1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIETINBANK CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG

15 614 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Ngừa Và Xử Lý Nợ Xấu Tại Vietinbank Chi Nhánh Khu Công Nghiệp Bình Dương
Tác giả Đỗ Lê Duy
Người hướng dẫn TS. Phan Đình Nguyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 36,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cán bộ tín dụng cần kiểm tra tư cách pháp nhân của người vay, mức độ tín nhiệm trong quá trình giao dịch với ngân hàng, xem xét cơ sở khoa học của việc lập dự án đầu tư, thời gian lập đế

Trang 1

GIẢI PHÁP NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIETINBANK CHI NHÁNH KHU

CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VIETINBANK TRONG THỜI GIAN TỚI.

Năm 2009 tình hình kinh tế thế giới liên tục có những diễn biến phức tạp và có tác động tiêu cực đến nền kinh tế xã hội nói chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các daonh nghiệp và ngành tài chính ngân hàng nói riêng Nhưng với sự quyết tâm,

nỗ lực phấn đấu của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên, Vietinbank đã đạt nhiều thành công to lớn: Tổng tài sản năm 2009 tăng 24%, mạng lưới phát triển mạnh, mở thêm 6 chi nhánh tại các tỉnh miền núi phía Bắc và 206 phòng giao dịch trong cả nước Đến hết 21/12/2009 số dư nguồn vốn huy động tăng 26,7%; dư nợ cho vay và đầu tư kinh doanh tăng 24,6% so với đầu năm Chất lượng quản trị tài sản, quản lý vốn được nâng cao, tỷ lệ nợ xấu giảm còn 0,6% trên tổng dư nợ Các mặt nghiệp vụ, dịch vụ đều có sự tăng trưởng và đạt kết quả tốt Lợi nhuận sau khi trích lập dự phòng rủi ro đạt 3018 tỷ đồng, vượt mục tiêu nghị quyết đại hội đồng cổ đông 16% Hệ thống công nghệ thông tin hoạt động ổn định, an toàn, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ Hoàn thành phát triển các ứng dụng: dịch vụ thu ngân sách, thanh toán với thuế, kho bạc, hải quan, dịch vụ SMS Banking, chuyển tiền

Trang 2

kiều hối online Vietinbank eRemite, chuyển tiền ngoại tệ, một só dịch vụ mới cho thẻ, Vietinbank at Home, giao diện Swift mới Vietinbank đã hoàn chỉnh quy trình vận hành “ Trung tâm dự phòng dữ liệu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của quốc tế Tiếp tục triển khai dự án hiện đại hoá ngân hàng giai đoạn II

Năm 2010, Vietinbank tiếp tục bám sát mục tiêu chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, phát triển tích cực các mặt hoạt động kinh doanh, thực hiện các bước đi vững chắc tiến đến xây dựng tập đoàn Ngân hàng tài chính hàng đầu Việt Nam Với phương châm “ An toàn – Hiệu quả - Hiện đại – Tăng trưởng bền vững”, năm 2010 Vietinbank sẽ nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu chính: Tổng tài sản tăng trưởng 25%; tổng nguồn vốn, cho vay nền kinh tế tăng 30%; lợi nhuận trước thuế đạt 4000 tỷ đồng Để đạt được các mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của toàn

hệ thống, từ Trụ sở chính đến từng Chi nhánh, từng CBNV Với truyền thống và thành tựu 21 năm qua, nhất định tập thể CBNV - những cổ đông của Vietinbank sẽ tiếp tục phấn đấu cho sự nghiệp phát triển của Vietinbank, cùng với toàn ngành hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và của Chính phủ giao phó

3.2 GIẢI PHÁP VỚI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG.

3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng

Xây dựng chính sách tín dụng dựa trên cơ sở mục tiêu của Vietinbank đồng

thời phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của từng địa bàn, từng chi nhánh đảm bảo được sự cân bằng giữa mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo khả năng tăng trưởng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng và bảo đảm an toàn Chính sách này cần phổ biến rộng rãi cho cán bộ nhân viên trong hoạt động lĩnh vực tín dụng thực hiện có định hướng và chủ động trong hoạt động tác nghiệp Dựa trên định hướng phát triển của Vietinbank, ngân hàng cần xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý và hiệu quả, thoả mãn các điều kiện sau:

Phản ánh được định hướng phát triển của Vietinbank trong từng thời kỳ, đảm bảo sự quản lý thống nhất trên toàn hệ thống

Phù hợp với tính chất đặc thù của địa bàn đầu tư của chi nhánh, phát huy được thế mạnh của địa phương và có những giải phảp hạn chế trong đầu tư tín dụng đối với những lĩnh vực ngành nghề không có lợi trong cạnh tranh, trong kinh doanh cũng như những nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro

Đáp ứng được những yêu cầu về hiệu quả kinh doanh, gia tăng thị phần Vietinbank, cân bằng giữa mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm

Trang 3

bảo khả năng tăng trưởng tín dụng và đầu tư an toàn trong phạm vi tỷ lệ nợ xấu chấp nhận được Đồng thời phát huy được năng lực và lợi thế so sánh của Vietinbank so với các ngân hàng thương mại khác trong cả nước

Chính sách tín dụng là kim chỉ nam, là định hướng cơ bản trong xác định những mục tiêu cần thực hiện trong hoạt động cấp tín dụng xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý và hiệu quả sẽ giúp cho hoạt động tín dụng có được những định hướng

rõ ràng, phòng ngừa được những rủi ro trêm cơ sở phân tích và nghiên cứu thị trường một cách đầy đủ và kỹ càng

3.2.2 Hoàn thiện quy trình tín dụng và xử lý nợ xấu

3.2.2.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá khách hàng.

Cần xác định việc thẩm định các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh là một khâu quan trọng nhất trước khi cho vay Cán bộ tín dụng cần kiểm tra tư cách pháp nhân của người vay, mức độ tín nhiệm trong quá trình giao dịch với ngân hàng, xem xét cơ sở khoa học của việc lập dự án đầu tư, thời gian lập đến khi xin vay vốn, đối chiếu với các quy định của nhà nước; dự kiến năng lực sản xuất kinh doanh, mặt hàng, dịch vụ, giá thành, thị trường cung ứng vật tư hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm, dự kiến thu nhập, lãi và thời gian hoàn vốn của dự án…Đối với các báo cáo tài chính, một căn cứ quan trọng để xưm xét tình hình hoạt động kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng vay vốn phải có xác nhận của kiểm toán nhà nước hoặc kiểm toán độc lập vì hiện nay các báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp gửi cho Chi nhánh không đảm bảo độ tin cậy, không thông qua kiểm toán, thiếu nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc thẩm định Tuy nhiên, cán bộ tín dụng không phải hoàn toàn tin tưởng vào các báo cáo tài chính có kiểm toán mà nên dựa trên kinh nghiệm bản thân khả năng phân tích phán đoán tình hình qua việc tìm hiểu doanh nghiệp bằng các chuyến đi thực tế, bằng giác quan “ thứ 6” của mình để

có thể phân tích doanh nghiệp một cách tốt hơn, chính xác hơn

3.2.2.2 Tăng cường công tác kiểm tra của ngân hàng

Kiểm tra trước trong và sau khi cho vay

Kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng như chấp hành kế hoạch

dư nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Trong quá trình kiểm tra, cần xem xét cơ cấu dư

nợ với nguồn vốn, những biện pháp để tăng nguồn vốn nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức kinh tế trên địa bàn mở rộng sản xuất kinh doanh

Kiểm tra về hồ sơ cho vay: cần đánh giá chính xác về tính hợp pháp, hợp lệ của

hồ sơ cho vay Đặc biệt cần lưu ý đến tính pháp lý và tính thực tiễn của những tài

Trang 4

liệu trong hồ sơ vay vốn như đơn xin vay, phương án sản xuất kinh doanh,…Đối với đơn xin vay, cầnlàm rõ mục đích và lý do vay tiền

Tăng cường đối chiếu công nợ và phân loại nợ: việc đối chiếu dư nợ vay trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng giúp ngân hàng phát hiện uốn nắn kịp thời những sai phạm trong công tác cho vay

3.2.2.3 Nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng là vô cùng quan trọng, thông qua hoạt động kiểm soát có thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Để nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro tín dụng thì cần tăng cường cán bộ làm trực tiếp từ bộ phận tín dụng hoặc thẩm định và quản lý tín dụng cùng phối hợp kiểm tra; thường xuyên đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ; có quy định trách nhiệm đối với cán bộ kiểm soát, có chế độ khuyến khích thưởng phạt để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong hoạt động kiểm soát; không ngừng hoàn thiện và đổi mới phương pháp kiểm tra, áp dụng linh hoạt các biện pháp kiểm tra vào tuỳ từng thời đirm, từng đối tượng và mục đích kiểm tra

3.2.2.4 Các biện pháp xử lý

Ngân hàng có thể xử lý nợ xấu thông qua việc bán nợ ho các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp Việc bán nợ cũng có thể coi là phương án xử lý nợ xấu nhanh nhất, giúp ngân hàng thu hồi vốn kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới

Ngân hàng cũng có thể liên kết với các chủ nợ hoặc tổ chức tín dụng khác có cùng khách hàng có nợ xấu để có thể xử lý nợ xấu tốt hơn

Ngân hàng có thể cùng với doanh nghiệp thực hiện việc tái cấu trúc doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể tăng sức đề kháng mà tự “chữa trị vết thương” của chính bản thân doanh nghiệp

3.2.3 Một số giải pháp khác.

3.2.3.1 Nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin tín dụng, đặc biệt là thông tin qua báo chí nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.

Trong công tác tín dụng, thông tin là yếu tố đóng vai trò quyết định giúp cho ngân hàng ra quyết định có đầu tư hay không Các thông tin từ phía khách hàng cung cấp nhiều khi lại thiếu đầy đủ, chính xác, do vậy cán bộ tín dụng không thể chỉ dựa vào các luồng thông tin do khách hàng cung cấp trong dự án mà cần phải nắm

Trang 5

bắt, xử lý các thông tin về mọi vấn đề liên quan đến phương án, dự án từ nhiều nguồn khác nhau

Trong hệ thống thông tin thu thập được thì nguồn thông tin từ báo chi là không thể thiếu Hơn nữa, xuất phát từ tính chất khách quan của thông tin trên báo chí nên chúng ta có thể thu thập được những thông tin tương đối chính xác về khách hàng Việc sử dụng thông tin này một cách hiệu quả, kết hợp với phương pháp phân tích, đánh giá tốt sẽ giảm được yếu tố chủ quan trong thẩm định khách hàng, thông qua

đó góp phần nâng cao chất lượng công tác tín dụng và từ đó sẽ làm giảm đi tỷ lệ nợ xấu cho ngân hàng

Báo chí kinh tế đã quán triệt được tư tưởng đổi mới, phản ánh nhánh kịp thời các vấn đề kinh tế đặt ra trong sự phong phú và đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội, truyền thông điện tử với những tính năng ưu việt như: tính thời sự nóng hổi, sự tương tác đa chiều, dung lượng thông tin gần như không hạn chế đã kịp thời phản ánh những sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội Với hơn 630 đơn vị báo chí trên cả nước, báo chí không chỉ tuyên truyền về những nhân tố tích cực mà còn phê phán những vấn đề tiêu cực, những kiểu làm ăn gian dối của một số đối tượng, góp phần làm cho môi trường đầu tư, kinh doanh thêm lành mạnh Bên cạnh đó, báo chí kinh

tế còn có những bài chứa đựng nhiều thông tin có tính chất dự báo, phân tích và đánh giá sâu sắc, cung cấp những cái nhìn đa chiều về những vấn đề, về những đối tượng vay vốn

Trong thẩm định khách hàng vay vốn, ngoài việc thẩm định tư cách, năng lực pháp lý, năng lực điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh, uy tín của khách hàng và người giới thiệu, vẫn còn một số nhân tố chưa được cán bộ tín dụng quan tâm nhưng thực chất là cần phải đề cập trong quy trình thẩm định khách hàng vay vốn

Đó là các chỉ số dự báo trước khi cho vay như: giá vàng, tỷ giá, lạm phát và các biến cố có thể dự đoán về kinh tế, chính trị, xã hội Trên cơ sở những thông tin về tỷ giá, lạm phát và các biến cố có thể dự đoán được mà báo chí và các báo cáo nghiên cứu thị trường, những diễn biến của nền kinh tế trong thời gian tới, cán bộ tín dụng cần có kiến nghị cụ thể về sự cần thiết bổ sung những nhân tố bên trong qy trình thẩm định khách hàng Đây cũng là một trong những biện pháp nhằm nâng cao vai trò, chất lượng công tác tín dụng

Nhu cầu những thông tin về khách hàng là rất lớn Qua thu thập từ việc đi thực

tế tại cơ sở của CBTD thì việc thu thập, hệ thống hoá và sử dụng những thông tin trên báo chí một cách có hiệu quả trong việc thu thập và sử dụng thông tin trên báo chí phục vụ công tác thẩm định khách hàng vay vốn thì cần thực hiện những biện pháp sau:

Trang 6

 Quán triệt đến tất cả cán bộ, trong đó có CBTD để mọi người nhận thấy được vai trò, tác dụng của những thông tin trên báo chí liên quan đến hoạt động ngân hàng nói chung và khách hàng nói riêng

 Việc thu thập, xử lý thông tin từ báo chí phải được thực hiện thường xuyên và có sự sàng lọc kỹ càng

 Xây dựng hệ thống thông tin thu thập được trên báo chí đảm bảo tính thống nhất về nội dung thông tin, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng thông tin trên báo chí của cán bộ tín dụng, hoàn thiện kỹ năng sử dụng thông tin trên báo chí ttrong thẩm định khách hàng tại cơ sở

 Thiết lập mối quan hệ với một số cơ quan thông tấn bào chí nhằm nắm bắt thêm những thông tin có liên quan đến công tác tín dụng

 Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong cập nhất thông tin từ nhiều

ấn phẩm báo chí trong và ngoài nước

3.2.3.2 Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng

Chúng ta có thể học hỏi cách tuyển nhân viên và phân bổ công việc cho các nhân viên theo năng lực thực sự của họ từ các công ty, ngân hàng nước ngoài Việc chồng chéo trong phân trách nhiệm và quyền hạn của nhân viện là một yếu tố làm giảm khả năng hoạt động sáng tạo của nhân viên Trong một quy trình tín dụng có rất nhiều khâu, CBTD ở ngân hàng làm phần lớn các công việc như vậy sẽ dễ dẫn tới tình trạng CBTD không khách quan trong công việc của mình, việc chuyên mốn hoá càng sâu sắc sẽ làm cho công việc có thể minh bạch và cụ thể hơn được trách nhiệm và quyền hạn của từng nhân viên trong suốt quy trình tín dụng Làm như vậy

sẽ giảm bớt tình trạng suy đồi đạo đức của CBTD trong quá trình cho vay

Đổi mới công tác quản lý CBTD: trong công tác quản lý, phải thường xuyên quan tâm xác định đúng nhiệm vụ chính trị, tư tưởng cho đội ngũ CBTD Quản lý CBTD trong công việc, trong sinh hoạt một cách chặt chẽ, khoa học Có biện pháp chủ động, tích cực giáo dục không để CBTD bị lôi cuốn vào những vấn đề tiêu cực của xã hội, bị lôi cuốn của đồng tiền mà hạ thấp nhân phẩm, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, làm phương hại đến bản than cũng như phương hại về kinh tế và uy tín của ngành

Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng: việc đào tạo và đào tạo lại CBTD phải được coi trọng thường xuyên, liên tục Bên cạnh đó là công tác tuyển udngj mới phải đảm bảo đúng quy trình, yêu cầu công việc Công tác đào tạo cần tập trung vào một số vấn đề như:tưng cường hình thức đào tạo tập trung, kết hợp hình thức tập huấn tại chỗ, hình thức đào tạo này nhằm làm cho CBTD nắm bắt được một số nghiệp vụ nhất định trong thời gian ngắn như tổ chức các buổi sinh hoạt nghiệp vụ theo định kỳ, thảo luận các vướng mắc trong công tác tín dụng, văn

Trang 7

bản quy trình nghiệp vụ Phát động phong trào tự học, tự nghiên cứu, tự nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tránh tụt hậu trước sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, của công nghệ trong quá trình phát triển và hội nhập của ngân hàng Tổ chức thi tay nghề hàng năm và có khen thưởng hợp lý để khuyến khích những CBTD giỏi, có nhiều cống hiến

Đổi mới chính sách đãi ngộ CBTD, thực hiện chế định đi đôi với chế tài: trong điều kiện kinh tế thị trường, chính sách đã ngộ hợp lý về tiền lương, tiền thưởng, hệ

số tiền lương…càng có ý nghĩa quan trọng vì CBTD chịu áp lực rất nhiều do công việc mang tính rủi ro cao Có như vậy, CBTD mới phát huy hết khả năng và nhiệt tình lâu dài của mình Đồng thời, thực hiện cơ chế thưởng, phạt nghiêm minh, tạo ra bầu không khí thi đua, khuyến khích sáng tạo, phát huy trách nhiệm và quyền hạn

cá nhân trong việc đầu tư vốn sao cho an toàn và hiệu quả nhất Những CBTD vi phạm quy chế, quy trình nghiệp vụ tín dụng, làm thất thoát vốn phải xử lý nghiêm khắc, đặc biệt với cán bộ tha hoá, biến chất Những CBTD có đạo đức tốt, yêu ngành, yêu nghề, có ý chí cầu tiến, mang lại hiệu quả cao cho Ngân hàng thì có chế

độ khen thưởng xứng đáng như nâng lương trước hạn…

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1 Một số kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

3.3.1.1 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng cho ngân hàng

Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC)

Hiện nay, tại Việt Nam chỉ có một trung tâm thông tin tín dụng, đây là một tôt chức chuyên cung cấp thông tin về thể nhân, pháp nhân cho các NHTM Đây là nguồn thông tin quan trọng để hỗ trợ quá trình ra quyết định tín dụng Tuy nhiên, chất lượng thông tin tín dụng chưa thực sự tốt, chưa đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác kịp thời Vì vậy, để nâng cao chất lượng thông tin, NHNN cần: Cải thiện đường truyền thông tin: tôc độ đường truyền thông tin chưa nhanh thường bị gián đoạn trong quá trình hỏi tin Do đó, NHNN nên cải tiến chất lượng thường xuyên, đảm bảo cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác

Thanh tra NHNN các cấp và CIC phối hợp đôn đốc kiểm tra việc báo cáo, khai thác thông tin các TCTD đồng thời có biện pháp xử lý kiên quyết, kịp thời đối với những đơn vị không cung cấp các thông tin xác thực về khách hàng đang có quan hệ tín dụng tại ngân hàng mình

Phối hợp hiệu quả với các ban ngành như: Chi cục thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ ngành có liên quan…để có thêm thông tin khác ngoài lịch sử cho vay nợ của khách hàng, làm cho thông tin thêm phong phú, nhằm giúp ngân hàng có thể ra quyết định cho vay chính xác hơn

Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả và thúc đẩy động lực làm việc, có thể nghiên cứu chuyển đổi CIC sang hình thức một công ty cổ phần có sự góp vốn của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu và cho áp dụng mô hình công ty xếp hạng tín nhiệm

Trang 8

độc lập ở Việt Nam để hỗ trợ các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, có thể thu hút sự chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm của các công ty xếp hạng tín dụng lớn trên thế giới

3.3.1.2 NHNN cần có những quy định cụ thể nhằm đa dạng hóa các biện

pháp xử lý nợ của NHTM.

Về việc lấy nợ cũ nuôi nợ mới: hiện tại ở Việt Nam việc đảo nợ được quy định như sau: việc đảo nợ được quy định thơ quy định của Chính phủ (Luật các tổ chức tín dụng 2004) Trong khi đó, quan điểm của Chính phủ cũng như NHNN là không cho phép đảo nợ Thực chất đảo nợ tốt hay không là do năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh, đạo đức của người vay quyết định Một trường hợp tương tự như đảo nợ đã được xảy ra là: Theo đánh giá, trái phiếu Chính phủ không có rủi ro vì: khi đến hạn, nếu Chính phủ không đủ khả năng thanh toán lãi, gốc hoặc phát hành trái phiếu mới trả nợ cho trái phiếu cũ,…Sở dĩ NHNN có thể thực hiện được là nhờ vào chức năng của NHNN, đồng thời nhờ vào năng lực tài chính của NHNN rất mạnh Tương tự đối với trường hợp đảo nợ, một khi khách hàng không đáp ứng được các điều kiện vay vốn: Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp và khách hàng phải có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật thì việc khách hàng đảo nợ chỉ là tạm thời kéo dài thời gian trả nợ, việc khoản nợ mới được dùng để trả nợ cũ thì không thể tạo ra thu nhập để trả nợ cho chính nó Khách hàng sẽ không có tiền để trả khoản nợ mới

và kết quả nợ xấu vẫn không được giải quyết

Ngược lại nếu khách hàng thực sự tốt, việc khó khăn trong việc trả nợ chỉ là khách quan mà chỉ mang tính chất tạm thời thì việc đảo nợ sẽ giúp khách hàng giải quyết được các vấn đề khó khăn trước mắt, đồng thời ngân hàng cũng tránh được những hậu quả có thể có của nợ xấu nếu khách hàng không trả hết nợ và vẫn tiếp tục huy động vốn để cho vay mới

Có quan điểm cho rằng: phân tích khía cạnh rủi ro đạo đức cho thấy đảo nợ nếu không được kiểm soát tốt có thể làm xấu đi tính lành mạnh của hệ thống tài chính Thay vì cho phép đảo nợ, Chính phủ nên có chính sách khuyến khích các Ngân hàng cơ cấu lại nợ vay xho doanh nghiệp, điều chỉnh lại lãi suất và xem xét giảm, giãn lãi cho doanh nghiệp Thế nhưng chính sách này cũng không hoàn toàn giúp doanh nghiệp vượt qua các khó khăn hiện tại và bản thân nó cũng không thể tránh khỏi yếu tố rủi ro đạo đức Vì vậy, NHNN nên xem xét việc cho phép đảo nợ và việc đảo nợ phải được thực hiện trên cơ sở sau:

 NHNN có những quy định cụ thể, rõ rang về việc đảo nợ về đối tượng, phạm vi đảo nợ,…

 Số tiền cho vay mới chỉ đủ để thanh toán tiền trả gốc và lãi trước mắt

Trang 9

 Khách hàng phải có đơn yêu cầu xin đảo nợ, chứng minh được nguyên nhân khó khăn trong việc trả khoản nợ cũ là khách quan và chỉ tạm thời, tình hình tài chính vẫn vững mạnh và được CBTD thẩm định kỹ càng trình HĐTD xét duyệt

 NHNN nên có quy định kiểm tra, giám sát thật chặt chẽ đối với việc thực hiện việc đảo nợ của các Ngân hàng và có biện pháp trừng phạt thật nghiêm nếu phát hiện sai phạm VD: phạt tiền bằng 50% giá trị khoản vay mới

Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn Chính phủ đang ra sức khuyến khích tăng trưởng tín dụng nhằm duy trì sức tăng trưởng của yêu cầu nền kinh tế thì yêu cầu đảm bảo chất lượng tín dụng được đặt lên hàng đầu thì việc đảo nợ lúc này sẽ tạo ra một tiền lệ không tốt, làm xấu đi tính lành mạnh của hệ thống tài chính vốn đang rất yếu ớt và đang rất khó kiểm soát Vì vậy, NHNN nên xem xét cho phép đảo nợ thử nghiệm trong một thời gian và trước mắt chỉ nên cho đảo nợ với các khoản vay có giá trị nhỏ hoặc trung bình và mỗi khách hàng chỉ có thể vay mới để trả nợ cũ một lần

3.3.1.3 Thành lập tổ chức bảo hiểm rủi ro tín dụng.

Ở Việt Nam vẫn chưa hình thành một tổ chức bảo hiểm rủi ro tín dụng trong khi nhiều nước trên thế giới đã có tổ chức này Ở Việt Nam hiện nay việc bảo hiểm tiền vay hiện nay dựa vào quỹ dự phòng rủi ro của các NHTM và khi xảy ra các khoản tín dụng không thể thu hồi được thì sẽ tiến hành lấy quỹ dự phòng ra bù đắp Lập quỹ dự phòng sẽ làm lợi nhuận ngân hàng giảm và khi quỹ dự phòng không đủ để

bù đắp thì có thể sẽ mất vốn kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng Việt Nam và rũi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi Vì vậy, việc thành lập một

tổ chức bảo hiểm rủi ro tín dụng là một điều cần thiết Tuy nhiên, năng lực của các

tổ chức bảo hiểm Việt Nam hiện nay mặc dù đã có những bước phát triển đáng kể nhưng vẫn chưa thể đảm nhận vai trò la tổ chức bảo hiểm rủi ro tín dụng Do đó, giải pháp được đưa ra la NHNN cần đứng ra thành lập một hiệp hội bảo hiểm hỗ trợ rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng Trong đó, mức phí hỗ trợ ban đầu đóng sẽ dựa trên cơ sở cho vay của TCTD

3.3.2 Một số kiến nghị với Nhà Nước, Chính Phủ, Chính quyền

3.3.2.1 Cần sớm xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện một chương

trình kiểm soát ngân hàng mới từ phía nhà nước.

Trang 10

Hàng năm phải đánh giá lại chất lượng tín dụng, tiến hành đánh giá khoản vay của từng khách hàng và đánh giá tổng hợp các khoản vay còn lại Chính phủ cần tăng cường kiểm soát toàn bộ hệ thống Ngân hàng, thiết lập hệ thống cảnh báo sớm các nguy cơ có thể xảy ra và hệ thống các giải pháp thảo gỡ Hệ thống ngân hàng cần phải đi đầu trong việc thực hiện công khai hoá tài chính và có chế độ báo cáo định kỳ hàng năm, quyệt đối không thể tiếp tục tình trạng nhập nhằng vừa giảm lòng tin vào hệ thống ngân hàng và khó bắt đúng mạch để tìm ra phương thuốc chữa trị

3.3.2.2 Nhà nước cần có quy định cụ thể và bắt buộc trong việc tăng vốn

tự có của các NHTM nhằm tăng tiềm lực tài chính, tăng khả năng cạnh tranh

và sức đề kháng của hệ thống ngân hàng trước những biến động của thị trường

Với số vốn ít ỏi hiện nay, các NHTM sẽ rất khó khăn lúng túng không chỉ trong việc quản lý, giải quyết nợ quá hạn khổng lồ mà còn trong việc duy trì sợ tồn tại và phát triển thời gian tới Hơn nữa tiến trình hội nhập quốc tế đang diễn ra rất nhanh, yêu cầu hệ thống tài chính nước ta phải tăng tốc cả về mặt lượng và chất nếu không muốn bị chết chìm Trước mắt, cần tiến hành phân loại các ngân hàng để tiến hành làm cơ sở xây dựng chương trình bổ sung vốn và đặc biệt là sát nhập ngân hàng tạo thành ngân hàng có tầm cỡ Bên cạnh đó, phương án hệ thống ngân hàng nhà nước theo khu vực thay thế theo tỉnh thành như hiện nay để tậo trung quản lý, nâng cao khả năng kiểm soát và tự chủ của các Chi nhánh Ngân hàng

Một trong số nguyên nhân gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giảm hiệu quả vốn vay ngân hàng, dẫn đến khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc trả nợ Ngân hàng là môi trường kinh tế vĩ mô của nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới hoàn thiện Sản xuất kinh doanh trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng lậu và hàng ngoại Các doanh nghiệp phải chuyển hướng và điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh không theo kịp với sự thay đổi của cơ chế chính sách vĩ mô Do đó một số doanh nghiệp và ngành sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, tồn kho ứ đọng hàng hoá vật tư, thua lỗ mất khả năng thanh toán, làm phát sinh nợ quá hạn khó đòi Vì vậy nhà nước cần có những biện pháp nhằm đảm bảo một môi trường kinh tế ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp trong đó có hoạt động của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Nên có những bước đệm hoặc giải pháp thiết thực tháo gỡ những khó khăn khi có sự chuyển đổi, điều chỉnh liên quan đến toàn bộ hoạt động cảu nền kinh tế Mặt khác, Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, điều chỉnh và tăng cường hiệu lực pháp lý cảu chính sách thuế, chính sách bảo trợ sản xuất trong nước, chính sách ngăn chặn hàng lậu đảm bảo tính tác dụng tích cực của các chính sách này

Ngày đăng: 02/10/2013, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w