Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hi
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.1.1.Khái niệm về nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quátrình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giálấy tiền tệ là môi giới Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệthống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bênngoài
Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn
bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ
có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài ”
Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh
tế, các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địahoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia vớinhau
Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồnngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình táisản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giảiquyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của cácngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảmbảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế sosánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động
Trang 2quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanhtoán
1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanhtrong nước Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau:
- Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điềuước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quánThương mại quốc tế
- Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú:Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm
- Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C
- Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổicao như : USD, bảng Anh
- Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là nhậpkhẩu theo điều kiện CIF, FOB
- Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bànrộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu
- Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ quản
lý, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin
- Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá
Để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng
- Hoạt động nhập khẩu là cơ hội để các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhauhợp tác lâu dài Thương mại quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ kinh tế -chính trị của các nước xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đối ngoại
1.3 Phân loại nhập khẩu
Dưới đây là một số loại hình nhập khẩu cơ bản và phổ biến nhất:
Trang 31.3.1 Nhập khẩu trực tiếp.
Theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việcmua và việc bán không ràng buộc nhau Bên mua có thể chỉ mua mà không bán,bên bán có thể chỉ bán mà không mua Hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp trongnước nhập khẩu hàng hoá, vật tư ở thị trường nước ngoài đem về tiêu thụ ở thịtrường trong nước Để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu, doanhnghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu vật tư, thiết bị trên thị trường nộiđịa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả, đàmphán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện theo hànhlang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế
Đặc điểm: Được tiến hành một cách đơn giản Bên nhập khẩu phải nghiêncứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng hợp đồng,phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao nhận, kho bãicùng các chi phí có liên quan đến tiêu thụ hàng háo, thuế nhập khẩu
1.3.2 Nhập khẩu uỷ thác.
Theo quyết định số 1172/TM/XNK ngày 22/9/1994 của Bộ trưởng BộThương Mại về việc ban hành” Quy chế XNK uỷ thác giữa các pháp nhân trongnước” đã định nghĩa như sau:
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức nhậnlàm dịch vụ nhập khẩu Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng uỷ thác giữacác doanh nghiệp phù hợp với những quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanhnghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật tư,thiết bị nào đó nhưng lại không được phép nhập khẩu trực tiếp hoặc gặp khó khăntrong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục uỷ thác nhập khẩu cho doanhnghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu củamình Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thông tin về thị trường,
Trang 4giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng uỷ thác thươnglượng đàm phán và ký kết hợp đồng uỷ thác Bên nhận uỷ thác phải tiến hành làmcác thủ tục nhập khẩu và được hưởng phần thù lao gọi là phí uỷ thác
Đặc điểm: Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không phải
bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàngnhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch XNK không được tính vàodoanh thu Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hànghoá, vật tư với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác ởtrong nước
1.3.3 Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu trong Thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch
trao đổi hàng hoá trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bánđồng thời là người mua và ngược lại Lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi có giá trịtương đương Giao dịch đối lưu dựa trên bốn nguyên tắc cân bằng: Cân bằng vềmặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về cùng một điều kiện giao hàng và cânbằng về tổng giá trị hàng hoá trao đổi
Đặc điểm: Hợp đồng này có lợi ở chỗ là cùng một hợp đồng ta có thể tiếnhành đồng thời hoạt động xuất và nhập khẩu Đối với hình thức này thì lượng hànggiao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương nhau Doanh nghiệp xuấtkhẩu được tính vào cả kim ngạch xuất nhập khẩu, doanh thu trên hàng hoá nhập vàhàng xuất
1.3.4 Nhập khẩu tái xuất
Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất, nhưng đều thống nhất mộtquan điểm về tái xuất là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đãnhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất Có nghĩa là tiến hành nhập khẩukhông phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ ba nhằm thu lợinhuận Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về
Trang 5một lượng ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn thu hút ba nước:nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một họat động kinh doanh hết sức phứctạp và nhạy cảm với môi trường kinh doanh Kinh doanh nhập khẩu chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhậpkhẩu, đó là:
1.4.1 Những nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinhdoanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là yếu tố nộilực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay không.Các nhân tố đó là:
* Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến điềukiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Nếu như việc tổ chứckinh doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù hợp vớiyêu cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ gópphần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Làm tốt công tác tổ chức
Trang 6kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu: Chuẩn bị trước khi giaodịch như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng trong nước, lậpphương án kinh doanh thận trọng
* Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp cóảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu nóiriêng và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung Tổ chức bộ máy quản
lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công tác nâng caohiệu quả kinh doanh Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy củadoanh nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh XNK
* Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quantrọng có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt độngkinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng Nếu doanh nghiệp có độingũ cán bộ công nhân viên năng động, có năng lực, trình độ chuyên môn cao, nhiệttình, tích cực trong công tác kết hợp với việc bố trí nguồn nhân lực theo chiến lược
“ đúng người, đúng việc, đúng lúc” của doanh nghiệp thì nhất định sẽ có ảnhhưởng tích cực tới hiệu quả kinh doanh
* Vốn kinh doanh: Là nhân tố tối quan trọng, là thành phần không thể thiếutrong kinh doanh, nó là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
* Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu công ty có cơ
sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi chocông việc kinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hoá được tốt hơn,tiết kiệm chi phí trong khâu vận chuyển , nâng cao chất lượng phục vụ
* Thị trường - khách hàng: Thị trường là một tấm gương trung thực cho cácdoanh nghiệp tự soi vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình Hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào mức độđáp ứng các yêu cầu của thị trường
Trang 71.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp.
Đây là nhóm nhân tố có tầm ảnh hưởng vĩ mô điều tiết hoạt động doanhnghiệp, nó bao gồm:
* Quan hệ chính trị và kinh tế giữa nước ta với nước khác: Hoạt động nhậpkhẩu hoạt động trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới, thị trườngquốc tế, đối tượng hợp tác rất đa dạng Việc mở rộng các mối quan hệ chính trịngoại giao sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tiền đề pháp lý cho các tổ chức kinh doanhphát triển những bạn hàng mới
* Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động
Hệ thống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp với thông lệ quốc
tế
* Môi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng không nhỏ đếnhoạt động nhập khẩu Có đảm bảo ổn định về chính trị, giữ vững môi trường hoàbình và hữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thì mới tạo bầu khôngkhí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nóiriêng
* Môi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô nên kinh tế trong
đó chú ý đảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâm hụt củacán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnh hoá môi trườngkinh doanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.5 Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thành nênnghiệp vụ ngoại thương Biểu hiện là việc mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài
về phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc nhằm tái sản xuất với mục đích thulợi nhuận Nhập khẩu thể hiện mối tương quan gắn bó chặt chẽ với nhau giữa cácnền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới Tuy nhiên mỗi một thời kỳđều có đặc điểm riêng, chiến lược phát triển kinh tế riêngvì vậy mà vai trò, nhiệm
Trang 8vụcủa hoạt động kinh doanh nhập khẩu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với mụctiêu nhà nước đề ra
Trên thực tế, một khi nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tế thếgiới thì vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu ngày càng trở nên quan trọng,
có thể thấy cụ thể là:
- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng trong nước, cho phép tiêu dùng mộtlượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêudùng ngày càng cao cũng như thị hiếu của người tiêu dùng, làm tăng mức sốngngười dân, tăng thu nhập quốc dân
- Nhập khẩu tạo sự chuyển giao công nghệ, do đó có thể tái xuất mở rộnghàng hoá có hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo ra sự đồng đều về pháttriển trong nước
- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh tích cực giữa hàng nội và hàng nhập khẩutức là tạo ra động lực cho các nhà sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, tạo
đà cho xã hội ngày càng phát triển
- Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để cơ chế tự cung tựcấp của nền kinh tế đóng
- Nhập khẩu giải quyết được các nhu cầu đặc biệt như hàng hoá khan hiếm,hàng hoá cao cấp, công nghệ hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được haykhó khăn trong quá trình sản xuất vì nguồn lực khan hiếm
- Nhập khẩu góp phần khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của một quốc gia,tham gia sâu rộng và sự trao đổi quốc tế và sự phân công lao động quốc tế trên cơ
sở chuyên môn hoá sản xuất, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới,từng bước hoà nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới phù hợp với trình
độ phát triển của nền kinh tế
Tuy nhiên, để phát huy được hết vai trò và nhiệm vụ của hoạt động nhậpkhẩu còn tuỳ thuộc và quan điểm đường lối lãnh đạo của mỗi nước Với nước ta,
Trang 9trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lý kinh tế đối ngoại tập trungbằng mệnh lệnh, nghị định của chính phủ làm cho hoạt động nhập khẩu mất đitính linh hoạt và không đúng với bản chất của nó Từ sau ĐH VI, nhà nước đã đổimới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại phù hợp với nền kinh tế thị trường thì hoạtđộng nhập khẩu đang dần khởi sắc và đi vào quỹ đạo của nó
Tuy chỉ qua một thời gian ngắn mà hoạt động nhập khẩu đã phát huyđược vai trò lớn của nó, thực sự đã tạo cho thị trường trong nước trở nên sôi động,
đa dạng và phong phú về hàng hoá, vật tư Tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nền kinh tế nước ta đang chuyển mìnhhoà nhập với nền kinh tế khu vự và thế giới
2 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
2.1 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm kiếm khách hàng
và có hệ thống cùng với việc phát triển tổng hợp các thông tin cần thiết để giảiquyết vấn đề Marketing Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càng đóng vai tròquan trọng để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhậpkhẩu
Để nắm vững các yếu tố thị trường hiểu rõ quy luật vận động của thị trườngnhăm ứng xử kịp thời, các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hành công tác nghiêncứu thị trường, bao gồm: Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượngthị trường, lựa chọn bạn hàng, nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nhập khẩu
2.1.1 Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
Mục đích nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu đúngchủng loại mà thị trường trong nước cần kinh doanh có hiệu quả, đạt được mụctiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Việc nhận biết mặt hàng nhập khẩu trước hết căn
cứ vào nghiên cứu sản xuất và tiêu dùng trong nước về số lượng, chất lượng, tính
Trang 10thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sảnxuất Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hoá cần nhập khẩu như côngdụng, đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã, giá cả, điều kiện mua bán, kỹ năngsản xuất và các dịch vụ kèm theo
2.1.2 Nghiên cứu dung lượng thị trường
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm
vi thị trường nhất định trong một thời gian nhất định, thường là một năm Nghiêncứu dung lượng thị trường phải xác định nhu cầu thật của khách hàng và khả năngcung cấp của nhà sản xuất Nghiên cứu dung lượng của thị trường nhằm hiểu rõhơn về quy luật vận động của thị trường
2.1.3 Lựa chọn bạn hàng.
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những người hoặcnhững tổ chức có quan hệ với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bánhàng hoá hay dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liênquan đến việc cung cấp hàng hoá
Chọn thương nhân để giao dịch: Thường chọn những người xuất nhập khẩutrực tiếp Chúng ta cần quan tâm đến quan điểm kinh doanh của thương nhân đó,lĩnh vực kinh doanh của họ, vốn, cơ sở vật chất, uy tín và mối quan hệ trong kinhdoanh của họ
2.1.4 Nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nhập khẩu
Giá cả luôn gắn liền với thị trường và là một yếu tố cấu thành thị trường,nghiên cứu giá cả thị trường là một bộ phận của nghiên cứu thị trường, nó bao gồmcác công việc sau: Nghiên cứu mức giá từng mặt hàng tại từng thời điểm trên thịtrường, xu hướng biến động và các nhân tố ảnh hưởng
Trang 11Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên thịtrường thế giới và là giá của những giao dịch thông thường, không kèm theo mộtđiều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi
2.2 Lập phương án kinh doanh
Bao gồm các bước sau:
- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh
- Đề ra những mục tiêu cụ thể như : sẽ nhập khẩu bao nhiêu với giá cả baonhiêu, nhập ở thị trường nào và tình hình tiêu thụ hàng hoá đó như thế nào
- Đề ra biện pháp thức hiện: Bao gồm cả biện pháp đối với trong nước vàbiện pháp đối với thị trường ngoài
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
2.3 Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
2.3.1 Các phương thức chủ yếu trong giao dịch nhập khẩu
Dưới đây là một số phương thức giao dịch cơ bản trong buôn bán quốc tế:
* Giao dịch trực tiếp: Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thương mại quốc
tế là giao dịch mà người mua (hoặc bán) thoả thuận, bàn bạc trực tiếp (hoặc thôngqua thư từ, điện tín ) với người bán (người mua) về hàng hoá, giá cả, giao dịch,phương thức thanh toán Trong phương thức thanh toán này hai bên tiếp cận thịtrường hỏi giá, báo giá, chào hàng và đi đến chấp thuận giá cả của hàng hoá đó Và
từ đó đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
* Giao dịch qua trung gian: Giao dịch qua trung gian trong kinh doanhThương mại quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc người bán) quy định về điềukiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thứcthanh toán phải qua một người thứ ba là người trung gian buôn bán(chủ yếu làcác cửa hàng đại lý, các tổ chức môi giới) Việc sử dụng đại lý và môi giới cónhiều ưu điểm: Những người trung gian hiểu rõ về tình hình thị trường, luật pháp,
Trang 12tập quán địa phương, giảm được chi phí vận chuyển, hình thành được đại lý buônbán tiêu thụ rộng, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường mới Tuy nhiên giaodịch này cũng có những nhược điểm là mất liên hệ trực tiếp với khách hàng, thịtrường buôn bán, lợi nhuận bị chia sẻ
* Giao dịch tại hội chợ triển lãm: Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ tổchức vào một thời gian nhất định Tại đó người bán trưng bày hàng hoá của mình
và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán
* Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là thị trườngđặc biệt, tại đó thông qua người môi giới do sở giao dịch chỉ định người mua vàngười bán mua bán hàng hoá có khối lượng lớn có phẩm chất đồng loại và có thểthay thế nhau Các loại giao dịch ở sở giao dịch là: Giao dịch ngay, giao dịch kỳhạn, nghiệp vụ tự bảo hiểm
2.3.2 Đàm phán
Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong mộtquan hệ kinh doanh nhằm đi tới thống nhất các điều kiện, cách xử lý những vấn đềnảy sinh trong quan hệ buôn bán Nội dung của các cuộc đàm phán thương mạigồm: Tên hàng, phẩm chất, số lượng, bao bì, đóng gói, giao hàng, giá cả, thanhtoán, bảo hiểm, bảo hành
2.3.3 Ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Một hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương sự
có quốc tịch khác nhau trong đó một bên bán (bên xuất khẩu) là một tài sản nhấtđịnh gọi là hàng hoá Bên mua có trách nhiệm trả tiền và nhập hàng Hình thức hợpđồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các đơn vị XNK ở nước ta.Các điều khoản trong hợp đồng do bên mua và bên bán thoả thuận chi tiết, mặc dùtrước đó đã có đơn đặt hàng và chào hàng, nhưng vẫn phải thiết lập văn bản hợpđồng làm cơ sở pháp lý cụ thể cho các hoạt động trao đổi hàng hoá từ quốc gia nàysang quốc gia khác, và làm căn cứ cho việc xác định lỗi khi có tranh chấp xảy ra
Trang 132.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh XNK với tưcách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó Nói chung cần tiếnhành các công việc sau:
- Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu và xin giấy phép nhập khẩu đối với hàng chuyên ngành
- Kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày31/12/1973 và Thông tư liên Bộ GTVT- Ngoại thương số 52/TTLB ngày25/1/1975, hàng nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng Doanhnghiệp nhập khẩu, với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn, phải lập thư dựkháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, sau đó phải yêu cầu công
ty bảo hiểm lập biên bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởi những rủi ro đã đượcmua bảo hiểm
- Thuê tàu chở hoặc uỷ thác thuê tàu: Trong quá trình thực hiện hợp đồngnhập khẩu việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào: Những điều khoản củahợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải Chủhàng nhập khẩu phải căn cứ vào đặc điểm và khối lượng vận chuyển của hàng hoá
để lựa chọn thuê tàu cho phù hợp đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng
- Mua bảo hiểm: Các chủ hàng nhập khẩu của ta, khi cần mua bảo hiểm, đềumua tại các Công ty Việt nam để đề phòng rủi ro Các đơn vị kinh doanh khi muabảo hiểm phải làm một hợp đồng với công ty bảo hiểm Tuỳ thuộc vào đặc điểmtính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bảo hiểm chuyến hay muabảo hiểm bao Có ba điều kiện bảo hiểm chính: Bảo hiểm rủi ro (Điều kiện A), Bảohiểm có tổn thất riêng (Điều kiện B) và Bảo hiểm miễn tổn thất riêng (Điều kiệnC)
Trang 14- Làm thủ tục Hải quan: Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia đểnhập khẩu đều phải làm thủ tục Hải quan Thủ tục Hải quan là một công cụ quản lýhành vi mua bán theo pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu Việc làm thủtục Hải quan gồm ba bước chủ yếu: Khai báo Hải quan, xuất trình hàng hoá vàthực hiện các quyết định của Hải quan
- Giao nhận hàng nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày 31/12/1973 “ Các cơquan vận tải có trách nhiệm tiếp nhận hàng nhập khẩu trên các phương tiện vận tải
từ nước ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi
và giao cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng của tổng công ty đã nhập hàngđó” Và theo NĐ 200/CP ngày 31/12/1993 của nhà nước thì mọi việc giao nhậnhàng đều phải uỷ thác qua cảng khi hàng về cảng
- Làm thủ tục thanh toán: Nghiệp vụ thanh toán là sự vận dụng tổng hợp cácđiều kiện thanh toán quốc tế, là nghiệp vụ quan trọng và cuối cùng trong việc thựchiện hợp đồng nhập khẩu Trong kinh doanh thương mại hiện nay có rất nhiềuphương thức thanh toán khác nhau như: phương thức nhờ thu, phương thức điệnchuyển tiền và phương thức tín dụng chứng từ
+ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại: Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủhàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mấtmát thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời gian khiếu nại
3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
3.1 Các quan điểm về hiệu quả.
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để
xem xét
Nếu xét theo hiệu quả cuối cùng thì: Hiệu quả kinh tế là mức độ chênh lêchgiữa doanh số thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Đứng trên góc độnày thì phạm trù hiệu quả đông nhất với lợi nhuận Hiệu quả kinh doanh cao hay
Trang 15thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh và tổ chứcquản lý trong toàn doanh nghiệp
Nếu đứng trên góc độ các yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả thể hiệntrình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất-kinh doanh
Nó phản ánh kết quả kinh tế thu được từ việc sử dụng các yếu tố tham gia vào hoạtđộng sản xuất-kinh doanh Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợpphản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố tham gia quá trình sản xuất-kinh doanh.Đồng thời là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, phản ánh trình độcủa nền sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá có phát triển hay không là do hiệuquả đạt được cao hay thấp, chỉ tiêu hiệu quả phản ánh cả về mặt định lượng và cả
về mặt định tính Về mặt định lượng thì hiệu quả kinh tế của hoạt động sản kinh doanh phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Vềmặt định tính nó phản ánh ảnh hưởng của hoạt động sản xuất - kinh doanh đối vớiviệc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế, những yêu cầu và mục tiêu
xuất-chính trị - xã hội
Khi đứng trên phạm vi khác nhau để xem xét vấn đề hiệu quả thì có thể chia
hiệu quả làm nhiều loaị khác nhau
Nếu đứng trên phạm vi xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem xét thì gồm cóhiệu quả KT- XH và hiệu quả chính trị Cả hai chỉ tiêu hiệu quả này đều có vị tríquan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì có phạmtrù hiệu quả kinh tế và phạm trù hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh tế của một hoạt động sản xuất-kinh doanh nhăm đề cập tớinhững lợi ích kinh tế mà hoạt động đó thu được thông qua việc so sánh giữa cácchỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế không phảnánh quy mô, hình thức của hoat động kinh tế mà phản ánh về mặt chất lượng của
nó Trong quá trình phát triển sản xuất xã hội thì nguồn tài nguyên ngày càng khan
Trang 16hiếm và trở nên đắt hơn, người ta thấy rằng kết quả thu được từ các hoạt động đó làrất thấp Lý luận hiệu quả kinh tế băt nguồn từ yêu cầu thự tế của quá trình sảnxuất nhằm diễn giải, đánh giá chất lượng của toàn bộ quá trình hoạt động đó đồngthời tác động tích cực trở lại công tác quản lý, tổ chức kinh doanh được tốt hơn.Vấn đề hiệu quả kinh tế trở thành chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh chungcủa quốc tế khi đưa ra thảo luận năm 1878 do Sapodơnicop cùng các nhà kinh tế vàkhoa học khác trình bày Nhưng mãi tới năm 1910 thì hiệu quả kinh tế mới chínhthức được thống nhất và được công nhận băng văn bản Từ đó tới nay, khái niệm
về hiệu quả kinh tê luôn được quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện và trở thành bộphân quan trọng của kinh tế học trong nền kinh tế thị trường Quan điểm về hiệuquả kinh tế được chia thành ba hệ thống quan điểm sau:
* Hệ thống quan điểm thứ nhất: Cho răng hiệu quả kinh tế được xác định bởi
tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh
tế được đánh giá theo công thức:
tư, tổng sản phẩm chia cho số vật tư ta được hiệu suất lao động ” Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội” xuất