g b ằn g lúa, sả n x u ất nhiều lúa nếp, lấy ống tre m à thổi cơm Bắc gỗ làm nhà để trá n h hổ sói,
c ắ t tóc n g ắn để dễ đi lại tro n g rừng núi Đẻ con
ra lấy lá chuôi lót cho nằm , có người ch ết th ì giã côl làm lệnh, người lâ n cận nghe đến cứu Chưa có trầu , cau, việc hôn thú giữa nam và nữ lấy gói muối làm đầu, sau đó mới g iết trâu , dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để n h ậ p phòng cùng ăn, sau đó mới th à n h
th â n T răm người con tra i chính là tố tiê n của người Bách V iệt vậy
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÃN TỘC VIỆT NAM
(R út trong "Lĩnh Nam chích quái")
Trang 36tháng mười ngày thì sinh ra một bọc trứng Lúc sinh, trên trời có mây sáng chiếu (nên chỗ sinh bọc trứng sau làm chùa và đặt tên Thiên quang thiền tự), bảy ngày sau bọc trUng nở ra một trăm người con trai Lạc Long Quân không biết đặt tên mới cầu khẩn thiên địa, được lão tiên hay câu
cá ở Việt Trì về đặt tên các con giúp (ở Việt Trì vẫn có hòn đá có dấu chân lão tiên này ngồi câu cá).
Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng chia đôi con, năm muơi người theo cha xuống biển, sinh ra các dân tộc miền xuôi, bốn muơi chín người lên núi, sinh ra các dân tộc miền núi, để người con trưởng ở lại làm vua là Hùng Vưcfng, đóng đô ở Văn Lang.
Bà Âu Cơ đưa con lên mạn ngược, khi đến vùng Hiền Lương thây đâ't tốt mới để một người con lại, dạy cách đốt cỏ mà trồng lúa, lâ'y gạo giã nhỏ nhào với mật cho vào chõ làm bánh Rồi bà lại đưa tiếp các con theo ngọn suôi mà đi vào mãi các cánh đồng phía trong Mỗi năm
bà lại đi thăm các con vài lần, ở lại mỗi chỗ dăm hôm rồi đi nơi khác, ở xã Hiền Lương nay còn đền bà Âu Cơ, khi cầu có hèm làm bánh mật, và phải do phụ nữ tế.
2 Trong bản "Ngọc Phả Llùng Vương" hiện lưu ở đền Hùng được viết từ thời Trần, viết lại năm 1470, còn bản sao năm 1609 (Hoàng định nguyên niên) gi i : Sau khi lây Lạc Long Quân, bà Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày mới sinh và cũng sinh ra cái bọc có một trăm quả trứng, Lạc Long Quân thây sự lạ bèn để lên mâm vàng cầu khẩn thiên địa bảy ngày sau nở ra một trăm người
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 37con trai, không ăn uống, bú mớm, chỉ hưong hoa không biết nói, chỉ cười mỗi ngày ba lần Bảy tháng sau cùng tự nhiên nói to : "Trời sinh thánh đế, trị nước sinh vua, bốn
bể thanh bình, thiên hạ yên mạnh" Đoạn sau cùng giống như truyện trên Hiện tên một trăm người con của bà Âu
Cơ còn được ghi lại.
3 Đồng bào Mường có bài mo : Đẻ đất đẻ nước” cùng
có dạng tương tự như vậy.
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 38SƠN TINH, THỦY TINH
Thời H ùng Vương th ứ 18 đến ở đ ấ t V iệt Trì
C hâu Phong^^\ lấy quô"c hiệu là V ăn Lang, vua có người con gái tê n là Mỵ nương (Ngọc hoa công chúa) có sắc đẹp; Thục Vương P h á n cầu hôn, n h à vua không b ằn g lòng, mùô"n chọn rể hiền^^\
M ấy hôm sau bỗng th ấ y hai người, m ột người xưng là Sơn T inh, m ột người xưng là Thủy T inh
để đến cầu hơn H ùng Vương tru y ền tỉ th í p h áp
th u ật Sơn T inh chỉ núi, núi lở Thủy T inh lấy nước phun lên không tru n g b iến th à n h m ây mưa Vua nói "Hai vị đều có phép th ầ n thông, nhưng ta chỉ
có m ột con gái, vậy ai m ang sín h lễ tới trước ta khắc gả cho" Sáng hôm sau Sơn T inh m ang ngọc quý, vàng, bạc, sơn cầm, dã thú các lễ v ậ t đến
(1) Theo "Việt sử thông giám cương mục" và "Ngọc phả Hùng Vương" thì vua Hùng đóng đô ở bộ Văn Lang từ Hùng vương thứ nhất, chứ không phải Hùng Vương thứ 18.
