1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH

36 329 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Hiệu Quả Hoạt Động Tín Dụng Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Huyện Bình Minh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Văn Ngân
Trường học Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Kế toán Ngân hàng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 74,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình cụ thể về việc huy động vốn Khác với các doanh nghiệp khác, ngân hàng thương mại không tham gia sảnxuất và lưu thông hàng hóa, nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hộith

Trang 1

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN

BÌNH MINH



4.1 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

4.1.1 Đánh giá chung cơ cấu nguồn vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển chung của nền kinh tế thì việc tạolập vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng thương mại Vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chứcđược mọi hoạt động kinh doanh, mà còn góp phần quan trọng trong việc đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như sự pháttriển của nền kinh tế nói chung Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng tăng trưởngvừa tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng vừa đáp ứng nhu cầuvay vốn của các thành phần kinh tế và dân cư

Đối với Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh nguồn vốnhoạt động bao gồm vốn huy động và vốn điều chuyển từ Hội sở Trong 3 năm2004-2006, kinh tế Tỉnh Vĩnh Long nói chung và huyện Bình Minh nói riêng có

sự tăng trưởng nhanh tạo điều kiện thuận lợi trong công tác huy động vốn của chinhánh thể hiện qua bảng số liệu sau:

Trang 4

Hình 3: Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh

Bình Minh qua 3 năm 2004-2006

Qua biều đồ ta thấy được nguồn vốn của Ngân hàng liên tục tăng, đến cuốinăm 2006 tổng nguồn vốn của chi nhánh đạt tới 85.042 triệu đồng Sự tăng củatổng nguồn vốn là do vốn huy động và vốn điều chuyển không ngừng tăng lên.Mặc dù vốn huy động tăng qua các năm nhưng nó vẫn chiếm tỷ trọng thấp (dưới24%) trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Trong 3 năm qua, kinh tế tăngtrưởng khá, đời sống văn hóa xã hội của các tầng lớp dân cư đi vào ổn định vàdần cải thiện, nhưng do nền kinh tế Tỉnh mang tính thuần nông làm cho tích lũy

từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, hơn nữa sự chậm phát triển của công thươngnghiệp trong Tỉnh cũng là nguyên nhân làm cho mức huy động thấp Do vậy, đểđảm bảo nhu cầu vay vốn của khách hàng thì Ngân hàng phải sử dụng vốn điềuchuyển từ Hội sở làm cho vốn điều hoà tăng mạnh vào năm 2005 là 56,8% Tuynhiên, sang năm 2006 con số này lại giảm xuống 2,3% Điều này cho thấy đểđảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động, Ngân hàng đã từng bước cơ cấu lạinguồn vốn ngày càng hợp lí hơn, tăng dần tỷ trọng vốn huy động và giảm dần tỷtrọng vốn vay

Nhìn chung, hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCLhuyện Bình Minh ngày càng phát triển thể hiện qua qui mô vốn hoạt động củaNgân hàng tăng liên tục qua 3 năm 2004-2006 Điều đó cho thấy nhu cầu vốn củacác thành phần kinh tế trong Tỉnh ngày càng cao, và đó cũng là kết quả của việc

mở rộng và đa dạng hóa các đối tượng cho vay của chi nhánh trong thời gian qua

4.1.2 Tình hình cụ thể về việc huy động vốn

Khác với các doanh nghiệp khác, ngân hàng thương mại không tham gia sảnxuất và lưu thông hàng hóa, nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hộithông qua việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Như vậy, hoạt động huy độngvốn không những có ý nghĩa đối với bản thân Ngân hàng mà còn có ý nghĩa đốivới toàn xã hội Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng một mặt đem lại choNgân hàng một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mặt khác giúp Ngânhàng nắm bắt thông tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các tổ chức

Trang 5

kinh tế và cá nhân, có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, tạo điều kiện cho Ngânhàng có căn cứ để qui định mức vốn đầu tư cho vay đối với khách hàng đó.

Trong 3 năm qua từ năm 2004-2006 nền kinh tế Việt Nam nói chung vàTỉnh Vĩnh Long nói riêng không ngừng tăng trưởng Tuy nhiên, bên cạnh sự tăngtrưởng đó thì nền kinh tế cũng gặp một số khó khăn như dịch cúm gà, sự tăng giácủa xăng dầu và một số mặt hàng đã gây ra tình trạng tăng giá và lạm phát Hoạtđộng của Ngân hàng gắn liền với nền kinh tế, do vậy mặt tiêu cực hay tích cựccủa nền kinh tế cũng sẽ tác động đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng làđiều đương nhiên Dưới đây là tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàngPhát triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh trong 3 năm vừa qua

Trang 7

15000

20200

0500010000150002000025000

Hình 4: Tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL

huyện Bình Minh.

Xác định huy động vốn từ nền kinh tế phục vụ cho vay là nhiệm vụ chính, với cácbiện pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, cuối năm 2006 vốn huy động của Ngânhàng Phát triển nhà chi nhánh Bình Minh đạt 20.200 triệu đồng tăng 34,7% so với năm

2005 Trong đó vốn huy động từ dân cư là chủ yếu chiếm trên 60% tổng vốn huy động.Đặc biệt vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư tăng nhanh 36% năm2006

Đạt được kết quả như trên là do trong những năm qua Ngân hàng không ngừngquảng bá công tác huy động vốn, đa dạng hóa sản phẩm, thực hiện chính sách khuyếnmãi như tặng thưởng đối với khách hàng có mức tiền gửi cao, hậu mãi như tặng quà chokhách hàng lớn vào dịp lễ, tết…, thái độ phục vụ văn minh, lịch sự, xử lý nhanh và chínhxác các chứng từ, rút ngắn thủ tục gửi tiền tạo sự thân thiện và thoải mái cho khách hàng

Trang 8

khi đến giao dịch nên giữ chân được khách hàng cũ cũng như thu hút thêm khách hàngmới

Đối với Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh vốn huy động baogồm: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm và kỳ phiếu Nhìn chung, các chỉtiêu này đều tăng về số tuyệt đối

- Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản mục tiền gửi chiếm tỷ trọng cao trên vốn huyđộng (trên 60%) Năm 2005 số tiền tiết kiệm huy động là 9.500 triệu đồng tăng gần 32%

so với năm 2004 Đến năm 2006 là 20.200 triệu đồng tăng 28% so với năm 2005 Nguyênnhân tiền gửi tiết kiệm tăng là do Ngân hàng đa dạng các hình thức huy động với nhữngloại tiền gửi và thời hạn khác nhau, với mức ưu đãi khác nhau nên thu hút khách hàng.Mặt khác, do Bình Minh là một huyện nông thôn nên người dân sau khi đã trừ nhữngkhoản chi tiêu hàng ngày số tiền thừa ra họ gửi có kỳ hạn để hưởng lãi Bên cạnh đó, năm

2005 kinh tế tăng trưởng khá nên các đối tượng có thu nhập không ổn định: trúng số, muabán bất động sản, những gia đình có thân nhân ở nước ngoài cũng tăng lên Những đốitượng này gửi tiền vào Ngân hàng để hưởng lãi do vậy mà khoản mục tiền gửi tiết kiệm

có kỳ hạn tăng lên

Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: số dư tiền gửi này mặc dù có tăng nhưngvẫn chiếm tỷ trọng không đáng kể (dưới 16%) qua 3 năm Năm 2005 chính phủ điềuchỉnh tăng mức lương cơ bản dẫn đến thu nhập của các đối tượng như nhân viên bưuđiện, điện lực… tăng nên những đối tượng này mở tài khoản tại Ngân hàng để thuận tiệncho việc chi tiêu của mình điều đó làm cho tốc độ tăng của khoản mục tiền gửi này đạt109%

- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Qua bảng số liệu ta thấy các doanh nghiệp chủyếu gửi tiền vào khoản mục tiền gửi không kỳ hạn Mục đích của khách hàng khi gửi tiềnvào khoản mục này là để hưởng những tiện ích của Ngân hàng, đồng thời hạn chế rủi ro

và muốn sinh lợi từ đồng vốn tạm thời nhàn rỗi Do vậy, tiền gửi không kỳ hạn của các tổchức kinh tế tăng liên tục qua 3 năm 2004-2006 Tuy nhiên, do chi nhánh mới đi vào hoạtđộng năm 2003 nên chưa tạo được mối quan hệ thân thiết với các tổ chức kinh tế, mặt

Trang 9

khác do Bình Minh là một huyện nên các tổ chức kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp tưnhân và công ty trách nhiệm hữu hạn với qui mô vốn hoạt động còn thấp nên vốn huyđộng từ các đối tượng này mặc dù có tăng nhưng chiếm tỷ trọng không cao (thấp hơn16%) trên tổng vốn huy động.

- Bên cạnh hình thức huy động trên, chi nhánh còn huy động vốn bằng cách pháthành kỳ phiếu Từ bảng số liệu ta có thể thấy được trong 3 năm qua Ngân hàng đều cóphát hành kỳ phiếu và tiền gửi kỳ phiếu tăng dần qua các năm Cụ thể, năm 2005 vốn huyđộng từ kỳ phiếu là 3.600 triệu đồng tăng 71,4% so với năm 2004 Sang năm 2006 con sốnày đạt 4.800 triệu đồng tăng 33% so với năm 2005 Nguyên nhân dẫn đến việc tăng lêncủa tiền phát hành kỳ phiếu là nhu cầu về vốn đột xuất trong những năm qua tăng Kỳphiếu của Ngân hàng thường được phát hành vào những tháng cuối năm, do đây là thờiđiểm gần tết nên người dân có xu hướng tiêu dùng tăng dẫn đến nhu cầu vay vốn cao Đểđảm bảo nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng sẽ phát hành

kỳ phiếu Hơn nữa lãi suất kỳ phiếu cao hơn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm nên đã thuhút được người dân mua kỳ phiếu làm cho vốn huy động từ loại hình này tăng nhanh

4.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG QUA 3 NĂM GẦN ĐÂY 4.2.1 Phân tích doanh số cho vay

Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì việc tạo lập nguồn vốn là vấn đề quantrọng hàng đầu Khi huy động được vốn để có thể tạo ra lợi nhuận, hoàn trả tiền gốc vàlãi cho khách hàng đồng thời bù đắp chi phí kinh doanh, ngân hàng thương mại phải tiếnhành kinh doanh dưới hình thức sử dụng vốn huy động được mà chủ yếu là cấp tín dụng.Hoạt động cho vay không những có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng mà còn đối vớinền kinh tế bởi vì nó bổ sung nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất

Do vậy, hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng, để có thể ngăn ngừa vàgiảm thiểu rủi ro ngân hàng cần có quy trình tín dụng chặt chẽ

4.2.1.1 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế.

Trong những năm qua, chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL huyện BìnhMinh đã không ngừng tìm kiếm khách hàng mới và giải quyết kịp thời nhu cầu vay vốn

Trang 10

hợp lý cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân đã làm cho doanh số cho vay nămsau cao hơn năm trước thể hiện qua bảng số liệu sau:

Trang 12

Nhìn chung, doanh số cho vay tăng liên tục qua 3 năm 2004-2006 Doanh số chovay năm 2005 đạt 57.520 triệu đồng tăng 1.150 triệu đồng so với năm 2004 tương đươngvới tốc độ tăng 2% Đến năm 2006 con số này lên đến 80.492 triệu đồng tăng 22.972triệu đồng tức tăng gần 40% so với năm 2005 Do trong thời gian này Ngân hàng luônbám sát mục tiêu phát triển kinh tế của Tỉnh trên cơ sở các chương trình tín dụng đã đượcxây dựng tập trung cho vay những ngành trọng điểm, ưu tiên cho vay đối với các doanhnghiệp có qui mô vừa và nhỏ, các cơ sở, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả.Ngoài ra, chi nhánh còn mở rộng đối tượng cho vay nên số lượng khách hàng đến vayvốn ngày càng nhiều làm tăng doanh số cho vay của Ngân hàng qua các năm.

Trong 3 năm qua chi nhánh luôn mở rộng quan hệ tín dụng đối với thành phần kinh

tế ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, cá thể hộgia đình Trong đó, doanh số cho vay đối với cá thể hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn(>80%) trong tổng doanh số cho vay vì đây là đối tượng khách hàng truyền thống, hoạtđộng rộng lớn trên địa bàn huyện

Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn: Đây là loại hìnhdoanh nghiệp phổ biến và chiếm tỷ lệ khá cao trên địa bàn huyện, hoạt động ngày càng

có hiệu quả Nhận thấy tầm quan trọng của khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ đối vớinền kinh tế nói chung, hoạt động kinh doanh của chi nhánh nói riêng nên chi nhánh đãtập trung tiếp cận, đầu tư vốn cung cấp tín dụng cho thành phần kinh tế này ngày càngnhiều thể hiện qua tốc độ tăng trưởng trung bình của doanh số cho vay đối với doanhnghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn qua 2 năm 2005 và 2006 khoảng 26% Ngược lại, doanh số cho vay đối với cá thể hộ gia đình tăng giảm không ổn định.Năm 2005 cho vay cá thể hộ gia đình là 46.565 triệu đồng giảm 845 triệu đồng tức giảm1,8% so với năm 2004 Sang năm 2006 doanh số cho vay tăng lên đáng kể đạt 66.345triệu đồng tức tăng gần 43% so với năm 2005 Một mặt do chi nhánh tăng mức đầu tư tíndụng sang doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặt khác do những năm đầu mới thành lập chinhánh, Lãnh đạo Ngân hàng thường chạy theo chỉ tiêu đề ra, cho vay phân tán, khônghiệu quả Những năm gần đây chi nhánh nhận thấy đội ngũ cán bộ tín dụng có hạn nên

Trang 13

cho vay tập trung, cho vay có chọn lọc khách hàng, hạn chế cho vay ở những vùng vượtkhả năng quản lý của cán bộ tín dụng nên chi nhánh đã cắt giảm và từ chối cho vay đốivới một số cá thể hộ gia đình với mức vay nhỏ, phương án không hiệu quả và thườngxuyên gia hạn nợ Vì vậy mà doanh số cho vay của đối tượng này năm 2005 giảm Năm

2006 ngân hàng đã khuyến khích người dân đi vay dưới hình thức cầm cố sổ tiết kiệm và

kỳ phiếu chưa đến hạn, bên cạnh mở rộng thị phần tiến hành giải ngân đến các hộ giađình vùng nông thôn, đến cán bộ công nhân viên giúp họ cải thiện và nâng cao đời sốngtạo điều kiện phát triển kinh tế gia đình dẫn đến doanh số cho vay tăng cao

4.2.1.2 Doanh số cho vay theo kỳ hạn

Hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh đều tăngtrưởng qua các năm Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được đầu tư hầu hết vào cácthành phần kinh tế nhằm hỗ trợ vốn cho các đơn vị bổ sung vào vốn kinh doanh để pháttriển sản xuất Chi nhánh đầu tư tín dụng ngắn hạn, trung dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốnlưu động và vốn cố định của các đơn vị Trong 3 năm qua đạt được kết quả như sau:

Trang 14

Đối với tín dụng ngắn hạn: đây là loại tín dụng chiếm tỷ trọng cao (trên 70%) so vớitổng doanh số cho vay và tăng qua các năm Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắnhạn năm 2005 mới chỉ đạt 9,9% đến năm 2006 con số này đã tăng lên đáng kể 53,2%.Nguyên nhân của sự tăng này là do 2 nhân tố:

Đối với Ngân hàng do nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu từ huy động ngắnhạn, cho vay ngắn hạn ít rủi ro hơn so với cho vay trung và dài hạn đồng thời cán bộ tíndụng cũng dễ dàng trong việc lập phương án cho vay

Đối với khách hàng là các cơ sở sản xuất mục đích vay để bổ sung vốn lưu động,còn khách hàng là cá nhân mục đích vay là trồng trọt, chăn nuôi…do vậy mà chu kỳ vốnngắn, hơn nữa vay ngắn hạn lãi suất thấp nên thu hút được khách hàng

Ngược lại với tín dụng ngắn hạn, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong ba nămqua chỉ đạt con số khiêm tốn dưới 30% Sự tăng trưởng của loại tín dụng này cũng không

ổn định qua các năm Năm 2005 doanh số cho vay giảm 2.741 triệu đồng hay giảm 16 %

so với năm 2004 Sang năm 2006 có sự tăng trưởng trở lại tăng 20 triệu đồng hay tăng0,1% Do các khoản cho vay trung và dài hạn có thời gian thu hồi vốn lâu, lại có độ rủi rolớn Mặt khác, do tài sản thế chấp của khách hàng đa số là bằng khoán đất, tài sản không

đủ làm đảm bảo để cho vay, do đó rất khó làm phương án để cho vay trung và dài hạn.Chính vì vậy mà Ngân hàng rất thận trọng trong công tác thẩm định và xét duyệt cho vay.Bảng số liệu còn cho ta thấy tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn gấp khoảng 3 lần

so với tỷ trọng cho vay trung và dài hạn năm 2004 và 2005 Sang năm 2006 thì con sốnày lên đến 4,5 lần Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắnhạn, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây các ngân hàng đã chuyển sang kinh doanhtổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung vàdài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng Tuy nhiên tâm lý của khách hàng kể cả chínhquyền địa phương cũng đã quen với chức năng của ngân hàng thương mại quốc doanhđóng trên địa bàn Do đó việc cho vay theo các chương trình, dự án lớn thuộc Ngân hàngđầu tư và phát triển Hơn nữa, sau khi ra đời quỹ đầu tư và phát triển cho doanh nghiệpvay các dự án lớn, chương trình của chính phủ…có thời hạn trung và dài hạn, với lãi suất

ưu đãi chỉ bằng 50% lãi suất của ngân hàng thương mại Vì vậy chi nhánh Ngân hàng

Trang 15

phát triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh đầu tư cho vay chủ yếu trong lĩnh vực bổ sungvốn lưu động thiếu hụt tạm thời với lãi suất thương mại và thời gian ngắn Điều này đãgiải thích vì sao mà tỷ trọng cũng như tốc độ tăng doanh số cho vay ngắn hạn luôn caohơn doanh số cho vay trung và dài hạn.

4.2.1.3 Doanh số cho vay theo ngành kinh tế.

Bảng 6: DOANH SỐ CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ

Số tiền

Tốc độ tăng (%)

Nguồn: Phòng nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh

Cùng với sự đa dạng các ngành nghề trong nền kinh tế dẫn đến nhu cầu về vốn đểphát triển, mở rộng sản xuất cũng tăng theo Do vậy, doanh số cho vay theo ngành kinh tếtăng qua 3 năm 2004-2006 Qua bảng số liệu ta thấy doanh số cho vay năm 2005 có sựtăng giảm giữa các ngành kinh tế trong Tỉnh Do chủ trương chuyển đổi kinh tế của Tỉnhgiảm tỷ trọng đối với ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng đối với ngành thương mại-dịch

vụ, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, do vậy cơ cấu vốn tín dụng đầu tư cho các ngànhkinh tế cũng thay đổi, được tập trung vào các ngành chính, mũi nhọn phục vụ côngnghiệp hóa hiện đại hóa Năm 2005, chi nhánh tăng cho vay ngành công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp, thương mại-dịch vụ và ngành khác, giảm doanh số cho vay ngành nôngnghiệp Cụ thể, năm 2005 doanh số cho vay ngành thương mại - dịch vụ tăng 7,5%,

Trang 16

ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 1,7%, ngành khác tăng 0,9%, riêngdoanh số cho vay ngành nông nghiệp giảm 4,2%.

Tuy nhiên sang năm 2006, cùng với sự tăng trưởng doanh số cho vay của các ngànhkinh tế trong Tỉnh, doanh số cho vay ngành nông nghiệp tăng trở lại đạt 49,2% là do có

sự biến động về thời tiết chuyển đổi về mùa vụ, cây trồng và vật nuôi…Làm cho thu nhậpcủa người dân đối với ngành này tăng cao, vì vậy mà nhu cầu vốn để mở rộng sản xuấtcũng tăng theo Hơn nữa, đa số người dân sống ở nông thôn và thu nhập chính của họ chủyếu từ sản xuất nông nghiệp Do đó, tỷ trọng đầu tư tín dụng của ngành này cao là điềuhợp lý Đây là lĩnh vực kinh tế đòi hỏi nhu cầu đầu tư không lớn, lại có thể tạo ra tích lũyban đầu cho công cuộc phát triển kinh tế của Tỉnh Tuy nhiên, về lâu dài, Ngân hàng cần

có định hướng đúng đắn cho việc tăng mức đầu tư tín dụng đối với các ngành côngnghiệp- Tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến cũng như các ngành thươngmại dịch vụ khác

4.2.2 Doanh số thu nợ

Bên cạnh việc cho vay thì công tác thu hồi nợ được Ngân hàng quan tâm rất nhiều,làm sao để thu hồi nợ đúng hạn và đầy đủ vừa đảm bảo vốn hiện có vừa tăng số vòng vaycủa đồng vốn mà vẫn đem lại hiệu quả cho Ngân hàng Doanh số thu nợ cao hay thấp còntùy thuộc vào năng lực của cán bộ tín dụng trong việc đánh giá lựa chọn khách hàng, thờihạn cho vay, doanh số cho vay, tình hình sản xuất kinh doanh cũng như thiện chí trả nợcủa khách hàng

4.2.2.1 Doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế

Bảng 7: DOANH SỐ THU NỢ THEO THÀNH PHẦN KINHTẾ

Trang 17

Nguồn: Phòng nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh

Qua bảng 7 ta thấy doanh số thu nợ đối với các thành phần kinh tế tăng trưởng qua 3năm Doanh số thu nợ năm 2005 đạt 47.461 triệu đồng tăng 12.999 triệu đồng tức tănggần 38% so với năm 2004 Đến năm 2006 con số này lên đến 61.839 triệu đồng tăng14.378 triệu đồng ứng với tốc độ tăng 30%

Nhìn chung tình hình thu nợ đối với thành phần kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ,

do ngay trong khâu thẩm định, lựa chọn khách hàng được cán bộ tín dụng thực hiện tốt.Hơn nữa, trong thời gian qua chi nhánh đã phân loại khách hàng theo từng nhóm, có biệnpháp quản lý như thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng, cán

bộ tín dụng thường xuyên đôn đốc và động viên khách hàng trả gốc và lãi đúng hạn Mặtkhác, do doanh số cho vay tăng qua các năm dẫn đến doanh số thu nợ cũng tăng lên.Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn do kinh tế tăngtrưởng, cộng với những chính sách khuyến khích phát triển của Tỉnh nên việc sản xuấtkinh doanh của thành phần này có hiệu quả, vì vậy mà việc trả nợ được đúng hạn Tốc độthu nợ của đối tượng này tăng cao từ 17% năm 2005 lên đến 52% vào năm 2006 Nguyênnhân của sự tăng trưởng này do doanh số cho vay năm 2005 của thành phần này tăng làmcho thu nợ năm sau tăng lên

Đối với cá thể hộ gia đình: Do công tác thu nợ của chi nhánh tập trung vào hộ nôngdân-cá thể, thường xuyên kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, nhắc nhởkhách hàng trả lãi và nợ vay đúng hạn Đối với những khách hàng gia hạn nợ, nhữngkhách hàng bị đánh giá có tình hình tài chính yếu, kém hay kinh doanh thua lỗ tùy vàomức độ tài chính cũng như khả năng cải thiện tình trạng sản xuất của khách hàng màNgân hàng có thể lựa chọn, xem xét và đưa ra quyết định tiếp tục cho vay hay không

Trang 18

Điều này đã làm cho công tác thu hồi nợ qua 3 năm đạt kết quả khả quan, doanh số thu

nợ tăng qua các năm Năm 2005 doanh số thu nợ của đối tượng này tăng cao đạt 43% sovới năm 2004 Sang năm 2006 con số này chỉ đạt khoảng 26% là do năm 2005 chi nhánhgiảm cho vay đối với đối tượng này làm cho thu nợ năm 2006 giảm

Ngày đăng: 02/10/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4: Tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Hình 4 Tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL (Trang 7)
Bảng 7: DOANH SỐ THU NỢ THEO THÀNH PHẦN KINHTẾ - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 7 DOANH SỐ THU NỢ THEO THÀNH PHẦN KINHTẾ (Trang 16)
Bảng 8: DOANH SỐ THU NỢ THEO KỲ HẠN - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 8 DOANH SỐ THU NỢ THEO KỲ HẠN (Trang 19)
Bảng 9: DOANH SỐ THU NỢ THEO NGÀNH KINH TẾ - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 9 DOANH SỐ THU NỢ THEO NGÀNH KINH TẾ (Trang 20)
Bảng 10: DƯ NỢ CHO VAY THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 10 DƯ NỢ CHO VAY THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ (Trang 21)
Bảng 11: DƯ NỢ CHO VAY THEO KỲ HẠN - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 11 DƯ NỢ CHO VAY THEO KỲ HẠN (Trang 22)
Bảng 12: DƯ NỢ THEO NGÀNH KINH TẾ - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 12 DƯ NỢ THEO NGÀNH KINH TẾ (Trang 23)
Bảng 13: NỢ QUÁ HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 13 NỢ QUÁ HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ (Trang 25)
Hình 5: Tình hình nợ quá hạn theo kỳ hạn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh qua 3 năm 2004-2006. - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Hình 5 Tình hình nợ quá hạn theo kỳ hạn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh qua 3 năm 2004-2006 (Trang 28)
Hình 6: Tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế của Ngân hàng Phát triển - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Hình 6 Tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế của Ngân hàng Phát triển (Trang 30)
Bảng 16: CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐBSCL HUYỆN BÌNH MINH QUA 3 NĂM - PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HUYỆN BÌNH MINH
Bảng 16 CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐBSCL HUYỆN BÌNH MINH QUA 3 NĂM (Trang 32)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w