Hóa học đại cương là một ngành hóa học nghiên cứu các kiến thức tổng quát, cơ bản về Hóa học như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng,… Môn Hóa học đại cương phát triển
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC HÓA ĐẠI CƯƠNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC MỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC HÓA ĐẠI CƯƠNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC MỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐĂNG THỊ THU HUYỀN
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong tổ Hóa vô cơ – Đại cương
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt thời gian em theo học tại khoa
và trong thời gian em làm khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đăng Thị Thu Huyền –
người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, luôn tận tâm chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu, giúp đỡ em trong quá trình em làm khóa luận
Em xin cảm ơn gia đình, anh chị em, bạn bè, là những người đã luôn ở bên chia sẻ, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình em làm khóa luận tốt nghiệp
Để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, mặc dù đã rất cố gắng, song những ngày đầu làm quen, tiếp cận và học hỏi để nghiên cứu khoa học sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ quý thầy cô và bạn bè để khóa luận của em trở nên hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Hương Giang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Phương pháp nghiên cứu 2
8 Đóng góp mới của đề tài 2
PHẦN 2: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Lí do đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 3
1.1.1 Bối cảnh trong nước 3
1.1.2 Bối cảnh quốc tế 4
1.1.3 Lược sử ra đời chương trình phổ thông mới 5
1 2 Những điểm mới của chương trình phổ thông tổng thể 7
1.2.1 Phương pháp xây dựng chương trình 7
1.2.2 Chương trình theo hướng trang bị năng lực, phẩm chất cho học sinh 11
1.2.3 Chương trình mới chú trọng định hướng nghề nghiệp 17
1.2.4 Chươg trình phổ thông mới có tính tích hợp và phân hóa 19
1.2.5 Chương trình mới có môn học bắt buộc và tự chọn 22
1.2.6 Chương trình giáo dục mới định hướng về phương pháp dạy học 24
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ 27
2.1 Điểm mới/thay đổi của chương trình môn Hóa học 27
2.1.1 Bớt những tính toán theo kiểu “toán học hoá” 27
2.1.2 Chương trình mới có 3 mạch nội dung cốt lõi 28
2.1.3 Nội dung chương trình được thiết kế theo hệ thống chủ đề 30
2.2 So sánh chương trình Hóa học phổ thông mới và cũ 32
2.3 So sánh nội dung kiến thức Hóa học đại cương trong chương trình Hóa học phổ thông mới và cũ 43
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt về khoa học công nghệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh đó, quốc gia nào không phát triển được năng lực khoa học công nghệ sẽ tụt hậu, chậm phát triển Do vậy, một nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao là đích đến mà rất nhiều quốc gia hướng tới Chính vì vậy mà Hội nghị Trung Ương 8 (Khóa XI, tháng 11-2013) đã ban hành Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nước ta Từ đó đến nay đã có rất nhiều các đổi mới như về phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, … Nhưng quan trọng nhất, Bộ Giáo dục và đào tạo đã trình Quốc hội về việc thay đổi chương trình và sách giáo khoa mới, bắt đầu từ năm học 2020 - 2021 Là một sinh viên năm thứ 4 khoa Hóa học, sắp ra trường, sắp tham gia thực sự vào hệ thống giáo dục nước nhà, em có những băn khoăn, trăn trở về công việc tương lai như tại sao lại phải đổi mới chương trình, chương trình cũ và mới khác nhau điểm gì,
Hóa học đại cương là một ngành hóa học nghiên cứu các kiến thức tổng quát,
cơ bản về Hóa học như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng,…
Môn Hóa học đại cương phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua nội dung giáo dục với cốt lõi là những kiến thức cơ bản, thiết thực, thể hiện tính hiện đại, cập nhật; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục Môn học này luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, do vậy đòi hỏi giáo dục phổ thông cũng cần phải liên tục cập nhật những thành tựu khoa học mới, tích hợp nhiều tiến bộ mới nhất của các ngành khoa học, công nghệ và kỹ thuật
Với những lí do trên, em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu chương trình giáo dục
phổ thông mới và hệ thống kiến thức Hóa đại cương trong chương trình Hóa học mới”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trong chương trình Hóa học phổ thông mới, giúp sinh viên sư phạm Hóa học
Trang 7hiểu rõ hơn và nắm bắt được những điểm mới trong chương trình môn Hóa học phổ thông để qua đó chuẩn bị được hành trang trở thành một giáo viên dạy Hóa học tương lai
3 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trong chương trình Hóa học phổ thông cũ và mới
4 Phạm vi nghiên cứu
Chương trình phổ thông tổng thể nói chung và chương trình môn Hóa học nói riêng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình phổ thông mới
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình Hóa học mới và cũ
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu được những điểm mạnh của chương trình phổ thông mới cũng như hệ thống được kiến thức Hóa đại cương trong chương trình Hóa học mới sẽ góp phần tạo dựng hành trang vững chắc hơn cho những sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng chính là những thầy cô giáo tương lai của đất nước
7 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa để tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đóng góp của thầy cô giáo đề hoàn thiện đề tài nghiên cứu
8 Đóng góp mới của đề tài
Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trong
chương trình Hóa học phổ thông mới
Trang 8PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lí do đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.1.1 Bối cảnh trong nước
Nước ta đang trong quá trình xây dựng thành tựu 30 năm đổi mới với
những tiến bộ nhất định
30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đại trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là
sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công b ng, văn minh”
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút cho nguồn lực xã hội phát triển
So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh những thành tựu thì nước ta vẫn có những hạn chế về kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực và văn hóa – xã hội
Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp Sự không đồng đều về chất lượng nhân lực trong nước và so với các nước trong khu vực trong điều kiện yêu cầu cao
về kỹ năng nghề và đổi mới nhanh chóng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Chưa có giải pháp đủ mạnh
để khuyến khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới và ứng dụng khoa học, công nghệ
Trang 9Chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh
tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở lên (có b ng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%
Thị trường lao động trong nước và thế giới đòi hỏi người lao động phải đạt được chuẩn nghề nghiệp, nhưng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đang xây dựng và bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới
Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất để tạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I (nông – lâm – thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sản xuất xã hội Làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất, cuộc Cách mạng Khoa học và Công nghệ hiện đại đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người, nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc cách mạng này
Người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới mang đến cái nhìn đơn giản hơn về Cách mạng Công nghiệp 4.0 như sau: "Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách
Trang 10mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba,
nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học"
Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, 4.0 đang tiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính Hơn nữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Và chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý
Cạn kiệt tài nguyên: một khi nguồn tài nguyên thiên nhiên tích lũy hàng tỷ năm cạn kiệt thì không cách nào tái tạo được, đặc biệt nguồn năng lượng hóathạch Thế giới đang đứng trước nỗi lo một khi các mỏ dầu, mỏ khí đốt tự nhiên, than đá cạn kiệt, nhân loại sẽ xoay xở ra sao để duy trì cuộc sống
Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường sẽ phá hủy môi trường, mất căn
b ng sinh thái, tạo điều kiện cho sinh vật có hại phát triển, gây đột biến cho các sinh vật, gây một số bệnh di truyền và bệnh ung thư, ảnh hưởng tới sức khỏe của sinh vật
và con người
Từ bối cảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đòi hỏi nước ta phải đổi mới một nền giáo dục tiên tiến để tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao với mong muốn có thể đuổi kịp các quốc gia phát triển trên thế giới [1]
1.1.3 Lược sử ra đời chương trình phổ thông mới
Cuối tháng 2/2017, dự thảo chương trình phổ thông mới đã được Hội đồng thẩm định xem xét, thông qua với khuyến nghị sửa chữa, bổ sung một số chi tiết
Ngay sau đó, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định thành lập Ban phát triển các chương trình môn học và hoạt động giáo dục Ban này đã bắt tay vào khởi thảo các chương trình và cho tới nay đã hoàn thành dự thảo lần một
Trang 11Đồng thời, ban tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của chuyên gia tư vấn quốc tế
và trong nước về 18 chương trình môn học và hoạt động giáo dục, trên cơ sở đó chỉnh lý, hoàn thành dự thảo lần thứ hai
Dự thảo lần này sẽ tiếp tục xin ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên để hoàn thiện trước khi trình Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT
Nếu được đồng ý, các dự thảo chương trình môn học và hoạt động giáo dục
sẽ được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT và các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và các tầng lớp nhân dân (dự kiến vào khoảng nửa cuối 10/2017)
Chiều ngày 3/5/2018, Bộ GD&ĐT và Ban soạn thảo Chương trình phổ thông mới đã công bố các thông tin liên quan đến kết quả thực nghiệm và khảo sát
ý kiến các giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về Dự thảo các chương trình môn học mới
Ban soạn thảo Chương trình phổ thông mới cho biết: Phần lớn các bài học thực nghiệm đã xác định đúng những yêu cầu cần đạt; chú trọng tổ chức các hoạt động học tập, tương tác cho học sinh
Tuy nhiên, quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Một số yêu cầu cần đạt của chương trình còn cao so với trình độ của học sinh; nội dung một số bài thực nghiệm tương đối khó; vẫn còn nặng về trang bị kiến thức, nên chưa tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các hoạt động khám phá, luyện tập và vận dụng kiến thức vào đời sống
Ban phát triển chương trình đã phân tích kết quả thực nghiệm, để tiếp thu và chỉnh sửa chương trình từng môn học cho phù hợp với tình hình thực tế
Quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Nhiều giáo viên đã vận dụng tốt phương pháp tổ chức hoạt động, trao quyền chủ động cho học sinh, sử dụng hình thức trò chơi, hình thức thảo luận nhóm, thảo luận cặp đôi để học sinh học một cách thoải mái, hứng thú
Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua ngày 27/7/2018:
Thay đổi lớn nhất so với dự thảo cũ n m ở kế hoạch giáo dục, đặc biệt là ở tên gọi các môn học cũng như thời lượng học tập của từng môn Đây là căn cứ để xây dựng
dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục
Trang 12Chiều ngày 27/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức họp báo công bố việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới
Theo Nghị quyết 51: "Thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đảm bảo tuần tự trong từng cấp học, chậm nhất từ năm học 2020-2021 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ nămhọc 2021-
2022 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học cơ sở và từ năm học 2022-2023 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông"
Cuối tháng 9/2018 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định sẽ lùi thời gian thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa đối với lớp 1 từ năm học 2020-
2021 thay vì 2019-2020 như dự kiến
Thay vào đó, chương trình mới sẽ được áp dụng vào thời hạn chậm nhất mà Quốc hội cho phép, tức là từ năm học 2020-2021
Lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra là trước mắt, vẫn còn hàng loạt công việc tiếp theo phải thực hiện như thông báo để các tổ chức, cá nhân tham gia đăng
ký viết sách giáo khoa; nghiên cứu chương trình để biên soạn sách; thẩm định, phê duyệt rồi mới phát hành sách giáo khoa
Chưa kể, sau khi có sách giáo khoa cũng cần có thời gian để các nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh tìm hiểu, dạy học thử nghiệm để có thể lựa chọn
bộ sách phù hợp nhất [1]
1 2 Những điểm mới của chương trình phổ thông tổng thể
1.2.1 Phương pháp xây dựng chương trình
a Chương trình phổ thông mới vận dụng phương pháp sơ đồ ngược mapping)
(Back-Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông thường, khi xây dựng chương trình theo định hướng tiếp cận nội dung, các chuyên gia xuất phát từ hệ thống kiến thức của môn học, từ đó những kiến thức được cho là cần thiết đối với học sinh phổ thông sẽ đưa vào chương trình Nhưng với định hướng tiếp cận năng lực theo yêu cầu mới, việc xây dựng chương trình đã xuất phát từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc
tế Trên cơ sở đó, Ban phát triển chương trình giáo dục phổ thông đã xác định năng lực cần hình thành, phát triển ở học sinh, tức là chuẩn đầu ra của chương trình Từ chuẩn đầu ra, xác định những nội dung cần dạy, từ đó phân bổ thời lượng dạy học, xác định phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục Đó là
Trang 13phương pháp sơ đồ ngược, thường được áp dụng trong xây dựng chương trình giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực:
Điểm hoàn toàn mới trong chương trình đổi mới giáo dục sắp được triển khai là lần đầu tiên, ngành giáo dục đưa ra được mô hình “sản phẩm” tương lai của mình
Cụ thể, theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình giáo dục
sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi
b Chương trình phổ thông mới vận dụng RIA (Regulatory Impact Assessment)
Về phương pháp xây dựng chương trình, chương trình phổ thông mới còn áp dụng phương pháp đánh giá tác động chính sách (RIA):
Bối cảnh thời đại
Nhu cầu phát triển đất nước
Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực
Mục tiêu giáo dục phổ thông
Nội dung dạy học
Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực
Phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá
Trang 14Dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (Regulatory Impact Assessment - RIA) là phương pháp đánh giá những tác động có thể xảy ra từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong quá trình xây dựng luật, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật hoặc ban hành chính sách mới
Đây thực chất là quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá các giải pháp, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để có thể lựa chọn giải pháp tốt nhất Nhà quản lý cần phải biết quy định mới tác động đến các đối tượng điều chỉnh như thế nào, có đạt được mục tiêu của quy định pháp lý và chính sách chung hay không Nhà hoạch định chính sách cũng cần phải biết khi chính sách được ban hành sẽ thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển kinh tế Sẽ ảnh hưởng đến môi trường, xã hội như thế nào, dự tính cái được và cái mất nếu áp dụng quy định RIA sẽ giúp làm việc đó Xét cho cùng, dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có cần ban hành một văn bản quy phạm để giải quyết vấn đề đặt ra hay không? Nếu có, nội dung của văn bản đó
là gì? Nếu không, giải pháp nào có thể thay thế? Các nhà hoạch định chính sách có thể lựa chọn các giải pháp thay thế như: Không ban hành hoặc thực thi bất kỳ quy phạm pháp luật nào đối với vấn đề đã xác định; Không ban hành quy định mới nhưng thực thi tốt hơn, hiệu quả hơn những quy định hiện hành liên quan đến vấn
đề đó; Thay đổi cách thức điều tiết, quản lý nhà nước
Tầm quan trọng của RIA:
Như vậy, dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn đối với việc cải thiện hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước và nền kinh tế, bởi
lẽ quá trình này giúp phân tích, xác định chi phí và lợi ích của các giải pháp quản lý
Trang 15nhà nước, từ đó, sử dụng các biện pháp hợp lý với chi phí thấp nhất, giảm được nguy cơ thất bại của chính sách
Bên cạnh đó, trong quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật, cơ quan chịu trách nhiệm dự báo sẽ tham vấn và trao đổi với các nhóm lợi ích khác nhau liên quan đến chính sách, pháp luật Điều đó sẽ giúp tăng cường tính minh bạch của chính sách, giúp củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước
Quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật còn giúp và cải thiện phối hợp chính sách giữa các bộ và cơ quan Chính phủ, giúp liên kết và thống nhất về mục tiêu của các chính sách ban hành trong các lĩnh vực (kinh tế, xã hội và môi trường), qua đó, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của chính sách Một trong những tác động quan trọng nhất của quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật là giúp thay đổi văn hóa và tư duy quản lý nhà nước
Cơ quan hoạch định có thể giảm những can thiệp không cần thiết và các quy định mang tính hình thức, qua đó, tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước đối với dân chúng và xã hội Điều đó đã thúc đẩy văn hoá quản lý nhà nước theo hướng phục vụ hơn là kiểm soát và xây dựng một Chính phủ năng động; sử dụng các phương pháp quản lý hợp lý hơn, phù hợp hơn với điều kiện thực tế
Nếu được thực hiện tốt, RIA cũng sẽ nâng cao hiệu quả của các quyết định liên quan đến quản lý nhà nước, qua đó, giảm các quy định chất lượng thấp và không cần thiết
Áp dụng RIA vào xây dựng chương trình phổ thông mới:
Chương trình GDPT là một văn bản có giá trị pháp lý nh m điều chỉnh hành
vi xã hội để giải quyết một vấn đề lớn liên quan đến nhiều người dân trong một giai đoạn xác định, đó là chính sách Vì vậy, Chương trình giáo dục phổ thông mới cũng được xây dựng theo quy trình của xây dựng chính sách, nghĩa là có nghiên cứu đánh giá tác động Bất cứ điểm mới của chương trình đều phải có nghiên cứu đánh giá tác động tới giáo viên, học sinh, ngân sách và xã hội thì mới có thể quyết định.Vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông cần được vận dụng phương pháp RIA để đánh giá được những tác động có thể xảy ra từ sự thay đổi chính sách này Quy trình này có 5 bước: đánh giá việc thực thi chính sách hiện hành; đề xuất chính sách mới; đánh giá tác động của chính sách mới; điều chỉnh và ban hành chính sách mới; chỉ đạo thực thi chính sách Trong lần thay đổi chương trình năm 2001, chúng ta xây dựng
Trang 16chương trình xong mới viết sách giáo khoa thực nghiệm, dạy thực nghiệm sách giáo khoa xong mới quay trở lại điều chỉnh và ban hành chương trình, sách giáo khoa chính thức Theo em, dạy thực nghiệm chỉ là một trong những cách đánh giá tác động, ngoài ra còn phải thực hiện nhiều cách đánh giá tác động khác như: khảo sát thực tế, phỏng vấn, điều tra ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh, Việc đánh giá tác động diễn ra suốt trong quá trình xây dựng chương trình, như vậy sẽ bảo đảm tính khả thi của chương trình và rút ngắn được thời gian dạy thực nghiệm [1]
1.2.2 Chương trình theo hướng trang bị năng lực, phẩm chất cho học sinh
a Phẩm chất và chương trình giáo dục phát triển phẩm chất
Khái niệm phẩm chất
Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lý học, chỉ đặc điểm sẵn có của
cơ thể như hệ thần kinh, các giác quan và cơ quan vận động Đặc điểm sẵn có là cơ
sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm lý và thuộc tính tâm lý
Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ các đặc điểm tâm lý như: tính cách, ý chí, hứng thú, tính khí, phong cách của con người
Có 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở người học: Yêu nước; Nhân ái;
Chăm chỉ; Trung thực; Trách nhiệm
Các phẩm chất đều được cụ thể hóa b ng những biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được ở từng cấp học, được ghi trong Chương trình phổ thông tổng thể ban hành ngày 28/7/2017
Ví dụ: Phẩm chất Trung thực:
Ở cấp tiểu học biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Thật thà, ngay thẳng trong học tập và lao động; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình trước người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác Không nói dối; luôn giữ lời hứa với người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác; mạnh dạn nhận lỗi, nhận thiếu sót của bản thân Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác Không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập
Trang 17điều hay, lẽ phải trước người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người Không xâm phạm của công Phê phán các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
Ở cấp THPT biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Nhận thức và hành động theo lẽ phải Sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, điều tốt Có ý thức tham gia và vận động người khác tham gia phát hiện, đấu tranh với các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
Căn cứ xác định phẩm chất
Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998)
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mĩ và thể lực
Như vậy từ Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998) rút ra được những phẩm chất cần hình thành là: Yêu nước, Nhân nghĩa, Cần kiệm, Trung thực, Kỉ cương
Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014)
Nêu lên 7 đặc tính: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo
Bao gồm cả năng lực (Sáng tạo)
Một số đặc tính trùng nhau: Nhân ái – Nghĩa tình – Đoàn kết
Như vậy từ Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014) rút ra được những phẩm chất cần hình thành là: Yêu nước, Nhân ái, Cần cù, Trung thực
Năm điều Bác Hồ dạy
Trang 18Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;
ý thức trên hành tinh chúng ta, tức là giúp họ hiểu r ng: sống và lao động để làm gì?…Đánh giá đúng giai đoạn lịch sử nhân loại và dân tộc mình…” Do vậy, môn Lịch sử ở trường phổ thông có vị trí chức năng và nhiệm vụ quan trọng để đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ có lòng yêu nước và có trách nhiệm với tương lai đất nước
Môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông đề cập và giải quyết một cách toàn diện hệ thống tri thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam trong thời đại mới Chủ đề mà môn Giáo dục công dân đề cập bao hàm từ những cái gần gũi, thiết thực trong đời thường cá nhân, công dân, gia đình, xã hội,… đến những vẫn đề lớn hơn như quốc gia, nhân loại; từ những vấn đề thường nhật đến những vấn đề mang tính lý luận, trừu tượng khái quát như triết học, logic học, từ những hiểu biết về cuộc sống đến thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa… Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực tiếp, môn Giáo dục công dân giúp học sinh trả lời một cách khoa học đúng đắn câu hỏi: Sống để làm gì? Sống như thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí của người công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do vậy, môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông giúp hình thành ở học sinh những phẩm chất như yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm
Trang 19b Năng lực và chương trình phát triển năng lực
Khái niệm năng lực
Theo Chương trình phổ thông tổng thể thì năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Có 10 năng lực cốt lõi cần hình thành ở học sinh gồm 3 năng lực chung và 7 năng lực chuyên môn
Các năng lực chung là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực này sẽ được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển
Ví dụ: Năng lực tự chủ và tự học được biểu hiện cụ thể qua các khả năng của học sinh như: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng nghề nghiệp và Tự học, tự hoàn thiện Cụ thể, khả năng Tự lực của học sinh được biểu hiện như sau:
Ở cấp tiểu học: Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn
Ở cấp THCS: Biết chủ động, tích cự thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống, không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại
Ở cấp THPT: Biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực Các năng lực chuyên môn gồm năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lựcthẩm
mỹ, năng lực thể chất Các năng lực chuyên môn này được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định
Ví dụ: Năng lực tính toán được biểu hiện cụ thể qua các khả năng của học sinh như: Khả năng hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản, khả năng biết cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công
cụ tính toán và dụng cụ đo,…;đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có
ý nghĩa toán học Cụ thể, khả năng hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản của học sinh được biểu hiện như sau:
Trang 20Ở cấp tiểu học: Có những kiến thức và kỹ năng toán học cơ bản ban đầu về:
Số học (số tự nhiên, phân số, số thập phân) và thực hành tính toán với các số; Các đại lượng thông dụng và đo lường các đại lượng thông dụng; Một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản
Ở cấp THCS: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; về ngôn ngữ
và ký hiệu đại số; về ngôn ngữ và ký hiệu hàm số Biết thực hiện các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, khai căn) trong học tập và trong cuộc sống Có những kiến thức cơ bản về hình học và biết sử dụng chúng để mô tả các đối tượng của thế giới xung quanh Có hiểu biết về đo lường, ước lượng trong tính toán với các tình huống quen thuộc Có những kiến thức cơ bản về biểu diễn và phân tích số liệu thống kê; về khái niệm xác suất cổ điển và ý nghĩa trong thực tiễn
Ở cấp THPT: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; biết sử dụng thành thạo các phép tính và các công cụ tính toán Có những kiến thức cơ bản về Đại số Hiểu biết một cách có hệ thống các hàm số quen thuộc; biết khảo sát hàm số
và vẽ đồ thị hàm số b ng công cụ đạo hàm Biết sử dụng tích phân để tính toán diện tích hình phẳng và thể tích vật thể trong không gian Có những kiến thức cơ bản về hình học và biết sử dụng chúng để mô tả các đối tượng của thế giới xung quanh Hiểu các phương pháp cơ bản của thống kê và xác suất cổ điển
Căn cứ xác định năng lực
Tài liệu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2005) (Xác định
và lựa chọn các năng lực cốt lõi)
Sử dụng một cách tương tác các phương tiện thông tin và công cụ, bao gồm: khả năng sử dụng tương tác ngôn ngữ, kí hiệu và văn bản; khả năng sử dụng tương tác tri thức và thông tin; khả năng sử dụng tương tác các công nghệ
Tương tác trong các nhóm không đồng nhất, bao gồm: khả năng duy trì các mối quan hệ tốt với những người khác; khả năng hợp tác; khả năng giải quyết các xung đột
Khả năng hành động tự chủ, bao gồm: khả năng hành động trong các nhóm phức hợp; khả năng tổ chức và thực hiện các kế hoạch về cuộc sống và dự án cá nhân; khả năng nhận thức các quyền, lợi ích, giới hạn và nhu cầu cá nhân
Tài liệu của Liên minh Châu Âu EU (2006) (Các năng lực cốt lõi để học tập suốt đời – Một khung tham chiếu châu Âu)
Trang 21Đưa ra 8 năng lực cốt lõi: Giao tiếp b ng tiếng mẹ đẻ; Giao tiếp b ng tiếng nước ngoài; NL toán học và NL trong khoa học tự nhiên và công nghệ; NL kĩ thuật số; NL học tập (học cách học); NL xã hội và công dân; Sáng kiến và tinh thần kinh doanh; Ý thức văn hóa và khả năng biểu đạt văn hóa
Tài liệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF (2015) (Tầm nhìn mới về giáo dục: Mở khóa cho tiềm năng công nghệ) Đưa ra ba nhóm kỹ năng của thế kỷ 21:
Văn hóa nền tảng, bao gồm: văn hóa nền tảng về đọc viết, văn hóa nền tảng
về tính toán, văn hóa nền tảng về khoa học, văn hóa nền tảng về công nghệ thông tin, văn hóa nền tảng về tài chính, văn hóa nền tảng về công dân và xã hội
Năng lực, bao gồm: tư duy phản biện/giải quyết vấn đề, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác
Phẩm chất, bao gồm: ham tìm hiểu, sáng kiến, kiên trì/dũng cảm, thích ứng, lãnh đạo, hiểu biết về xã hội và văn hóa
Nhóm (1): tương tự 8 năng lực của EU (2006)
Nhóm (2): tương tự 3 nhóm của OECD (2005)
Nhóm (3): lẫn lộn phẩm chất, năng lực (sáng kiến, thích ứng, lãnh đạo, hiểu biết) [1]
Các môn học có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành năng lực cho học sinh theo đặc thù của từng môn
Ví dụ:
Chương trình Hóa học phổ thông cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức PT cơ bản thiết thực về Hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng thực hành Hóa học cơ bản nhất Học sinh có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực đầu tiên về Hóa học bao gồm những khái niệm cơ bản, định luật, học thuyết, một số chất Hóa học quan trọng Hình thành một số kĩ năng thao tác với chất hóa học, với dụng cụ, thiết bị hóa học đơn giản Biết quan sát và giải thích một số hiện tượng hóa học trong tự nhiên Biết giải bài toán hóa học theo công thức và phương trình hóa học Có thói quen học tập và làm việc khoa học Như vậy, ngoài các năng lực chung và chuyên môn, môn Hóa học còn góp phần hình thành các năng lực đặc thù của Hóa học như: Năng lực nhận thức kiến thức hóa học, năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học và năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn
Trang 221.2.3 Chương trình mới chú trọng định hướng nghề nghiệp
Trong Chương trình phổ thông hiện hành, việc định hướng nghề nghiệp chưa được chú trọng, khiến cho một số học sinh không xác định được ngành nghề mình yêu thích để chuẩn bị hành trang vững chắc từ ban đầu Dẫn đến nhiều em phải thay đổi khối thi vào phút chót, chọn nhầm ngành nghề không mong muốn, tình trạng thất nghiệp và làm trái ngành sau đại học nguyên nhân chủ yếu đều là do các em không có đam mê với ngành nghề mình đã chọn Tạimột số trường phổ thông cũng
có một số hoạt động mang tính định hướng nghề nghiệp như các buổi ngoại khóa hướng nghiệp cho học sinh, tổ chức cho học sinh lớp 12 nghe hướng nghiệp và trao đổi những thắc mắc về quá trình xét tuyển vào đại học tại các trường đại học, định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khối 10 và phân chia các lớp theo nguyện vọng chọn khối thi của học sinh,… Tuy nhiên, những hoạt động mang tính định hướng nghề nghiệp này chỉ được áp dụng tại một số trường chứ chưa phải toàn diện, tích cực và không mang tính bắt buộc Do vậy, trong Chương trình phổ thông mới, việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh sẽ mang tính chất bắt buộc
Chương trình giáo dục phổ thông mới dự kiến bắt đầu triển khai từ năm học 2020-2021 sẽ được chia làm hai giai đoạn: giáo dục cơ bản (9 năm, gồm bậc tiểu học và trung học cơ sở) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (ba năm trung học phổ thông)
Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh sẽ phải học bắt buộc 11 nội dung giáo dục, gồm 10 môn học và hoạt động trải nghiệm, và hai môn tự chọn là Ngoại ngữ và Tiếng dân tộc thiểu số
Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12), bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình (5 môn học bắt buộc nhưng học sinh sẽ phải chọn 5 môn trong số các môn tự chọn) Chương trình GDPT mới bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục, triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục
Cụ thể, lớp 10 sẽ được coi là lớp dự hướng giúp học sinh có được sự chuẩn
bị để chọn hướng nghề nghiệp cho đúng Lớp 11 và 12 là giáo dục định hướng nghề
Trang 23nghiệp, đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp, đào tạo có chất lượng sau THPT
Cụ thể, ngoài một số môn bắt buộc như giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh bậc THPT chỉ phải chọn 5 môn trong số các môn còn lại để phù hợp với định hướng nghề nghiệp Cùng với đó, các môn bắt buộc cũng thiên về hoạt động thực tế hơn là học lý thuyết
Nội dung cơ bản của hoạt động hướng nghiệp xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa học sinh với nghề nghiệp Từ đó hình thành nên định hướng ban đầu về nghề nghiệp tương lai mà các em theo đuổi để lên bậc Đại học các em có thể chọn đúng trường, đúng ngành
Ví dụ:
Trong Chương trình trung học phổ thông, ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn các tổ hợp môn như: Tự chọn 1 bao gồm môn Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Ngoại ngữ 2 hay Tự chọn 3 bao gồm Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (lớp 10, 11, 12) và Chuyên đề học tập (lớp 11, 12) Như vậy, tùy theo sở trường và sở thích về công việc tương lai mà các em chọn thì các em có thể chọn tổ hợp môn tương ứng Ví dụ các em muốn làm kỹ sư, kiến trúc
sư hay phiên dịch viên… các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 1; các em muốn làm
ca sĩ, học sĩ, vận động viên… thì các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 3
Trong các chuyên đề học tập của các môn cũng mang tính định hướng nghề nghiệp trong đó Ví dụ như môn Hóa học có các chuyên đề như: Chuyên đề Hóa học và Công nghệ thông tin; Chuyên đề Trải nghiệm, thực hành: Tìm hiểu quá trình thủ công tái chế nhôm và tạo vật dụng từ nhôm tái chế, Tìm hiểu công nghiệp silicate,… Như vậy, mỗi chuyên đề sẽ định hướng cho các em những nghề nghiệp khác nhau cùng với những lĩnh vực khác nhau như Công nghệ thông tin hay Công nghiệp…
Trong Chương trình phổ thông mới có thêm một nội dung hoàn toàn mới đó
là giáo dục của địa phương, nội dung này cũng góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh Ví dụ như ở địa phương các em có nhiều khu công nghiệp, nhiều nhà máy lớn… thì sẽ định hướng các em theo ngành công nghiệp; nếu địa phương các
em ở gần rừng thì sẽ định hướng các em theo ngành lâm nghiệp; nếu ở địa phương của các em có truyền thống theo nghề làm nông thì sẽ định hướng các em theo ngành nông nghiệp…
Trang 241.2.4 Chươg trình phổ thông mới có tính tích hợp và phân hóa
a Tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Trong tự nhiên và xã hội, mọi sự vật và hiện tượng là một thể thống nhất Việc chia ra các lĩnh vực khoa học (hay các môn học) là để nghiên cứu sâu sự vật và hiện tượng ở từng phương diện nhất định Tuy nhiên, khi giải quyết một vấn đề của thực tiễn (tự nhiên hay xã hội) thì không chỉ cần tới hiểu biết về một phương diện nào đó mà cần kiến thức tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Mặt khác, kho tàng kiến thức của nhân loại càng ngày càng tăng trong khi thời gian học tập ở nhà trường phổ thông thì có hạn, giáo dục phổ thông cần có giải pháp thích hợp để giải quyết mâu thuẫn này Chính vì vậy, từ hàng chục năm nay, các nước có nền giáo dục tiên tiến đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có dạy học tích hợp, mà mức cao nhất là xây dựng các môn học tích hợp Giải pháp này phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực của người học, bởi vì năng lực là kết quả huy động tổng hợp các nguồn lực để thực hiện thành công các hoạt động thực tiễn, dạy học tích hợp giúp học sinh rút ngắn quá trình tổng hợp này, đồng thời góp phần "giảm tải" chương trình
Nghị quyết 88 của Quốc Hội 13 đã xác định rõ yêu cầu tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới: “Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục,…” Việc dạy học tích hợp cần thực hiện đồng bộ, từ xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá Ở đây chỉ nói về tích hợp trong chương trình Chủ trương dạy học tích hợp trong chương trình mới có một số điểm khác so với chương trình hiện hành như: tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùng một môn học, xây dựng một số môn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thần chung là tích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; yêu cầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểm tra, đánh giá giáo dục
Trước hết, định hướng tích hợp được thể hiện ngay trong nội bộ mỗi môn học, chẳng hạn trong chương trình môn Ngữ văn sẽ có sự tích hợp giữa các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe; tích hợp giữa kiến thức văn học và kiến thức tiếng Việt trong quá trình dạy học các kỹ năng này Các môn học khác cũng tùy vào đặc điểm và
Trang 25tính chất môn học mà thực hiện yêu cầu tích hợp giữa các phân môn, các phần của mỗi môn học Việc tích hợp trong chương trình các môn học cũng không chỉ thể hiện ở nội dung dạy học mà còn ở cả yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra)
Ngoài yêu cầu tích hợp nội môn, chương trình mới còn thực hiện ở các môn học tích hợp Trong chương trình cấp tiểu học hiện hành, các môn Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3; môn Lịch sử và Địa lý, môn Khoa học ở các lớp 4, 5 vốn đã có tính tích hợp Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, tính tích hợp trong những môn học này sẽ thể hiện đậm nét hơn thông qua các chủ đề chung giữa các phân môn
Chương trình cấp Trung học cơ sở lần này khác chương trình hiện hành là có một số môn tích hợp, đó là môn Lịch sử và Địa lý và môn Khoa học tự nhiên Việc thực hiện tích hợp được thiết kế ở mức thấp Cụ thể các phân môn trong Khoa học
tự nhiên cũng như trong Lịch sử và Địa lý không phải là sự lắp ghép cơ học Trong chương trình của mỗi môn, các mạch nội dung có sự kết nối ở mức có thể để: tránh trùng lặp; kiến thức và kỹ năng của phân môn này giúp làm sáng rõ hơn kiến thức
và kỹ năng của phân môn kia; giúp học sinh vận dụng các kiến thức, kỹ năng của từng phân môn để giải quyết các vấn đề đòi hỏi cách tiếp cận liên môn
Với chương trình môn Khoa học tự nhiên, nội dung sẽ cố gắng tập trung thiết
kế thành các chủ đề lớn như vật chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, trái đất
và bầu trời Các kiến thức và kỹ năng Vật lý, Hóa, học, Sinh học đều được triển khai trong phạm vi những chủ đề này
Với chương trình môn Lịch sử và Địa lý, nội dung cũng được thiết kế thành hai mạch tương đối độc lập, nhưng cố gắng kết nối để giáo viên và học sinh thấy được mối liên hệ giữa lịch sử và địa lý thông qua việc tìm hiểu, khám phá các sự kiện trong thời gian và không gian Ngoài ra tính chất tích hợp của môn học này còn được thể hiện ở một số chủ đề chung như Khám phá các dòng sông lớn trên thế giới, Văn minh châu thổ sông Hồng, Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, Đô thị,
Cuối cùng việc tích hợp trong chương trình giáo dục mới thể hiện ở yêu cầu tất cả các môn đều phải lồng ghép một số nội dung (chủ đề xuyên môn) giáo dục mang tính cấp thiết, có ý nghĩa dân tộc và toàn cầu như giáo dục bình đẳng giới, giáo dục tài chính- kinh doanh, chủ quyền biển đảo, môi trường và phát triển bền vững… [1]
Trang 26b Phân hóa ở chương trình giáo dục phổ thông mới
Vì sao cần phân hóa trong chương trình giáo dục? Có thể nêu lên một vài lí
do chính sau đây:
Thứ nhất, mỗi học sinh là một cá nhân không hoàn toàn giống nhau, có những sở thích, năng lực, sở trường khác nhau; với những động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập khác nhau Nhà trường cần trang bị cho mọi học sinh những tri thức phổ thông nền tảng, cốt lõi; đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi học sinh phát triển tối
đa tiềm năng cá nhân của mình Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng được yêu cầu vừa nêu
Thứ hai, phân hóa là để đáp ứng yêu cầu phân công lao động trong xã hội và phân luồng học sinh Do yêu cầu phát triển khoa học và đòi hỏi của thị trường lao động buộc nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT cần dạy học phân hóa để cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động, nguồn học sinh cho giáo dục đại học, cao đẳng cũng như các trường nghề đáp ứng được yêu cầu đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực khoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt
Quán triệt yêu cầu đã nêu trong Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành TW về xây dựng và chuẩn hoá nội dung giáo dục phổ thông theo hướng “tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn”, chương trình GDPT mới thể hiện yêu cầu phân hóa trên hai bình diện lớn:
Phân hóa trong (vi mô) tiếp tục được quán triệt ở tất các các cấp, lớp học, tất cả các môn học/hoạt động giáo dục: Để thực hiện hướng phân hóa này, việc
thiết kế yêu cầu cần đạt (chuẩn) của chương trình và đặc biệt cách biên soạn sách giáo khoa cần chú ý đến các yêu cầu và mức độ khác nhau của cùng một vấn đề/ đề tài Ngoài ra để phân hóa trong có hiệu quả cần đề cao phương pháp dạy học của giáo viên và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Phân hóa ngoài (vĩ mô) được thể hiện ở các cấp theo 2 hình thức:
Xây dựng một số môn học theo các học phần (module) và các chủ đề khác nhau để học sinh tự chọn cho phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường Theo hướng này, các môn học như Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm ở Tiểu học; các môn Công nghệ, Tin học, Giáo dục thể chất và hoạt động trải nghiệm ở THCS đều được thiết kế thành các học phần và chủ đề để học sinh tự chọn
Trang 27Phân hóa b ng dạy học tự chọn ở Trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp) theo hướng: Học sinh học một số môn học bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động trải nghiệm); còn lại sẽ được tự chọn 5 môn trong 3 nhóm môn (mỗi nhóm ít nhất 1 môn) gồm: Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân)
; Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học); Công nghệ và nghệ thuật (Công nghệ, tin học, Nghệ thuật)
Ở nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật, nội dung các môn học cũng được biên soạn theo các học phần để học sinh lựa chọn cho phù hợp Ngoài ra chương trình THPT của hầu hết các môn học còn có hệ thống các chuyên đề học tập nh m phân hóa sâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hướng nghiệp Ở mỗi lớp cấp THPT, học sinh được chọn 3 cụm chuyên đề của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường
Chương trình GDPT mới còn thực hiện phân hóa ở các nội dung địa phương
và các môn học tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ được thực hiện ở tất
cả các cấp học [1]
1.2.5 Chương trình mới có môn học bắt buộc và tự chọn
Các môn học ở cả 3 cấp học được chia thành môn học bắt buộc (BB) và môn học tự chọn (TC) Các môn học tự chọn gồm 3 loại: Tự chọn tuỳ ý: học sinh có thể chọn hoặc không chọn (TC1); tự chọn trong nhóm môn học: học sinh buộc phải chọn một hoặc một số môn học trong nhóm môn học theo quy định trong chương trình (TC2); tự chọn trong môn học: học sinh buộc phải chọn một số nội dung trong một môn học (TC3) Tỷ lệ môn học tự chọn hoặc nội dung học tự chọn tăng dần từ lớp dưới lên lớp trên Xét về hình thức, tên gọi các môn học bắt buộc và tự chọn đã
có trong CTGDPT hiện hành Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu mới, CTGDPT mới có nhiều bổ sung, thay đổi về hệ thống các môn học BB và TC: Từ quan niệm, tên gọi, nguyên tắc lựa chọn đến sắp xếp, phân bổ thời lượng và các hình thức tổ chức dạy học…
a Ở cấp tiểu học
Các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu xã hội
Các môn tự chọn bao gồm:
Trang 28Tự chọn 1: Tiếng dân tộc, Ngoại ngữ 2 (chỉ dành cho các lớp 3, 4, 5)
Tự chọn 3: Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hệ thống các môn học được thiết kế theo định hướng bảo đảm cân đối nội dung các lĩnh vực giáo dục, phù hợp với từng cấp học, lớp học; thống nhất giữa các lớp học trước với các lớp học sau; tích hợp mạnh ở các lớp học dưới, phân hoá dần
ở các lớp học trên; tương thích với các môn học của nhiều nước trên thế giới Tên của từng môn học được gọi dựa theo các môn học trong chương trình hiện hành, có điều chỉnh để phản ánh tốt nhất nội dung, tính chất, ý nghĩa giáo dục của môn học trong từng cấp học, do đó tên một môn học có thể thay đổi ở từng cấp học Chẳng hạn:
Môn học cốt lõi của lĩnh vực giáo dục đạo đức – công dân có các tên: Giáo dục lối sống (tiểu học), Giáo dục công dân (trung học cơ sở) và Công dân với Tổ quốc (trung học phổ thông)
Cốt lõi trong lĩnh vực giáo dục khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) chỉ có 1 môn học Cuộc sống quanh ta (các lớp 1, 2, 3); tách thành 2 môn học Tìm hiểu Xã hội và Tìm hiểu Tự nhiên (các lớp 4, 5); tương ứng với 2 môn học Khoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên (trung học cơ sở)
b Ở cấp THCS
Các môn học bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáo dục Công dân, Cuộc sống quanh ta, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội
Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:
Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Ngoại ngữ 2, Tiếng dân tộc, Nghiên cứu khoa học
kỹ thuật (ở lớp 8, 9)
Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Kỹ thuật/Công nghệ, Tin học, Thể thao,
Âm nhạc, Mỹ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Tự học có hướng dẫn là thời gian học sinh tự học trên lớp (để thay thế tự học
ở nhà) có sự kèm cặp, giúp đỡ của giáo viên Hoạt động này chỉ có ở các lớp tiểu học học 2 buổi/ngày
c Ở cấp THPT
Lên trung học phổ thông, để hài hoà giữa học phân hoá định hướng nghề nghiệp với học toàn diện, môn Khoa học Xã hội cùng với các môn Vật lý, Hoá học,
Trang 29Sinh học sẽ dành cho học sinh định hướng khoa học tự nhiên, môn Khoa học Tự nhiên cùng với các môn Lịch sử, Địa lý sẽ dành cho các học sinh định hướng khoa học xã hội; đồng thời học sinh còn được tự chọn các chuyên đề học tập phù hợp với nguyện vọng cá nhân
Có 4 môn học bắt buộc: Ngữ văn 1, Toán 1, Công dân với Tổ quốc, Ngoại ngữ 1
Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:
Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Ngoại ngữ 2
Tự chọn trong nhóm môn học (TC2) gồm 4 môn (lớp 10, 11) và 3 môn (lớp 12) trong các môn: Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn 2, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Công nghệ, Toán 2, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội Nếu chọn môn Khoa học
Tự nhiên thì không chọn các môn: Vật lý, Hoá học, Sinh học; nếu chọn môn Khoa học Xã hội thì không chọn các môn: Lịch sử, Địa lý Các môn Khoa học Tự nhiên
1.2.6 Chương trình giáo dục mới định hướng về phương pháp dạy học
Các phương pháp giáo dục chủ yếu được lựa chọn theo các định hướng:
Định hướng hoạt động: Các hoạt động học tập của học sinh dựa trên các
hoạt động trải nghiệm, vận dụng, gắn kết với thực tiễn và định hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn nh m nâng cao sự hứng thú của học sinh, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh mà môn học đảm nhiệm
Các hoạt động bao gồm khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của Thiết bị dạy học tối thiểu, đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số
Trang 30Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng
Tùy theo mục tiêu cụ thể và tính chất của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế
Định hướng dạy học tích cực:
Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển
Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học nh m phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phù hợp với sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho người học; coi trọng thực hành, trải nghiệm trong các nội dung dạy học đặc biệt khi nghiên cứu về các chất vô cơ, hữu cơ có nhiều ứng dụng trong thực tiễn thông qua các dự án học tập
Tóm lại, tất cả những điểm mới của chương trình phổ thông tổng thể bao gồm mục tiêu giáo dục phổ thông; những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực;
nội dung và phương pháp dạy học đều được minh họa trong hình 1.1: Cơ cấu chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 31Hình 1.1: Cơ cấu chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 32CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ
2.1 Điểm mới/thay đổi của chương trình môn Hóa học
Ở chương trình cũ, môn Hóa học bắt đầu được học từ lớp 8, giai đoạn này học sinh chủ yếu học về những khái niệm cơ bản và tìm hiểu về một số nguyên tố quen thuộc Lên lớp 9, học sinh được học về cả phần hóa vô cơ và hữu cơ Ở cấp THPT, học sinh được tìm hiểu kiến thức của Hóa đại cương, Hóa vô cơ và Hóa hữu cơ; kiến thức về của mỗi phần được sắp xếp dàn trải và xen kẽ ở cả 3 lớp Ví dụ: Kiến thức Hóa đại cương có trong Hóa 10 và Hóa 11, kiến thức Hóa hữu cơ có trong lớp 11 và 12 và kiến thức Hóa vô cơ thì có cả ở 3 lớp 10, 11, 12
Còn ở chương trình mới, môn khoa học tự nhiên (môn tích hợp bao gồm Hóa học, Sinh học, Vật lý) được học từ lớp 6 Ở cấp THPT, học sinh cũng được tìm hiểu kiến thức của 3 phần Hóa đại cương, Hóa vô cơ và Hóa hữu cơ
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, ở cấp THPT, Hóa học là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh
Theo Ban Phát triển các chương trình môn học (Bộ GD-ĐT), chương trình môn Hoá học cấp THPT giúp học sinh phát triển các năng lực thành phần của năng lực tìm hiểu tự nhiên, gắn với chuyên môn về hóa học như: năng lực nhận thức kiến thức hóa học; năng lực tìm tòi, khám phá kiến thức hóa học; năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn Từ đó biết ứng xử với tự nhiên một cách đúng đắn, khoa học và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân
2.1.1 Bớt những tính toán theo kiểu “toán học hoá”
Chương trình môn Hoá học đảm bảo tính khoa học, kế thừa và phát triển các nội dung giáo dục của môn Khoa học tự nhiên ở THCS theo cấu trúc đồng tâm kết hợp cấu trúc tuyến tính nh m mở rộng và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho học sinh
Ở cấp THCS, thông qua môn Khoa học tự nhiên, học sinh mới làm quen với một số kiến thức Hoá học cơ bản ở mức độ định tính, mô tả trực quan, chưa hiểu rõ
cơ sở của cấu tạo chất và bản chất của quá trình biến đổi hoá học
Chương trình Hoá học lớp 10 sẽ trang bị cho học sinh các kiến thức cơ sở chung về cấu tạo chất và quá trình biến đổi hoá học, là cơ sở lý thuyết chủ đạo để giải thích được bản chất, nghiên cứu được quy luật ở các nội dung hoá học vô cơ ở lớp 11 và hoá học hữu cơ ở lớp 12
Trang 33Điểm mới quan trọng nhất trong chương trình là định hướng tăng cường bản chất hoá học của đối tượng; giảm bớt và hạn chế các nội dung phải ghi nhớ máy móc cũng như phải tính toán theo kiểu “toán học hoá”, ít đi vào bản chất hoá học và thực tiễn
Để phát triển phẩm chất và năng lực của người học, chương trình chú trọng trang bị các khái niệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ Đặc biệt là giúp học sinh có kỹ năng thực hành thí nghiệm, kỹ năng vận dụng các tri thức hoá học vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống
Chương trình vận dụng các phương pháp giáo dục tích cực hóa hoạt động của người học, nh m khơi gợi hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, rèn luyện kỹ năng cho học sinh
Trước đây, trong đề thi Trung học Phổ thông quốc gia có một số câu hỏi, bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tổng hợp và kỹ năng giải toán cao Việc giải bài tập loại này đòi hỏi khá nhiều thời gian, mà lại không có ý nghĩa thực tế, thực tiễn, ví dụ như bài tập dưới đây Theo xu hướng mới, các bài tập này sẽ dần bị thay thế [3]
Ví dụ: Người ta hòa 216,55 gam hỗn hợp muối KHSO4 và Fe(NO3)3 vào nước dư thu được dung dịch A Sau đó cho m gam hỗn hợp B gồm Mg, Al, Al2O3
và MgO vào dung dịch A rồi khuấy đều tới khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thấy
B tan hết, thu được dung dịch C chỉ chứa các muối và có 2,016 lít hỗn hợp khí D có tổng khối lượng là 1,84 gam gồm 5 khí ở (đktc) thoát ra trong đó về thể tích H2,
N2O, NO2 lần lượt chiếm 4/9, 1/9 và 1/9 Cho BaCl2 dư vào C thấy xuất hiện 356,49 gam kết tủa trắng Biết trong B oxi chiếm 64/205 về khối lượng Giá trị đúng của m gần nhất với:
A 18 B 22 C 20 D 24
2.1.2 Chương trình mới có 3 mạch nội dung cốt lõi
a Chương trình sẽ gồm 3 mạch nội dung cốt lõi: Kiến thức cơ sở hóa học chung; kiến thức Hóa học vô cơ và kiến thức Hóa học hữu cơ
Trục phát triển chính của chương trình là hệ thống các chủ đề và chuyên đề
về kiến thức cơ sở hóa học chung về cấu tạo chất và quá trình biến đổi hoá học