(2) Tương truyền Hùng Vương thứ 18 lập đài hiền lâu ở trước núi
để kén rể cho Ngọc Hoa, người đến thi tài rất đông, cuối cùng còn lại Sơn Tinh và Thủy Tinh, hai người tài trí ngang nhau.
Trang 39tiế n , vua y cho Thủy T inh đến sau không lấy được
Mỵ C hâu : vốn tín h độc ác, liền cả giận đem loài
th ủ y tộc địn h đ á n h để cướp lại Vương lấy lưới s ắ t
n g ă n ngang sông huyện Từ Liêm Thủy T inh bèn
mở m ột dải sông Tiểu H oàng từ Lý N h ân ra H á t
G iang vào sông Đà để đ á n h ập sau lưng núi T ản Viên Lại mở m ột ngách sông Tiểu Tích hướng về trước T ản Viên, đi qua Cam Giá, Xa Lâu, cổ Hào,
Ma ở kh o ản g ven sông đ án h sụ t th à n h cáivũng lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc Thường làm mưa gió m ịt mù, d ân g nước lên đ án h Vương
D ân ở ch ân núi th ấ y th ế bèn cắm m ột h à n g rào thư a để đón dỡ, đ á n h trố n g gõ côì^^\ hò reo để cứu viện T hấy rơm rác trô i bên ngoài h à n g rào bèn
b ắn , th ủ y tộc c h ết b iến th à n h th ây ba ba, thuồng luồng trô i tắc cả khúc sông
H àn g năm vào k h o ản g th á n g bảy, th á n g tám
v ẫn thường như vậy D ân vùng chân núi hay bị gió
to nước lớn, lúa m á th iệ t h ại cả Người đời tương tru y ền rằ n g đó là Sơn T inh và Thủy T inh tra n h
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
( 1 ) Tên đất chưa tra cứu được, nhưng có lẽ thuộc vùng Hà Sơn Binh, Vĩnh Phú, vi hiện nay núi vẫn còn ở đất Ba Vì.
(2) Tục đánh vào cối để báo cho nhau biết có tai biến.
Trang 40nhau lấy Ngọc Hoa n ê n Thủy T inh dâng nước lên
Tử, chỉ còn Ngọc Hoa, Vua Hùng lại càng yêu dấu, nên muốn chọn rể hiền Hùng Vương bèn cho lập lầu kén rể
ở núi Vì (nay là khoảng nhà máy Mỳ Chính - Việt Trì) Trai tài trong nước đến râ't đông Sau ba ngày kén rể, Ngọc Hoa vẫn chưa vừa ý ai sắp hết ngày thứ ba, từ đằng xa đến có hai chàng đều tài giỏi Một người xuhg là Sơn Tinh, dáng phúc hậu, một người xu'ng là Thủy Tinh, mặt xanh, mắt xếch Ngọc Hoa trông thấy đã khiếp sỢ Như thường
lệ, vua Hùng truyền thi tài Cả hai đều tài giỏi ngang nhau Hùng Vương bèn truyền lệnh sáng mai ai mang lễ vật đến trước thì được lấy Ngọc Hoa Sơn Tinh vốn hiền lành phríc hậu đã được thần cho quyển sách ước nên sáng sớm hôm sau đã mang đủ lễ vật đến Y hẹn, vua Hùng
gả Ngọc Hoa cho Sctn Tinh Sơn Tinh đưa Ngọc Hoa lên kiệu rước về núi Tản Đi đến nửa đường Thủy Tinh mới
CỘI NGUỒN VÀ BẢN SẮC VÃN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM