Rối loạn cơ xương là một vấn đề sức khỏe nghề nghiệp phổ biến và ngày càng gia tăng ở người lao động trên thế giới. Nó đề cập đến các rối loạn liên quan đến bộ máy vận động như hệ thống cơ, gân, xương, sụn, dây chằng, hệ thống mạch máu và thần kinh, các tổ chức và mô mềm khác xung quanh khớp [96]. Rối loạn cơ xương liên quan đến nghề nghiệp bao gồm tất cả các rối loạn được gây ra hoặc làm nặng thêm bởi đặc điểm công việc và các điều kiện làm việc liên quan [68]. Những rối loạn này rất phổ biến ở người lao động trên toàn thế giới. Ở châu Âu, rối loạn cơ xương chiếm một phần lớn trong các vấn đề sức khỏe mà người lao động gặp phải [68]. Theo khảo sát về điều kiện làm việc ở châu Âu lần thứ 6, rối loạn cơ xương là một trong những vấn đề sức khỏe được báo cáo nhiều nhất trên người lao động: đau lưng (43%), đau cơ ở cổ hoặc chi trên (42%) và đau cơ ở hông hoặc chi dưới (29%) [109]. Rối loạn cơ xương không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và hiệu suất của người lao động mà chúng còn tạo ra những gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và xã hội [50], [112]. Về khía cạnh nghề nghiệp, rối loạn cơ xương là vấn đề sức khỏe nghề nghiệp thường gặp nhất trên các nhân viên y tế trên thế giới, đặc biệt là ở các điều dưỡng viên [42]. Một nghiên cứu tổng hợp gần đây của Soylar và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương của điều dưỡng viên trong vòng 12 tháng qua dao động trong khoảng từ 33,0% đến 88,0% và rối loạn cơ xương liên quan đến nghề nghiệp có liên quan đến nhiều yếu tố như đặc điểm dân số xã hội học cũng như các yếu tố liên quan đến tư thế lao động không hợp lý, yếu tố tâm lý và tổ chức công việc [130]. Ở nước ta, các bệnh nghề nghiệp và công tác dự phòng các bệnh nghề nghiệp ngày càng được quan tâm. Hiện danh mục các bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm của nước ta đã tăng lên 34 bệnh [2], kèm theo các tài liệu và thông tư hướng dẫn khám bệnh nghề nghiệp [3], [4], [11]. Nhiều chương trình dự phòng bệnh nghề nghiệp đã được triển khai tại các môi trường lao động khác nhau, trong đó có môi trường y tế. Tuy nhiên rối loạn cơ xương hiện nay chưa được đưa vào danh mục các bệnh nghề nghiệp dù một số đánh giá cho thấy các rối loạn này rất phổ biến trong một số loại hình lao động [22], [24], [17], [33]. Chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng rối loạn cơ xương trên người lao động trong ngành y tế. Kết quả gần đây của nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng cùng với các chuyên gia của Đại học Laval (Canada) cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng trong 12 tháng qua lên tới 81% [33] và rất nhiều các yếu tố nghề nghiệp có thể tác động lên các rối loạn này [32]. Điều này chứng tỏ vấn đề rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên nước ta có thể là rất lớn. Tuy nhiên bệnh viện Việt Tiệp là một bệnh viện tuyến tỉnh lớn nhất của Hải Phòng, áp lực số lượng và mức độ bệnh nhân nặng là tương đối cao. Câu hỏi của chúng tôi là thực trạng vấn đề rối loạn cơ xương trên điều dưỡng ở các tuyến chăm sóc khác, đặc biệt là tuyến huyện là như thế nào, tác động của chúng lên cuộc sống và công việc của những điều dưỡng đó ra sao, kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về rối loạn cơ xương ở mức độ nào, và can thiệp nào trong điều kiện của nước ta có thể có hiệu quả để giúp dự phòng các rối loạn này trên điều dưỡng viên? Từ những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Xác định tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương và ảnh hưởng của chúng lên đời sống và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên đang công tác tại các bệnh viện tuyến quận/huyện của Hải Phòng năm 2017. 2. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến mắc rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại các cơ sở trên. 3. Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm dự phòng rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến quận/huyện tại Hải Phòng.
Trang 1HOÀNG ĐỨC LUẬN
THỰC TRẠNG RỐI LOẠN CƠ XƯƠNG KHỚP CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN BỆNH VIỆN TUYẾN QUẬN HUYỆN TẠI HẢI PHÒNG VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HẢI PHÒNG - 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 3
1.1.Đặc điểm dịch tễ học của RLCX nghề nghiệp và tác động của RLCX lên công việc và cuộc sống của nhân viên y tế 3
1.1.1 Đại cương về rối loạn cơ xương 3
1.1.2 Dịch tễ học rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên 7
1.1.3 Tác động của rối loạn cơ xương lên công việc và cuộc sống hằng ngày của điều dưỡng viên 15
1.2.Môi trường - điều kiện làm việc và tình trạng rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên……… 16
1.2.1 Yếu tố nguy cơ vật lý/tư thế với RLCX 17
1.2.2 Cường độ làm việc và tình trạng RLCX 20
1.2.3 Các điều kiện khác về môi trường làm việc và RLCX 21
1.3 Biện pháp dự phòng RLCX nghề nghiệp trên điều dưỡng viên và hiệu quả của các biện pháp dự phòng 21
1.3.1 Khái niệm và các cấp độ trong dự phòng 21
1.3.2 Dự phòng RLCX trong môi trường lao động 22
1.3.3 Dự phòng RLCX trên điều dưỡng viên 23
1.3.4 Một số phương pháp đánh giá tình trạng RLCX trên điều dưỡng viên……….27
1.3.5 Lý do lựa chọn công cụ đánh giá và các biện pháp dự phòng RLCXNN trên ĐDV trong đề tài 34
Trang 3CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
2.1.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 39
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 2 giai đoạn 40
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 43
2.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu 44
2.3 Nội dung nghiên cứu 46
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 46
2.3.2 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 52
2.3.3 Các bước và tiến hành nghiên cứu 56
2.4 Sai số và cách khống chế sai số 58
2.5 Xử lý số liệu 58
2.6 Đạo đức nghiên cứu 59
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1 Tỷ lệ mắc RLCX và ảnh hưởng của RLCX lên đời sống và công việc hàng ngày của điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 60 3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 60
3.1.2 Tỷ lệ mắc RLCX của điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 67
3.1.3 Ảnh hưởng của RLCX lên đời sống và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên các bệnh viện quận huyện Hải Phòng 69
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến mắc RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện Hải Phòng 73
3.2.1 Kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng viên về RLCX 73
3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến mắc RLCX trong vòng 12 tháng qua
Trang 4trên điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 80
3.3 Hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm dự phòng RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện tại Hải Phòng 86
3.3.1 So sánh một số đặc điểm của điều dưỡng viên trước và sau can thiệp 86
3.3.2 Hiệu quả can thiệp lên tỷ lệ mắc RLCX 87
3.3.3 Hiệu quả của can thiệp đối với KAP của điều dưỡng viên 89
3.3.4 Hiệu quả can thiệp lên chất lượng cuộc sống, mức độ lo âu và công việc hàng ngày của điều dưỡng viên 95
CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN 99
4.1 Tỷ lệ mắc RLCX và ảnh hưởng của RLCX lên đời sống và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện Hải Phòng 99
4.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 99
4.1.2 Tỷ lệ mắc RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 103
4.1.3 Ảnh hưởng của RLCX lên đời sống và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện Hải Phòng 109
4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến mắc RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện Hải Phòng 113
4.2.1 Kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng viên về RLCX 113
4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 119
4.3 Hiệu quả can thiệp dự phòng RLCX trên điều dưỡng viên 122
4.3.1 Cỡ mẫu và quần thể dùng trong nghiên cứu can thiệp 122
4.3.2 Hiệu quả can thiệp lên tỷ lệ mắc RLCX 123
4.3.3 Đánh giá sự thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành đối với RLCX 124
4.3.4 Hiệu quả can thiệp lên chất lượng cuộc sống, mức độ lo âu và công việc hàng ngày của điều dưỡng viên 126
Trang 54.4 Một số ưu điểm và nhược điểm của nghiên cứu 129
KẾT LUẬN 133
5.1 Tỷ lệ RLCX và ảnh hưởng của RLCX lên đời sống và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên bệnh viện tuyến quận huyện Hải Phòng 133
5.2 Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến mắc RLCX trên điều dưỡng viên 133
5.3 Hiệu quả một số biện pháp can thiệp dự phòng RLCX trên điều dưỡng viên bệnh viện quận huyện 133
KHUYẾN NGHỊ 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
A Bộ câu hỏi chuẩn hóa Nordic về Rối loạn cơ xương
B Bộ câu hỏi đánh giá mức độ lo âu – K6
C Bộ câu hỏi đánh giá sự vắng mặt
D Bộ câu hỏi Quality of Life Enjoyment and Satisfaction Questionnaire (Q-LES-Q-SF) Đánh giá chất lượng cuộc sống
E Bộ câu hỏi KAP về Rối loạn cơ xương
F Xác nhận của cơ sở lấy số liệu
G Một số hình ảnh trong quá trình thực hiện đề tài
H Tờ rơi - Tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thực trạng RLCX trên điều dưỡng viên tại các nước Châu Âu 9
Bảng 1.2 Thực trạng RLCX trên điều dưỡng viên tại một số nước Châu Á 12
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo bệnh viện 60
Bảng 3.2 Phân bố điều dưỡng theo khoa lâm sàng tại các bệnh viện 63
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo tiền sử bệnh cơ xương khớp 64
Bảng 3.4 Đặc điểm lao động và điểm chất lượng cuộc sống của điều dưỡng 65
Bảng 3.5 Đặc điểm vắng mặt ở nơi làm việc trong vòng 12 tháng qua 66
Bảng 3.6 Thời gian kéo dài của các đợt mắc RLCX trong 12 tháng qua 68
Bảng 3.7 Thời gian giảm sút các hoạt động thường ngày và giải trí do RLCX trong 12 tháng qua 70
Bảng 3.8 Đặc điểm chất lượng cuộc sống trên điều dưỡng viên trong 12 tháng qua theo tình trạng RLCX 71
Bảng 3.9 Đặc điểm mức độ lo âu trong cuộc sống trên điều dưỡng viên trong 12 tháng qua theo tình trạng RLCX 72
Bảng 3.10 Đặc điểm sự vắng mặt tại nơi làm việc trong 12 tháng qua theo tình trạng RLCX 72
Bảng 3.11 Tỷ lệ trả lời đúng kiến thức về triệu chứng RLCX 73
Bảng 3.12 Tỷ lệ trả lời đúng về các yếu tố nguy cơ của RLCX 74
Bảng 3.13 Tỷ lệ trả lời đúng về các biện pháp phòng ngừa RLCX 74
Bảng 3.14 Tỷ lệ trả lời đúng về hậu quả của RLCX 75
Bảng 3.15 Tỷ lệ đã nghe về khái niệm Éc-gô-nô-mi của điều dưỡng viên 75
Bảng 3.16 Tỷ lệ trả lời đúng kiến thức thao tác y tế dự phòng RLCX 76
Bảng 3.17 Thái độ dự phòng RLCX trong thao tác y tế 76
Bảng 3.18 Thái độ dự phòng RLCX trong cuộc sống hàng ngày 77
Bảng 3.19 Thái độ của điều dưỡng viên với các tổn thương cơ xương khớp 77
Bảng 3.20 Thực hành dự phòng RLCX trong một số hoạt động chuyên môn 78
Bảng 3.21 Thực hành dự phòng RLCX trong cuộc sống hàng ngày 78
Bảng 3.22 Thực hành khi xuất hiện các triệu chứng RLCX 79
Bảng 3.23 Liên quan giữa một số đặc điểm về dân số xã hội học của điều dưỡng viên và tình trạng RLCX 80
Bảng 3.24 Liên quan giữa một số đặc điểm về công việc của điều dưỡng viên và tình trạng RLCX 81
Bảng 3.25 Liên quan giữa kiến thức đúng về RLCX và tình trạng mắc RLCX 82 Bảng 3.26 Liên quan giữa việc được đào tạo hướng dẫn sử dụng các dụng cụ y tế đúng tư thế và tình trạng RLCX 83
Bảng 3.27 Liên quan giữa có được đào tạo hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân đúng tư thế và tình trạng RLCX 83
Bảng 3.28 Liên quan giữa thái độ đúng về RLCX và tình trạng mắc RLCX 84
Trang 7Bảng 3.29 Liên quan giữa thực hành đúng về RLCX và tình trạng mắc RLCX84Bảng 3.30 Mô hình đa biến yếu tố liên quan đến RLCX trên điều dưỡng viên (chỉ liệt kê những biến có ý nghĩa thống kê) 85Bảng 3.31 Đặc điểm chung của 2 nhóm điều dưỡng tham gia nghiên cứu can thiệp 86Bảng 3.32 Tỷ lệ RLCX trước và sau can thiệp của điều dưỡng viên tại các bệnh viện quận huyện Hải Phòng 87Bảng 3.33 Tỷ lệ RLCX trước và sau can thiệp của điều dưỡng viên tại từng vị trí giải phẫu trên cơ thể 88Bảng 3.34 Thay đổi kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân, hậu quả của RLCX trước và sau can thiệp trên điều dưỡng viên 89Bảng 3.35 Thay đổi kiến thức về dự phòng đối với RLCX và Ergonomie trước
và sau can thiệp trên điều dưỡng viên 90Bảng 3.36 Sự thay đổi trước và sau can thiệp về từng khía cạnh trong thái độ đối
với RLCX của nhóm không được can thiệp (N=162) 91
Bảng 3.37 Sự thay đổi trước và sau can thiệp về từng khía cạnh trong thái độ đối với RLCX của nhóm được can thiệp (N=130) 92Bảng 3.38 Sự thay đổi trước và sau can thiệp về từng khía cạnh trong thực hành
đối với RLCX của nhóm không được can thiệp (N=162) 93
Bảng 3.39 Sự thay đổi trước và sau can thiệp về từng khía cạnh trong thực hành đối với RLCX của nhóm được can thiệp (N=130) 94Bảng 3.40 Sự thay đổi về điểm trung bình chất lượng cuộc sống của 2 nhóm điều dưỡng trước và sau can thiệp 95Bảng 3.41 Sự thay đổi về điểm trung bình mức độ lo âu trong cuộc sống của 2 nhóm điều dưỡng trước và sau can thiệp 96Bảng 3.42 Sự thay đổi về tỷ lệ bị giảm sút các hoạt động thường ngày do các vấn
đề RLCX tại từng vị trí giải phẫu trên cơ thể trước và sau can thiệp của điều dưỡng viên 97
Bảng 3.43 Sự thay đổi về tỷ lệ bị giảm sút các hoạt động giải trí do các vấn đề
RLCX tại từng vị trí giải phẫu trên cơ thể trước và sau can thiệp của điều dưỡng viên 98
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ giải thích sự xuất hiện của các RLCX 7
Hình 1.2 Phân bố các vấn đề sức khỏe trên người lao động tại 28 quốc gia Châu Âu năm 2015 8
Hình 1.3 Một vài ví dụ về các tư thế làm việc nguy cơ gây ra tình trạng RLCX 19
Hình 1.4 Sơ đồ ba cấp độ dự phòng 22
Hình 1.5 Một phần của Bộ câu hỏi Nordic 30
Hình 1.6 Một ví dụ về thang đo VAS 31
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu theo từng giai đoạn 40
Hình 2.2 Sơ đồ thiết kế và quy trình triển khai nghiên cứu 42
Hình 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới (tỉ lệ phần trăm theo từng bệnh viện) 61
Hình 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi trung bình trong từng bệnh viện 62
Hình 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo chỉ số khối cơ thể BMI 62
Hình 3.4 Tỷ lệ RLCX trên điều dưỡng viên tuyến quận huyện Hải Phòng 67
Hình 3.5 Hậu quả RLCX lên hoạt động thường ngày và giải trí trong 12 tháng qua 69
Hình 3.6 Liên quan giữa khoa phòng làm việc của điều dưỡng viên và tình trạng RLCX 82
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn cơ xương là một vấn đề sức khỏe nghề nghiệp phổ biến và ngày càng gia tăng ở người lao động trên thế giới Nó đề cập đến các rối loạn liên quan đến bộ máy vận động như hệ thống cơ, gân, xương, sụn, dây chằng, hệ thống mạch máu và thần kinh, các tổ chức và mô mềm khác xung quanh khớp [96] Rối loạn cơ xương liên quan đến nghề nghiệp bao gồm tất cả các rối loạn được gây ra hoặc làm nặng thêm bởi đặc điểm công việc và các điều kiện làm việc liên quan [68]
Những rối loạn này rất phổ biến ở người lao động trên toàn thế giới Ở châu
Âu, rối loạn cơ xương chiếm một phần lớn trong các vấn đề sức khỏe mà người lao động gặp phải [68] Theo khảo sát về điều kiện làm việc ở châu Âu lần thứ
6, rối loạn cơ xương là một trong những vấn đề sức khỏe được báo cáo nhiều nhất trên người lao động: đau lưng (43%), đau cơ ở cổ hoặc chi trên (42%) và đau cơ ở hông hoặc chi dưới (29%) [109] Rối loạn cơ xương không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và hiệu suất của người lao động mà chúng còn tạo ra những gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và xã hội [50], [112]
Về khía cạnh nghề nghiệp, rối loạn cơ xương là vấn đề sức khỏe nghề nghiệp thường gặp nhất trên các nhân viên y tế trên thế giới, đặc biệt là ở các điều dưỡng viên [42] Một nghiên cứu tổng hợp gần đây của Soylar và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương của điều dưỡng viên trong vòng 12 tháng qua dao động trong khoảng từ 33,0% đến 88,0% và rối loạn cơ xương liên quan đến nghề nghiệp có liên quan đến nhiều yếu tố như đặc điểm dân số xã hội học cũng như các yếu tố liên quan đến tư thế lao động không hợp lý, yếu tố tâm lý
và tổ chức công việc [130]
Ở nước ta, các bệnh nghề nghiệp và công tác dự phòng các bệnh nghề nghiệp ngày càng được quan tâm Hiện danh mục các bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm của nước ta đã tăng lên 34 bệnh [2], kèm theo các tài liệu và thông tư hướng dẫn khám bệnh nghề nghiệp [3], [4], [11] Nhiều chương trình
Trang 10dự phòng bệnh nghề nghiệp đã được triển khai tại các môi trường lao động khác nhau, trong đó có môi trường y tế Tuy nhiên rối loạn cơ xương hiện nay chưa được đưa vào danh mục các bệnh nghề nghiệp dù một số đánh giá cho thấy các rối loạn này rất phổ biến trong một số loại hình lao động [22], [24], [17], [33] Chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng rối loạn cơ xương trên người lao động trong ngành y tế Kết quả gần đây của nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng cùng với các chuyên gia của Đại học Laval (Canada) cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng trong 12 tháng qua lên tới 81% [33] và rất nhiều các yếu tố nghề nghiệp có thể tác động lên các rối loạn này [32] Điều này chứng tỏ vấn đề rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên nước ta có thể là rất lớn Tuy nhiên bệnh viện Việt Tiệp là một bệnh viện tuyến tỉnh lớn nhất của Hải Phòng,
áp lực số lượng và mức độ bệnh nhân nặng là tương đối cao Câu hỏi của chúng tôi là thực trạng vấn đề rối loạn cơ xương trên điều dưỡng ở các tuyến chăm sóc khác, đặc biệt là tuyến huyện là như thế nào, tác động của chúng lên cuộc sống
và công việc của những điều dưỡng đó ra sao, kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về rối loạn cơ xương ở mức độ nào, và can thiệp nào trong điều kiện của nước ta có thể có hiệu quả để giúp dự phòng các rối loạn này trên điều dưỡng viên? Từ những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với các
mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định tỷ lệ mắc rối loạn cơ xương và ảnh hưởng của chúng lên đời sống
và công việc hằng ngày của điều dưỡng viên đang công tác tại các bệnh viện tuyến quận/huyện của Hải Phòng năm 2017
2 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến mắc rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại các cơ sở trên
3 Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm dự phòng rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên tại một số bệnh viện tuyến quận/huyện tại Hải Phòng
Trang 11CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm dịch tễ học của RLCX nghề nghiệp và tác động của RLCX lên công việc và cuộc sống của nhân viên y tế
1.1.1.1 Khái niệm rối loạn cơ xương và rối loạn cơ xương nghề nghiệp
Rối loạn cơ xương (RLCX) hay rối loạn cơ xương khớp chỉ các tổn thương
ở bộ máy vận động, bao gồm cơ, gân, xương và các thành phần của khớp và ngoại khớp như sụn, dây chằng, các dây thần kinh, mạch máu, bao hoạt dịch [96]… Các vị trí tổn thương thường gặp là ở chi trên (vai, khuỷu tay, cổ bàn tay…), hoặc ở chi dưới (đầu gối), ngoài ra còn có thể gặp ở vùng cổ gáy hoặc vùng lưng RLCX bao hàm tất cả các dạng tổn thương từ các tổn thương nhẹ thoáng qua đến cả các tổn thương không hồi phục và cả các tình trạng tàn tật mạn tính [96]
RLCX nghề nghiệp (RLCXNN) là một nhóm bệnh mãn tính bao gồm những tổn thương RLCX chủ yếu gây ra hay bị làm nặng lên do quá trình lao động, các hoạt động nghề nghiệp hoặc do các tác động của điều kiện môi trường lao động mà người lao động làm việc [69] Mặc dù những tổn thương này cũng
có thể có liên quan đến các hoạt động trong gia đình hoặc các hoạt động chơi thể thao, vận động khác
Phần lớn các trường hợp RLCXNN là các rối loạn tích lũy là hậu quả của quá trình phơi nhiễm kéo dài và lặp đi lặp lại với các áp lực lên hệ thống cơ xương khớp Các rối loạn này thường xảy ra ở vùng lưng, vùng cổ, vai và chi trên nhưng cũng có thể xảy ra ở chi dưới Một vài trường hợp RLCXNN là những rối loạn đặc biệt được đặc trưng bởi các dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng, ví dụ như hội chứng ống cổ tay ảnh hưởng đến vùng cổ tay Các trường hợp tổn thương khác chỉ biểu hiện bởi sự đau hoặc cảm giác khó chịu mà không có một rối loạn
cụ thể nào được quan sát một cách rõ ràng [69]
Trang 12Những biểu hiện ban đầu của RLCXNN cũng tương tự với các triệu chứng của một số tổn thương mạn tính trong các bệnh khớp viêm khác Tuy nhiên, quá trình xuất hiện và tiến triển của các bệnh lý khớp viêm khác không gắn liền với môi trường làm việc (như mang vác nặng, tư thế gò bó, không hợp lý ) Trong quá trình khai thác bệnh sử, cần tìm hiểu kỹ các triệu chứng của bộ máy cơ xương khớp có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp Ngoài ra, mỗi bệnh lý khớp viêm khác đều có các tiêu chuẩn chẩn đoán đặc hiệu về mặt lâm sàng hoặc cận lâm sàng Ví dụ, chẩn đoán xác định bệnh viêm khớp dạng thấp cần tuân theo Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp Hoa Kỳ (ACR) 1987 hay của Hội Thấp khớp Hoa Kỳ
và Liên đoàn chống Thấp khớp châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010) Hoặc trong bệnh thoái hóa cột sống, chụp X-quang cột sống thường quy sẽ có hình ảnh hẹp khe khớp với bờ diện khớp nhẵn, đặc xương dưới sụn, gai xương thân đốt sống, hẹp lỗ liên hợp đốt sống [5]
Những dấu hiệu, triệu chứng của RLCXNN phát triển từ từ kéo dài theo tuần, tháng hoặc năm Những đặc điểm mãn tính tiềm ẩn này gây khó khăn cho việc phát hiện nguyên nhân, ban đầu là những triệu chứng mà người lao động không để ý, cho tới khi ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ, an toàn và năng suất lao động, thì đã phát triển sang giai đoạn bệnh lý trầm trọng
Trang 13- Rối loạn khớp hoặc bao khớp (viêm bao hoạt dịch, viêm mủ màng hoạt dịch…)
1.1.1.3 Một số yếu tố nguy cơ phát triển RLCX
Nhiều nhóm yếu tố có thể cùng đóng góp vào sự hình thành và phát sinh tình trạng RLCX, có thể kể đến là nhóm yếu tố vật lý và cơ học, các yếu tố thuộc
về mặt tổ chức lao động và tâm lý xã hội cũng như các yếu tố cá thể Thông thường, tình trạng RLCX là hậu quả của nhiều yếu tố cùng tác động trong thời gian dài [69]
Yếu tố cơ sinh trong lao động từ lâu đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong sự hình thành nên các tổn thương cơ xương khớp của người lao động [57] RLCX liên quan đến các yếu tố cơ sinh học sinh ra từ một sự quá tải của hệ thống cơ xương Nói cách khác, các rối loạn này xuất hiện khi cường độ lao động cơ học vượt quá khả năng chịu đựng của các cơ quan thuộc hệ thống
cơ xương khớp, ví dụ như một sự gắng sức quá mức của các cơ [54]
Công việc quá sức
Làm công việc chân tay quá sức thường xuyên được coi là mối nguy hại chính gây nên RLCXNN Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp bao gồm: trọng lượng của dụng cụ, đối tượng; độ trơn của dụng cụ và đối tượng; độ mất cân bằng của dụng cụ; kích thước và hình dạng quá mức của công cụ; găng tay không phù hợp
Công việc lặp đi lặp lại
Sự lặp lại của công việc là số lần cử động trung bình của một bộ phận cơ thể (ví dụ: bàn tay, cẳng tay…) trong một đơn vị thời gian, trong một chu kỳ thao tác nhất định Số lần lặp lại càng cao thì nguy cơ gây RLCXNN càng lớn
Tư thế làm việc tĩnh, bất lợi hoặc tư thế không thoải mái
Trang 14Tư thế làm việc liên quan đến vị trí của cơ thể và các bộ phận trong không gian thao tác
Vận cơ tĩnh là trạng thái sinh công bất lợi nhất của hoạt động cơ, do mạch máu bị chèn ép không cung cấp đủ liều lượng và dinh dưỡng cho cơ hoạt động
Vì vậy công việc cần phải được thiết kế sao cho tư thế của cơ thể cũng như các
bộ phận cơ thể giữ được ở vị trí tự nhiên hoặc vị trí trung lập Cũng có nghĩa là không phải làm việc ở tư thế chống lại lực trọng trường
Một số tư thế làm việc gây khó chịu: tay cao hơn vai, đứng hoặc ngồi kéo dài, đè nén bởi các dụng cụ hoặc các bề mặt…
Công việc đòi hỏi yêu cầu cao, thiếu kiểm soát đối với các nhiệm vụ cần thực hiện và mức độ tự chủ thấp;
Mức độ hài lòng với công việc thấp;
Công việc lặp đi lặp lại và đơn điệu được thực hiện với nhịp độ nhanh;
Thiếu thời gian nghỉ ngơi và phục hồi cần thiết cho hoạt động cơ bắp;
Thiếu sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và hệ thống phân cấp
Tác động phối hợp của yếu tố môi trường xấu (rung chuyển, tiếng ồn, nhiệt
độ quá nóng hoặc quá lạnh, hệ thống chiếu sáng kém…) làm tăng nguy cơ gây RLCXNN
Ví dụ: tiếng ồn và mất tập trung thị giác có thể làm tăng độ mệt mỏi và
Trang 15nhầm lẫn trong thao tác Tác động của rung cục bộ và nhiệt độ thấp gián tiếp làm tăng lực cầm nắm do đường cảm nhận ngược về trung khu thần kinh bị giảm đi nên gây cho người điều khiển công cụ nhu cầu phải cầm nắm chặt hơn mức cần thiết Từ đó gây nên hội chứng rung cánh tay, rối loạn thần kinh vận mạch
Ngoài ra, các hoạt động giải trí như: quần vợt, golf, trò chơi điện tử… cũng làm tăng nguy cơ RLCXNN
Sơ đồ giải thích sự xuất hiện của RLCX nghề nghiệp [35]:
Hình 1.1 Sơ đồ giải thích sự xuất hiện của các RLCX
1.1.2 Dịch tễ học rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên
Vấn đề RLCXNN đã được quan tâm từ lâu ở rất nhiều nước trên thế giới Nhiều nghiên cứu trên thế giới về tình trạng RLCXNN trên nhân viên y tế nói chung và trên điều dưỡng viên (ĐDV) nói riêng đã được thực hiện và chỉ ra những tỉ lệ mắc rất cao Cũng từ đó mà các biện pháp dự phòng cũng như các khuyến cáo được đề xuất và triển khai rộng rãi, đặc biệt là tại các nước phát triển
Ở Việt Nam, một vài nghiên cứu nhỏ lẻ về RLCXNN cũng đã được tiến hành trên người lao động ở một số ngành nghề như ngành may công nghiệp [33], lái
xe nâng [16], công nhân làm việc tại các khu công nghiệp [22] hay chế biến thủy sản [17]… Tuy nhiên, số liệu trên nhân viên y tế trong đó có ĐDV vẫn còn rất hạn chế, thậm chí là chưa từng được nghiên cứu một cách tổng thể nhất
Rối loạn cơ xương
Yếu tố cá nhân
- Giữ lâu một tư thế
Yếu tố tâm lý - xã hội
- Căng thẳng
- Áp lực thời gian
- Thiếu thời gian nghỉ
- Phạm vi làm việc hẹp
Trang 16 Tại các nước phát triển
RLCX được đánh giá là một vấn đề sức khoẻ phổ biến ở người lao động nhiều ngành nghề Việc thiết lập chương trình phòng chống RLCX cũng là một
ưu tiên sức khỏe nghề nghiệp ở các nước phát triển Một nghiên cứu trên 28 quốc gia Châu Âu năm 2015 [109] cho thấy, trong số những vấn đề sức khỏe nghề nghiệp hay gặp nhất ở người lao động thì 3 vị trí đầu tiên đều là vấn đề RLCX Trong số đó đứng đầu là đau lưng chiếm 43%, đau vùng cổ và chi trên đều chiếm 42%; vị trí thứ 5 và thứ 6 lần lượt là đau vùng hông và chi dưới (đều chiếm 29%)
Hình 1.2 Phân bố các vấn đề sức khỏe trên người lao động tại 28 quốc gia Châu Âu năm 2015 (Nguồn: 6th European Working Conditions Survey –2017
update) RLCXNN rất phổ biến trên người lao động ngành y tế Theo các bằng chứng trên thế giới cho thấy nhân viên y tế (NVYT) có nguy cơ cao bị mắc RLCX do phải tiến hành các hoạt động thể lực với tư thế cơ xương khớp không hợp lý Rất nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới đã chỉ ra một tỉ lệ rất cao NVYT xuất hiện các triệu chứng của tình trạng RLCX, từ 28% đến 96%, và đặc biệt là trên ĐDV [42] Vấn đề này trở nên trầm trọng ở nhiều nước, dẫn đến việc WHO
Đau đầu, mệt mỏi mắt và mệt mỏi toàn bộ
Đau cơ vùng hông hoặc chi dưới
Đau cơ vùng chi dưới
Trang 17khuyến cáo hệ thống y tế các nước quan tâm đến công tác dự phòng RLCX trên người lao động Ở các nước phát triển, nhiều chương trình dự phòng RLCX đã được áp dụng trên NVYT, tại các cơ sở y tế [96]
Trong các hệ thống về y tế, RLCX liên quan đến công việc của ĐDV là mục tiêu quan tâm và triển khai những biện pháp can thiệp do ĐDV là nhóm nhân viên y tế có nguy cơ cao và cũng có tỉ lệ mắc cao đối với RLCX Theo nhiều nghiên cứu, RLCX trên điều dưỡng có biểu hiện chủ yếu trên một số vùng của cơ thể như: lưng, cổ, tay, vai tuy nhiên cũng có thể gặp ở một số vùng khác nhưng tỉ lệ thấp hơn như đầu gối và bàn chân/mắt cá chân [75] Dưới đây là bảng thống kê kết quả một số nghiên cứu về RLCXNN gần đây tại khu vực Châu Âu trên ĐDV
Bảng 1.1 Thực trạng RLCX trên điều dưỡng viên tại các nước Châu Âu
Tác giả Năm Quốc gia Tỉ lệ Các yếu tố liên quan
88%
Đau thắt lưng chiếm tỉ lệ cao nhất (60.9%)
Các công việc thực hiện trên 10 lần/ngày (Các thủ tục hành chính, chăm sóc
vệ sinh cho bệnh nhân tại giường bệnh; di chuyển bệnh nhân tại giường bệnh)
Trang 18khuỷu tay và 22% bàn tay
Các yếu tố vật lý và tâm lý
xã hội (công việc áp lực, chế độ lương thưởng không xứng đáng)
Tuổi cao, tình trạng kiệt sức
Ribeiro và
cộng sự 2016
Bồ Đào Nha
89%
Thắt lưng (63.1%), theo sau là cổ, lưng, vai, bàn
cổ tay
Tỷ lệ vắng mặt tại nơi làm việc (nghỉ làm việc) có liên quan đến RLCX là cao (51,4%), làm việc tư thế đứng, uốn quay thân người, dùng lực mạnh của bàn ngón tay, tư thế làm việc ngồi với các chuyển động lặp lại
Kỳ
79.5%
Thắt lưng (49.7%), vai (38%), cổ (35%)
làm việc trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt, nâng vật nặng, đứng lâu và tư thế uốn cong
Passali C và
cộng sự 2018 Hy Lạp
98%
Thắt lưng (85.3%), cổ (71.2%) và lưng trên
Giới nữ, thâm niên làm việc 11-20 năm, làm ca kíp, tuổi, BMI, nâng vật nặng
Trang 19(70.7%)
Tất cả các nghiên cứu ở trên đã chỉ ra một tỷ lệ cao RLCX trên ĐDV, dao động từ 70% tại Ba Lan năm 2014 [103] cho đến cao nhất là 98% trong một nghiên cứu mới đây ở Hy Lạp [110] Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra các vị trí thường gặp như thắt lưng, cổ, chi trên và có nhiều yếu tố góp phần phát sinh và thúc đẩy tình trạng RLCXNN như các yếu tố vật lý, yếu tố thuộc về mặt tổ chức
và điều kiện lao động, yếu tố tâm lý và các yếu tố cá nhân [94], [119], [122], [51], [72], [111], [113], [116] Tại các nước phát triển, nhiều can thiệp dự phòng
đã được triển khai, nhất là trong bệnh viện nhằm giảm tỷ lệ mắc RLCX trên các ĐDV, thông qua việc cải thiện môi trường lao động và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ Điều đó đã chỉ ra rằng các biện pháp can thiệp éc-gô-nô-mi làm giảm
tỷ lệ tổn thương, các triệu chứng cơ xương, giảm thiểu các yêu cầu về bồi thường
và giảm thiểu số ngày không được làm việc hoặc nghỉ việc do bệnh tật [120]
Tại các nước đang phát triển, RLCXNN vẫn còn ít được quan tâm đến mặc dù một số nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc ở các nước này cũng rất cao Các nước đang phát triển cũng không có quy chuẩn trong chương trình dự phòng RLCX, điều này cũng đã được khẳng định trong các nghiên cứu về RLCX trên ĐDV ở các nước này Một nghiên cứu thực hiện ở Malaysia đã chỉ ra một tỷ lệ RLCX trên nhân viên y tế là 88% ở lưng, 77% ở cổ và 60% ở vai Nghiên cứu trên cũng chỉ ra những yếu tố có liên quan đến RLCX xuất hiện ở một vài phần việc cũng như các yếu tố về tâm lý [81] Ở Nigeria, một nghiên cứu đã cho thấy
tỷ lệ RLCX trên ĐDV là 78% trong đó tổn thương chủ yếu là ở lưng, cổ và đầu gối Dưới đây là bảng thống kê kết quả một số nghiên cứu về tình trạng RLCX trên ĐDV tại một số quốc gia Châu Á [40], [44], [46], [49], [58], [60], [98], [114], [126], [127], [135], [153], [156]:
Trang 20Bảng 1.2 Thực trạng RLCX trên điều dưỡng viên tại một số nước Châu Á
Tác giả Năm Quốc gia Tỉ lệ Các yếu tố liên quan
Smith và
cộng sự 2006 Nhật Bản
85.5%;
vai (71.9%), thắt lưng (71.3%), cổ (54.7%), lưng trên(33.9%)
Uống rượu, hút thuốc,
có con nhỏ, thao tác bằng tay với bệnh nhân, thực hiện công việc mệt mỏi về thể chất, áp lực tinh thần cao
Căng thẳng nghề nghiệp mức độ cao và trung bình
Yan P và
Trung Quốc
79.52%
Thắt lưng (64.83%), cổ (61.83%), và vai (52.36%)
Tuổi (≥26), làm việc khoa Ngoại, khoa gây
mê, làm việc trên 40h/tuần
Rathore FA
và cộng sự 2017 Pakistan
31.6%
Thắt lưng (32%), vai (20%), lưng và gối (10%)
Làm việc tại 1 vị trí trong thời gian dài (93.1%), chăm sóc số lượng bệnh nhân lớn trong 1 ngày (81.2%), và làm việc ở các vị trí khó chịu và chật chội, gò bó (78.6%)
Chen WL và
cộng sự 2006 Đài Loan
>50% cổ vai và thắt lưng
Mức độ liên quan giữa công việc và chất lượng cuộc sống thấp, gánh nặng công việc cao
Thinkhamrop
và cộng sự 2015 Thái Lan 47.8%
Vị trí làm việc không phù hợp, lo âu/trầm cảm,
Trang 21yêu cầu công việc thể lực cao, tuổi cao, thừa cân
Làm việc kéo dài và thiếu cân
Làm việc tại khoa ngoại
Barzideh M
và cộng sự 2012 Iran 89.9%
Quyền quyết định và hỗ trợ xã hội thấp, các yêu cầu về thể chất và tâm lý
xã hội cũng như mất an toàn trong làm việc cao
Làm việc ở khoa ngoại
Smith Derek
R và cộng sự 2004
Trung Quốc
70%
Thắt lưng (56.7%),
cổ (42.8%), vai (38.9%) và lưng (38.9%)
Lịch làm việc cứng nhắc, công cụ vận chuyển bệnh nhân nghèo nàn, gắng sức và không hài long trong công việc; đòi hỏi thể chất và tâm
lý xã hội cao
Trang 22Yeung S và
cộng sự 2004 Hongkong
Thắt lưng (42%), đầu gối/cẳng chân (30%), lưng trên (23%), hông - đùi (21%), và vai (21%)
Amin NA và
cộng sự 2014 Malaysia
Cổ (48.94%), bàn chân (47.20%), lưng trên (40.69%), thắt lưng (35.28%)
Đòi hỏi tâm lý cao, căng thẳng
Nia SHS và
cộng sự 2011 Iran
81% đau lưng, 29.5% đau cổ tay, 50% cổ, 35.5% vai,
và 63.5% gối
Uốn cong cơ thể nhiều,
di chuyển và nâng các dụng cụ, giơ cao tay hơn vai trong thời gian dài, gập người để nâng vật từ dưới sàn
Chung và
cộng sự 2013 Đài Loan
Điều dưỡng 76.24%, không điều dưỡng 65.79%
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm nghiên cứu các vấn
đề về sức khỏe nghề nghiệp của các nhân viên y tế, nhất là đối với các ĐDV [25], [15], [1, 915] và vấn đề an toàn nghề nghiệp cho nhân viên trong ngành Y
tế cũng đang dần được quan tâm nhiều hơn [28] Các kết quả chỉ ra rằng các vấn
đề nghiêm trọng về sức khỏe có liên quan đến nghề nghiệp ở các ĐDV, gồm có stress (chiếm từ 7% đến 54%) [16], [30], [32], phơi nhiễm với các chất tiết sinh học của bệnh nhân chiếm 67% và tai nạn với các vật sắc nhọn [10] Ngoài ra còn
có nhiều nguy cơ khác như: nhiễm vi-rút viêm gan B và C [8], [7], [26], [27], [34], lao nghề nghiệp [90], công việc quá tải, căng thẳng, môi trường làm việc kém thân thiện [1], các nguy cơ về phóng xạ [19], [20], [21] Các RLCX xảy ra trên ĐDV đã được ghi nhận trong một vài tài liệu, nhưng chúng không được
Trang 23nghiên cứu một cách rõ ràng Nghiên cứu gần đây nhất của nhóm nghiên cứu của chúng tôi tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, một bệnh viện trung tâm lớn nhất vùng duyên hải bắc bộ, cho thấy tỷ lệ mắc RLCX trên ĐDV bệnh viện là rất cao chiếm 81% [12], và cũng chỉ ra một số yếu tố nguy cơ cho tình trạng này
là nữ giới, đồng mắc stress và tuổi cao [13]
ngày của điều dưỡng viên
1.1.3.1 Tác động lên công việc
RLCX thông thường xảy đến một cách từ từ Với những người mắc RLCX thì đầu tiên sẽ xuất hiện tình trạng mệt mỏi các cơ và khớp không rõ nguyên nhân và sau đó là đau khu trú Những biểu hiện này thường bị bỏ qua nhưng chúng có thể sẽ gây ra giảm hoạt động trong lao động
Tình trạng RLCX cũng có thể dẫn đến giảm hiệu suất lao động bao gồm giảm khối lượng và chất lượng của công việc Nghiên cứu của tác giả Lotters F trên những công nhân đi làm sau thời gian nghỉ từ 2 đến 6 tuần do RLCX cho thấy có 60% bị giảm năng suất lao động và 40% vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng giảm năng suất cho đến khi theo dấu 12 tháng [95] Phân tích trong số những người bị giảm năng suất cho thấy thời gian bị mất trung bình cho 8 giờ làm việc là 1,6 giờ Các yếu tố liên quan đến tình trạng giảm năng suất lao động bao gồm sức khỏe thể chất kém, khuyết tật về chức năng và quan hệ đồng nghiệp kém Theo chiều hướng khác, RLCX cũng đóng vai trò là lý do của vắng mặt tại nơi làm việc Nghiên cứu của tác giả Rafael tại Brazil trên dữ liệu của 18,611 công nhân cho thấy RLCX có thể là nguyên nhân gây ra mất 5 triệu ngày làm việc, do ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người lao động [76]
1.1.3.2 Tác động lên cuộc sống hằng ngày
Tình trạng RLCX là một tác động đến chất lượng cuộc sống của người mắc được biểu hiện bằng hậu quả lên khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày ở
Trang 24nhà và lên chất lượng của giấc ngủ Tất cả điều này gây tác động lên những mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội
Một nghiên cứu cắt ngang của nhóm tác giả Banejee trên 2633 đối tượng được chọn ngẫu nhiên thực hiện tại Đại học Y Y Patil, Pune, Ấn Độ Bệnh nhân mắc rối loạn cơ xương được xác định bằng các cuộc điều tra tại nhà, bằng các cuộc phỏng vấn trực tiếp và kiểm tra lâm sàng được thực hiện bởi các thực tập viên được đào tạo trong các mẫu ngẫu nhiên của các hộ gia đình được chọn Đồng thời, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc RLCX theo các khía cạnh cũng được đánh giá bằng cách đo lường các hạn chế của các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, tác động đến các mối quan hệ gia đình và xã hội và rối loạn giấc ngủ bằng công cụ có cấu trúc Kết quả cho thấy, trong số này, 190 (7,2%) bị các loại RLCX khác nhau, với tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam (OR = 1,43, 95% CI = 1,05 đến 1,95) RLCX có ảnh hưởng đến các mức độ hạn chế khác nhau khi thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, cụ thể là: Mặc quần áo 9,5%, gội đầu 11,6%, tăng từ giường 50%, tự ăn 6%, đi bộ 39%, tắm 10%, đi vệ sinh 37%, đi cầu thang 55%, lên xe buýt 30% và rối loạn giấc ngủ 47% Những hạn chế này cũng có tác động đến các mối quan hệ gia đình và xã hội của họ [48]
Ngoài ra, RLCX có thể làm phát sinh chi phí rất lớn cho người lao động để điều trị các triệu chứng, các tổn thương và trở thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình Nghiên cứu phân tích của nhóm tác giả Asfaw A thực hiện năm 2015 cho kết quả RLCX có thể tác động làm tăng 15% chi phí y tế của các thành viên trong gia đình và tăng từ 29 – 33 triệu đô cho các chi phí y tế ngoại suy ở cấp quốc gia [45]
1.2 Nguyên nhân và các yếu tố gây tình trạng rối loạn cơ xương trên điều dưỡng viên
Một trong những vấn đề sức khỏe nghề nghiệp phổ biến nhất ở ĐDV chính
là tình trạng RLCX Có rất nhiều các định nghĩa về tình trạng RLCX khác nhau,
Trang 25hầu hết đều bao gồm đau ở vùng cơ thể bị ảnh hưởng (ví dụ: lưng hoặc cổ) trong một khoảng thời gian hoặc tần suất xác định, cùng với các triệu chứng liên quan khác như tê và ngứa ran [88] Đánh giá RLCX cũng thay đổi từ nghiên cứu này sang nghiên cứu khác, nhiều nghiên cứu dựa trên bộ câu hỏi tự đánh giá của người tham gia nghiên cứu, một số khác dựa trên yêu cầu tìm kiếm sự chăm sóc hoặc dựa trên các xét nghiệm lâm sàng, cận lâm sàng được chẩn đoán bởi bác sĩ lâm sàng Các nhà nghiên cứu luôn cẩn thận loại trừ các tình trạng RLCX không liên quan đến yếu tố nghề nghiệp khỏi nghiên cứu của họ
Nhân viên y tế là nhóm lao động có nguy cơ rất cao với RLCX, đặc biệt
là các tổn thương vùng thắt lưng Tại các nước phát triển, NVYT cũng là nhóm
có nhiều yêu cầu bồi thường cho các RLCX ở vùng chi trên trong tổng số những yêu cầu bồi thường của người lao động Năm 2001, có tổng số 108.000 ĐDV tại
Mỹ được báo cáo mắc tình trạng RLCX liên quan đến công việc, trong đó bao gồm cả thời gian làm việc bị mất, tỉ lệ này cao tương đương so với công nhân ngành xây dựng [54] Năm 2003, tỉ lệ mới mắc của những chấn thương nghề nghiệp không gây tử vong, trong đó chiếm đa số là tình trạng RLCX, là 7,9% trong toàn bộ NVYT
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng RLCX dẫn đến những ngày ốm đau, tàn tật
và giảm doanh thu Trong một cuộc khảo sát với hơn 43.000 ĐDV tại năm quốc gia, 17% đến 39% dự định rời bỏ công việc của họ trong năm tới do những đòi hỏi về thể chất và tâm lý [37] Trong nghiên cứu trước đây, tỷ lệ ĐDV được báo cáo thay đổi công việc do RLCX dao động từ 6% đến 11%, tùy thuộc vào vị trí
cơ thể bị thương (cổ, vai hoặc lưng) [140] Nhân sự cũng có liên quan đến tình trạng RLCX, với sự bổ sung nhân sự thấp hơn liên quan đến thương tích gia tăng
Tỷ lệ ĐDV thấp hơn và tải lượng bệnh nhân cao hơn đều được chứng minh là dẫn đến tăng phơi nhiễm với các điều kiện nguy hiểm và không đủ thời gian phục hồi
Trang 26Công việc chăm sóc sức khỏe của ĐDV đòi hỏi nhu cầu rất cao về thể chất / tư thế [142], các nhiệm vụ đòi hỏi phải nâng vật nặng, uốn và xoắn vặn, và các thao tác thủ công khác có liên quan đến chấn thương lưng của nhân viên y tế Trong một nghiên cứu, các ĐDV được phát hiện có nguy cơ đặc biệt bị chấn thương lưng trong quá trình vận chuyển bệnh nhân, điều này đòi hỏi phải thực hiện các di chuyển đột ngột trong các tư thế cơ thể không được đối xứng [67] Vận chuyển bệnh nhân cũng yêu cầu các tư thế uốn cong và xoay cơ thể, làm tăng nguy cơ chấn thương do sự kết hợp của lực nén, xoay và lực cắt Những ĐDV có công việc đòi hỏi cao về thể chất sẽ có nguy cơ mắc RLCX ở cổ, vai hoặc lưng cao hơn từ 9 đến 12 lần [140] Hoogendoorn và các đồng nghiệp sử dụng các quan sát và bảng câu hỏi video trong một nghiên cứu trong vòng 3 năm
về nhân viên y tế, đã phát hiện ra rằng sự uốn cong cực độ và nâng vật nặng thường xuyên có tác động mạnh đến chứng đau thắt lưng của nhân viên Các phân tích khác cho thấy các yếu tố nguy cơ về thể chất/tư thế có liên quan đến giấc ngủ bị suy giảm, tăng sử dụng thuốc giảm đau và tăng sự vắng mặt tại nơi làm việc [142]
Một số ít nghiên cứu đã xem xét các yếu tố nguy cơ về thể chất/tư thế trong mối liên quan đến tình trạng RLCX ở cổ và vai của NVYT Các yếu tố nguy cơ liên quan đến đau cổ và vai bao gồm việc đặt cơ thể trong những tư thế khó chịu và duy trì trong thời gian dài Sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp, Kant và đồng nghiệp [83] phát hiện ra rằng các bác sĩ ngoại khoa làm việc trong
tư thế tĩnh kéo dài, cùng với các y tá và điều dưỡng trong phòng phẫu thuật, trong những ca mổ được yêu cầu duy trì áp lực trên các dụng cụ, sẽ dẫn đến căng thẳng cơ xương khớp ở vùng đầu, cổ và lưng Nâng và cúi người có liên quan ý nghĩa đến các tình trạng khó chịu của cánh tay và cổ trên NVYT trong khi đó tình trạng này ở vai có liên quan đến các động tác đẩy và kéo Trong khi đó, nâng vật nặng và các thao tác với cánh tay cao hơn vai có liên quan đến đau vai hoặc chấn thương ở nhân viên y tế và trong các nhóm nghề nghiệp khác Các bằng
Trang 27chứng đều chỉ ra rằng các can thiệp dự phòng RLCX cần giải quyết các yếu tố nguy cơ về thể chất / tư thế
Tất cả các yếu tố nguy cơ kể trên được xếp vào nhóm yếu tố cơ sinh, có liên quan chặt chẽ đến các thao tác, tư thế làm việc không hợp lý và gây hại đối với cơ thể, đặc biệt là với cột sống của ĐDV
Thường xuyên có thao tác với tay
cao
Đẩy giường bệnh với áp lực lên vai và
tay
Thực hiện các thao tác bằng tay ở tư thế không
thuận lợi với bệnh nhân hoặc với vật nặng
Tư thế không hợp lý chăm sóc bệnh nhân
trong thời gian kéo dài
Trang 28Hình 1.3: Một vài ví dụ về các tư thế làm việc nguy cơ gây ra tình trạng RLCX
Lịch trình và thời gian làm việc có thể ảnh hưởng đến chu kỳ ngủ-thức, và làm việc nhiều giờ, chẳng hạn như ca làm việc kéo dài hơn 12 giờ, có thể gây ra RLCX do tiếp xúc kéo dài với các yếu tố nguy cơ về thể chất / tư thế kể trên và
cơ thể cũng sẽ không đủ thời gian để phục hồi Khi nhu cầu về thể chất / tư thế đối với công việc tăng lên, khả năng ngủ không đủ giấc cũng tăng đáng kể Ca làm việc với một thời gian quay vòng thường xuyên và trong thời gian dài cũng
có thể có nguy cơ mắc RLCX cao hơn Trong một nghiên cứu trên 1.428 ĐDV, hơn 1/3 trong số đó có lịch làm việc kéo dài và với một lịch làm việc như vậy sẽ làm tăng khả năng gây ra tình trạng RLCX [91] Một nghiên cứu sau đó cũng cho thấy rằng thời gian làm việc dài có liên quan đến tỉ lệ mới mắc của các chấn thương về cơ xương trên ĐDV
Ở những nhân viên bị đau cơ liên quan đến công việc, các triệu chứng tăng lên sau mỗi ngày làm việc liên tiếp và chỉ được phục hồi sau ngày nghỉ thứ hai Những nhân viên này có thời gian nghỉ cơ ngắn hơn, cho thấy những áp lực cơ liên tục có liên quan đến các triệu chứng cơ xương khớp Trong một nghiên cứu tại Anh, chỉ ra rằng người lao động càng ngủ ít giờ và làm việc nhiều giờ hơn, các triệu chứng của cơ thể càng nhiều, bao gồm có RLCX [47]
Các yếu tố thuộc về thời gian làm việc liên quan có ý nghĩa đến tình trạng RLCX bao gồm thời gian làm việc kéo dài, làm thêm giờ bắt buộc hoặc thường xuyên phải kết thúc ca làm việc muộn, làm việc trong khi bị ốm hoặc trong ngày nghỉ và có ít hơn 10 giờ nghỉ giữa các ca làm việc [139]
Ngoài ra, các điều kiện khác thuộc về mặt tổ chức và tải lượng công việc trong môi trường bệnh viện cũng có thể gây ảnh hướng đối với tình trạng RLCX
Cụ thể, ĐDV thường xuyên phải giải quyết một lượng công việc khá lớn trong
Trang 29ca làm việc của mình, đặc biệt là trong môi trường bệnh viện tại Việt Nam có số lượng bệnh nhân rất đông Thủ tục hành chính phức tạp, những đòi hỏi và phản ứng thái quá từ các gia đình bệnh nhân, các áp lực về trách nhiệm liên đới liên quan đến công việc, thiếu hỗ trợ từ các đồng nghiệp, cấp trên, thiếu các kiến thức
cơ bản về chuyên môn… (Theo Viện sức khỏe nghề nghiệp và môi trường 2017)
là những nguồn nguy cơ lớn gây ra tình trạng căng thẳng tại môi trường làm việc, qua đó gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều áp lực
Những điều kiện thuộc về mặt môi trường làm việc khác như tiếng ồn, lạnh, chiếu sáng cũng có thể làm tăng nguy cơ với tình trạng RLCX [63] Ví dụ, làm việc trong điều kiện thời tiết lạnh sẽ làm giảm cảm giác với các dụng cụ do đó cần tăng vận cơ trong các thao tác, từ đó gây ra ảnh hưởng xấu đến các gân cơ Một sự chiếu sáng kém cũng làm cho việc đi lại có nhiều rủi ro hơn vì tầm nhìn kém hơn của chướng ngại vật, khi đó đòi hỏi sụ tập trung của thần kinh cao hơn, tình trạng này kéo dài thường xuyên sẽ dễ gây ra mệt mỏi trong lao động Tương
tự, môi trường bệnh viện có nhiều bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, gây ra nhiều tiếng ồn kéo dài làm gián đoạn giao tiếp và làm tăng cảm giác mệt mỏi Từ đó khởi phát các đau mỏi cơ xương khớp, lâu dần hình thành rối loạn cơ xương
1.3 Biện pháp dự phòng RLCX nghề nghiệp trên điều dưỡng viên và hiệu quả của các biện pháp dự phòng
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, phòng ngừa bệnh tật bao gồm tất cả các biện pháp không chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa sự xuất hiện của bệnh, chẳng hạn như làm giảm yếu tố nguy cơ, mà còn để ngăn chặn sự tiến triển cũng như làm giảm hậu quả của bệnh một khi nó xuất hiện Dự phòng được chia làm
Trang 303 cấp độ: dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Dự phòng cấp 1 hướng đến ngăn ngừa
sự xuất hiện ban đầu của một bệnh hoặc một rối loạn nào đó Trong khi đó dự phòng cấp 2 và dự phòng cấp 3 nhắm tới việc ngăn chặn hoặc làm chậm lại sự tiến triển và những tác động của bệnh hiện hành thông qua phát hiện sớm và điều trị thích hợp, hoặc làm giảm sự tái phát bệnh và những diễn biến xấu hay biến chứng của bệnh, hồi phục sức khỏe cho người bệnh [150]:
Hình 1.4 Sơ đồ ba cấp độ dự phòng
(Nguồn: community-based rehabilitation: CBR guidelines WHO – 2010) [151]
Tình trạng RLCX có tác động rất lớn đến sự vắng mặt liên quan đến công việc và là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ ngày nghỉ việc trên người lao động, do vậy chúng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động mà còn tạo ra gánh nặng cho hệ thống y tế, kinh tế và các chi phí xã hội khác để đối phó với các hậu quả của chúng mang lại [51], [68] Tại các nước phát triển, người ta ước tính thiệt hại về năng suất lao động cũng như chi phí điều trị những tổn thương do RLCX gây ra là vô cùng lớn [45], [62], [128], bên cạnh đó các nước đang phát triển cũng có xu hướng tương tự, mặc dù các nghiên cứu về gánh nặng của RLCX vẫn còn hạn chế nhất định [128]
Trước những hậu quả nặng nề mà RLCX mang lại cho không chỉ bản thân
Trang 31người lao động mà còn cho cả xã hội, việc dự phòng RLCX từ lâu đã là một ưu tiên trong ngành sức khỏe nghề nghiệp của rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
là tại Châu Âu [56] Tổ chức Y tế thế giới và Cục an toàn và sức khỏe nghề nghiệp Mỹ cũng đã soạn thảo ra những tài liệu hướng dẫn dự phòng RLCX trong môi trường lao động [96], [143], đây là những tài liệu tham khảo cho những nước không có hoặc thiếu các chương trình dự phòng và vì vậy có thể phục vụ
cơ bản việc dự phòng RLCX cho ĐDV ở các nước đang phát triển
Biện pháp can thiệp về éc-gô-nô-mi
Thuật ngữ éc-gô-nô-mi (gốc tiếng Pháp là "ergonomie", tiếng Anh thường dùng là "ergonomics", hay "human factors" trong thuật ngữ Mỹ) được phiên sang tiếng Việt với nhiều ngữ cảnh sử dụng khác nhau, tương ứng với từng loại hình lao động, như "thích hợp người - máy", hay "công thái học", hay "thích nghi với công việc" Trên ĐDV, rất nhiều nghiên cứu và tài liệu trong y văn đã chỉ ra các bằng chứng về các biện pháp can thiệp và hiệu quả của chúng trong việc dự phòng tình trạng RLCX Đa số các nghiên cứu đã kết luận rằng các biện pháp can thiệp hướng đến việc giảm thiểu các yếu tố nguy cơ vật lý và tổ chức công việc, người ta gọi là các biện pháp về éc-gô-nô-mi là có hiệu quả nhất nhằm giảm
tỷ lệ RLCX [104], [132], [133], [147] Các can thiệp về mặt éc-gô-nô-mi thông thường nhằm làm hiệu quả hóa các biện pháp cải thiện các yếu tố cơ sinh học và
tổ chức trong môi trường lao động, giúp ĐDV hạn chế tối đa các tư thế làm việc
gò bó, không thoái mái hoặc các tư thế không phù hợp với nhân trắc, từ đó sẽ làm giảm được các yếu tố quan trọng gây ra tình trạng RLCX Không thể phủ nhận mức độ quan trọng và hiệu quả của các biện pháp về éc-gô-nô-mi, tuy nhiên, liệu rằng nếu chỉ sử dụng duy nhất một biện pháp trên có đủ để hạn chế tối đa các vấn đề về RLCX trên ĐDV hay không? Một nghiên cứu của tác giả Burton và cộng sự trên tổng số 1.216 ĐDV làm việc tại các bệnh viện ở Bỉ và
Hà Lan đã chỉ ra tầm quan trọng của biện pháp về éc-gô-nô-mi, tuy nhiên đó là
Trang 32chưa đủ để có thể kiểm soát một cách tối ưu tình trạng RLCX, bên cạnh đó cũng
đã chứng minh việc cung cấp thêm các thông tin về tình trạng tâm lý xã hội học (bao gồm các yếu tố tâm lý và nhân trắc học) và sự khuyến khích hiểu biết về RLCX cũng đóng một vai trò quan trọng và nên được đề xuất vào các biện pháp
dự phòng [55]
Biện pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
Kiến thức, thái độ và thực hành của ĐDV về RLCX đóng một vai trò không nhỏ trong sự hiệu quả của các biện pháp can thiệp dự phòng Do vậy các biện pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng của điều dưỡng trong việc nâng cao ý thức về phòng tránh RLCX là cần thiết Tuy nhiên, để có thể tiến hành một cách hiệu quả nhất biện pháp này, cần phải tìm hiểu cũng như điều tra về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng đối với RLCX, từ đó mới có thể đề xuất được những biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp nhất Đây cũng chính là lý do
mà chúng tôi đã lồng ghép một điều tra về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về RLCX trong giai đoạn điều tra ngang, từ đó làm cơ sở cho giai đoạn can thiệp Đây là một điểm mới trong nghiên cứu này, bởi lẽ tuy các nghiên cứu về tình trạng RLCX trên điều dưỡng là rất phổ biến, nhưng các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của ĐDV về RLCX còn rất hạn chế Có thể điểm qua một vài nghiên cứu như sau: nghiên cứu của Cillier và cộng
sự tạn Nam Phi năm 2013 trên 109 điều dưỡng về nhận thức cũng như thái độ của họ về đau vùng thắt lưng, đã chỉ ra rằng chỉ có 54% là nhận được một số thông tin liên quan đến đau lưng mạn tính trong quá khứ, đa số trong số họ chỉ nghĩ đến các nguyên nhân cơ học và vật lý là những tác động chính gây ra tình trạng đau thắt lưng, chỉ có rất ít (7%) cho rằng các nguyên nhân về mặt tâm lý
có thể gây ra tình trạng này Trong khi đó chỉ có khoảng 20% trong số họ cho rằng chế độ sinh hoạt ít vận động thể lực cũng góp phần phát sinh đau thắt lưng Cuối cùng, có 10% điều dưỡng không tin rằng các yếu tố xã hội lại có thể đóng
Trang 33góp vào sự phát triển của một tình trạng đau vùng thắt lưng [61] Một nghiên cứu khác của Zakerian và cộng sự trên 335 điều dưỡng tại Iran liên quan đến kiến thức của điều dưỡng về éc-gô-nô-mi và rối loạn cơ xương Kết quả cho thấy rằng, nhận thức của điều dưỡng về éc-gô-nô-mi chỉ đạt điểm trên trung bình một chút Khoảng 14% chưa từng nhận được bất kỳ một khóa tập huấn nào liên quan đến các thao tác và tư thế hợp lý để phòng tránh RLCX Ngoài ra các kiến thức liên quan đến điều kiện làm việc cũng như các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc của điều dưỡng cũng là rất kém [158] Qua các kết quả trên có thể thấy rằng, kiến thức cũng như thái độ của ĐDV liên quan đến RLCX còn rất hạn chế Thêm nữa, điều dưỡng lại là một trong những nhóm có nguy cơ cao mắc RLCX dựa trên rất nhiều bằng chứng trên thế giới, ngoài các nguyên nhân về điều kiện về môi trường và điều kiện làm việc không tốt, tải lượng công việc lớn, tổ chức công việc không hợp lý thì phải chăng còn do sự yếu kém về mặt nhận thức của ĐDV về RLCX đã góp phần làm tăng nguy cơ mắc RLCX cho nhóm quần thể này Từ những lý do trên, một trong những mảng tác động lên điều dưỡng nhằm dự phòng tình trạng RLCX chính là cải thiện kiến thức, thái độ cũng như
kỹ năng của người điều dưỡng trong môi trường bệnh viện về RLCX
Giáo dục và tập huấn nhằm nâng cao nhận thức cho các ĐDV về RLCX cũng là một biện pháp được áp dụng khá rộng rãi, đặc biệt là tại các nước đang phát triển khi mà nguồn kinh phí không đủ để tiến hành và duy trì các biện pháp can thiệp khác Sự hiểu biết của các ĐDV về dự phòng RLCX có thể giúp họ tự giác thực hiện các nguyên tắc nghề nghiệp khi thực hành thao tác y khoa trên bệnh nhân Các biện pháp tác động thay đổi kiến thức vì vậy sẽ hướng đến việc cải thiện sự hiểu biết này Biện pháp giáo dục ở đây không chỉ đơn thuần là tập huấn lý thuyết nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết, mà còn có thể đưa ra các hình thức khác như tập huấn về thực hành kỹ năng thao tác với bệnh nhân và dụng cụ [134] hay tập huấn dựa trên các tình huống đóng vai [87] Một nghiên cứu của Bos và cộng sự [52] khi so sánh các phương pháp tiếp cận giáo dục kiến
Trang 34thức về RLCX cho ĐDV, hay như trong nghiên cứu của Engels và cộng sự [60]
đã chỉ ra rằng việc kết hợp giáo dục kiến thức với éc-gô-nô-mi sẽ cho hiệu quả cao hơn trong mục tiêu làm giảm các RLCX
Biện pháp can thiệp bằng các bài tập rèn luyện thể lực
Một vài nghiên cứu cũng chỉ ra hiệu quả tích cực của các bài tập rèn luyện thể lực trong việc làm giảm các triệu chứng của RLCX, tuy nhiên bài tập cụ thể nào có hiệu quả tốt nhất vẫn còn đang được thảo luận Nghiên cứu của Oldervoll
và cộng sự [108] đã cho thấy cả các bài tập rèn luyện sức bền và sức mạnh của
cơ thể đều có khả năng làm giảm RLCX cho các điều dưỡng trong khoảng thời gian 7 tháng theo dõi Trong cuốn sách «Dự phòng rối loạn cơ xương trong môi trường bệnh viện» xuất bản năm 2010 của một nhóm tác giả người Bỉ, đã đề cập
và hướng dẫn chi tiết về một số bài tập rèn luyện và vận động cơ thể, như các bài tập kéo giãn cơ thể, bài tập với hệ cơ, bài tập vận động dành cho lưng… cũng như khuyến khích chơi một số môn thể thao rèn luyện sức bền và khả năng chịu đựng : đi bộ, chạy, bơi, đạp xe…, tránh hoặc hạn chế các môn thể thao không đối xứng như tennis hoặc các môn có thể gây ra các yếu tố nguy cơ về trượt ngã [63]
Một phân tích mới đây tại New Zealand đã tổng hợp và xem xét tất cả các nghiên cứu về dự phòng RLCX trên ĐDV đăng tải trên các tạp chí thế giới trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2016 đã trích xuất được tất cả 20 nghiên cứu nằm trong tiêu chuẩn chọn lựa [117] Trong đó, các biện pháp can thiệp mà các nghiên cứu này đã sử dụng là: hệ thống nâng đỡ bệnh nhân (n=8), tập huấn kỹ năng xử lý với bệnh nhân (n=3), tổ hợp các biện pháp khác nhau (n=7), liệu pháp tăng cường nhận thức hành vi (n=1) và mang giày không ổn định (n=1) Hầu hết các nghiên cứu này đã chỉ ra hiệu quả của các biện pháp can thiệp lên dự phòng tình trạng RLCX
Hiển nhiên rằng việc chỉ áp dụng duy nhất một can thiệp không mang lại kết quả tích cực và tối ưu nhất về việc giảm các triệu chứng RLCX, mà cần kết
Trang 35hợp thêm các biện pháp can thiệp khác nhau Xem xét lại cơ chế sự xuất hiện các RLCX, chúng ta thấy vai trò của cơ chế đa yếu tố trong sự hình thành các rối loạn này Vì vậy việc phối hợp nhiều biện pháp can thiệp được cho là phù hợp
để có thể mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc làm giảm các RLCX
viên
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp và công cụ đánh giá tình trạng RLCX trên người lao động nói chung và trên nhân viên y tế nói riêng Không có phương pháp và công cụ nào là cần thiết và quan trong hơn những phương pháp hay công cụ khác vì tất cả đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau Điều khác biệt nhất là mức độ kỹ năng thực hiện mà chúng yêu cầu
Dưới đây chúng tôi xin đề xuất một vài phương pháp và công cụ đánh giá tình trạng RLCX phù hợp nhất và khả thi nhất với bối cảnh môi trường lao động
ở Việt Nam nói chung và trên ĐDV nói riêng Sau đó chúng tôi sẽ liệt kê một số công cụ khác phổ biến trên thế giới đã được sử dụng ở trong rất nhiều các nghiên cứu và phục vụ cho công tác dự phòng các rối loạn này
Đánh giá RLCX không đặc hiệu
Thông thường và phổ biến nhất là sử dụng 2 bộ công cụ chẩn đoán sơ bộ sau:
a) Bộ câu hỏi chuẩn hóa Bắc Âu về RLCX (Nordic Musculoskeletal Questionnaire - NMQ):
Vài nét lịch sử ra đời: Bảng câu hỏi được phát triển từ một dự án được tài
trợ bởi Hội đồng Bộ trưởng các nước Bắc Âu và được tác giả Kuorinka và các cộng sự xây dựng vào năm 1987 [88] Mục đích ban đầu là để phát triển và thử nghiệm một phương pháp câu hỏi tiêu chuẩn cho phép so sánh các vấn đề đau ở thấp, cổ, vai và các vấn đề chung khác để sử dụng trong các nghiên cứu dịch tễ học Công cụ này không được phát triển và dùng cho mục đích chẩn đoán lâm sàng Hiện nay, nó đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới để
Trang 36nghiên cứu và đánh giá về tình trạng RLCX, đặc biệt là các tình trạng rối loạn
có liên quan đến các yếu tố nghề nghiệp
Mô tả: NMQ có thể được sử dụng như một bảng câu hỏi dùng để phỏng
vấn trực tiếp hoặc tự trả lời Tuy nhiên, tần suất các vấn đề về cơ xương khớp cao hơn đáng kể đã được báo cáo khi bảng câu hỏi được thực hiện như một phần của một nghiên cứu tập trung về các vấn đề cơ xương và các yếu tố công việc so với khi được kiểm tra sức khỏe tổng quát định kỳ [43]
Cấu trúc và các câu hỏi: Bộ câu hỏi nguyên bản có hai phần chính:
Phần 1: bảng câu hỏi chung về 40 câu hỏi lựa chọn bắt buộc nhằm xác định các khu vực của cơ thể gây ra các vấn đề về cơ xương khớp Phần này được
hỗ trợ bởi một bản đồ cơ thể để chỉ ra chín vị trí có thể xuất hiện triệu chứng là
cổ, vai, lưng trên, khuỷu tay, lưng thấp (thắt lưng), cổ tay / bàn tay, hông / đùi, đầu gối và mắt cá chân / bàn chân Những người tham gia sẽ được hỏi liệu họ có gặp vấn đề về cơ xương khớp nào trong vòng 12 tháng qua, trong 7 ngày qua và các vấn đề đó đã cản trở các hoạt động bình thường
Phần 2: các câu hỏi bổ sung liên quan đến cổ, vai và lưng dưới mô tả chi tiết hơn các vấn đề liên quan đến tình trạng RLCX Hai mươi năm câu hỏi lựa chọn bắt buộc sẽ gợi ra bất kỳ vấn đề nào gây ảnh hưởng đến từng vị trí, đánh giá tác động mà nó mang lại đối với công việc và cuộc sống của người trả lời, thời gian xuất hiện của các rối loạn, có được đánh giá tình trạng bởi các nhân viên y tế hay không và các vấn đề về cơ xương khớp trong 7 ngày qua
Hiện nay, bộ câu hỏi Nordic đã được dịch chuẩn hóa sang ngôn ngữ của nhiều quốc gia và được sử dụng rất rộng rãi trong các nghiên cứu về sức khỏe nghề nghiệp Do đó mà có nhiều phiên bản chuẩn hóa có nội dung khác so với
bộ công cụ gốc nhằm tạo sự phù hợp với bối cảnh ở mỗi quốc gia
Một nghiên cứu tổng hợp của tác giả Laura López-Aragón [93], khoa Điều dưỡng, trường Đại học Almería, Tây Ban Nha, về ứng dụng của bộ câu hỏi Nordic trong tổng số 259 nghiên cứu trên toàn thế giới, đã chỉ ra rằng bộ công
Trang 37cụ Nordic được sử dụng chủ yếu trong 3 lĩnh vực: các hoạt động liên quan đến điều trị sức khỏe con người và các vấn đề xã hội, công nghiệp sản xuất và nông nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt và lâm nghiệp Trong đó có rất nhiều nghiên cứu trên đối tượng là ĐDV làm việc trong các bệnh viện Nghiên cứu tổng hợp này của tác giả cũng chỉ ra những điểm mạnh và điểm hạn chế của bộ công cụ Nordic
Cụ thể:
Ưu điểm:
- Một bộ công cụ đã được chuẩn hóa
- Công nhận trên toàn thế giới
- Sử dụng miễn phí
- Có khả năng tự đánh giá cao
- Xác định tương đối nhanh các triệu chứng
- Khả năng ứng dụng trong các quần thể lớn
- Thường xuyên sử dụng cùng với các phương pháp đánh giá khác như RULA [97], REBA [77], OWAS [84],
Hạn chế:
- Các câu trả lời bắt buộc
- Khó khăn trong việc xác định tính trung thực của các câu trả lời
- Khó áp dụng ở các quốc gia không nói tiếng Anh (đối với lỗi dịch thuật, giải thích và / hoặc chuẩn hóa)
- Hạn chế của các câu hỏi toàn diện đến ba vùng trên cơ thể (lưng dưới, cổ
và vai)
- Chỉ xác định các triệu chứng
- Phân tích số liệu phức tạp cho quần thể lớn
- Sự khác biệt trong câu trả lời tùy thuộc vào điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi
Trang 38Hình 1.5 Một phần của Bộ câu hỏi Nordic
b) Thang đo mức độ đau Visual Analogue Scale (VAS)
Nhằm đánh giá tác động và mức độ của tình trạng RLCX, nhất là triệu chứng đau, chúng ta có thể sử dụng các thang đo và đánh giá mức độ đau Hiện nay có rất nhiều thang đo đánh giá mức độ đau, tuy nhiên thang đo Visual Analogue Scale (VAS) là thang đo được sử dụng nhiều nhất và đánh giá tốt nhất
Thang đo VAS là một thang đo tự đánh giá mức độ đau được tác giả Huskisson đề xuất vào năm 1974 [80] Nó được trình bày dưới dạng một đường
thẳng dài 100mm Hai đầu của đoạn thẳng là 2 giới hạn: một đầu là không có
đau, đầu còn lại biểu thị sự đau không chịu nổi Người bệnh hoặc người được
hỏi sẽ đặt một dấu nằm trong khoảng giữa 2 đầu đoạn thẳng để biểu thị mức độ đau của mình trong một khoảng thời gian nhất định
Trong thực tế, công cụ dùng để áp dụng thang đo này là một chiếc thước
có chia vạch bằng nhựa nhỏ có 2 mặt: mặt đầu tiên dành cho bệnh nhân hoặc
Trang 39người được hỏi với một con trượt di động để cho bệnh nhân hoặc người hỏi có thể dễ dàng trượt từ đầu này sang đầu kia; mặt đối diện dành cho bác sỹ hoặc người đánh giá có vạch chia với độ chính xác đến mi-li-mét cho phép bác sỹ hoặc người đánh giá có thể đọc được điểm số (từ 1 đến 10) và đánh giá chính xác mức độ đau của người bệnh
Hình 1.6 Một ví dụ về thang đo VAS
Hướng dẫn đánh giá kết quả:
Trang 40*Ngưỡng can thiệp điều trị là ngưỡng mà ở đó sự thiết lập một liệu pháp điều
a) Các xét nghiệm lâm sàng tiêu chuẩn:
Phương pháp khám lâm sàng SALTSA (Sluiter et al 2001) [123]
Bằng cách đề xuất một quy trình chẩn đoán có hệ thống để xác định tình trạng RLCX, phương pháp lâm sàng SALTSA đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
từ các bác sĩ sức khỏe nghề nghiệp về việc muốn có các công cụ thu thập tiêu chuẩn dễ thực hiện tại nơi làm việc Nó cũng giải quyết được mục tiêu rộng hơn
về sức khỏe nghề nghiệp bằng cách tạo cơ hội cho các bác sĩ nghề nghiệp chia
sẻ dữ liệu lâm sàng của họ để cùng nhau thiết lập hoặc cải thiện giám sát dịch tễ học của tình trạng RLCX và đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa
Nguồn gốc của phương pháp: Phương pháp SALTSA, một công cụ để xác
định các RLCX ở chi trên, được thiết kế và xuất bản vào năm 2001 bởi một nhóm đồng thuận chung Châu Âu, thuộc quản lý của Viện nghiên cứu về sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Corelel (Amsterdam, Hà Lan) Đây là một phần của chương trình nghiên cứu chung châu Âu về sức khỏe nghề nghiệp
Mục tiêu: phương pháp SALTSA trước tiên là dành cho các bác sĩ nghề
nghiệp Nó cho phép xác định tình trạng RLCX tại nơi làm việc, bằng phương pháp khám lâm sàng phát hiện các rối loạn tiền lâm sàng và lâm sàng dựa trên một quy trình chẩn đoán nghiêm ngặt, để ngăn chặn sự phát triển sớm nhất có thể của các tình trạng này