Các trợ cấp được thực hiện thông qua bốn kênh: 1 tài trợ nghiên cứu và phát triển cho nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ cao thông qua các chương trình của Bộ Đào tạo và Nghiên cứu
Trang 1KINH NGHIỆM CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NHẰM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC CỦA CÔNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Bước vào thế kỷ XXI trí thức trở thành nguồn lực quan trọng đối với phát triển của một quốc gia Thành công của những nước công nghiệp phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức trong cạnh tranh quốc tế được đo bởi tốc độ chuyển tải kiến thức thành sản phẩm và quy trình mới Hợp tác có hiệu quả giữa các đối tác đại diện cho khu vực nghiên cứu và sản xuất sẽ trở thành yếu tố quyết định đến quá trình đổi mới Trong phân tích gần đây, OECD đã nhấn mạnh sự thành công khác nhau về kinh tế và công nghệ của một quốc gia trong những thập kỷ qua phụ thuộc vào mối quan hệ giữa khu vực nghiên cứu tư nhân và Nhà nước với phát triển kinh tế"
Từ khi thành lập, Chính phủ Liên bang đã thường xuyên xác định lại các điều kiện khung cho phát triển hệ thống nghiên cứu và phát triển Chính phủ Liên bang đã tăng một cách đáng kể đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu, xây dựng
hệ thống tổ chức đào tạo và nghiên cứu đóng vai trò là những đối tác đối với hệ thống kinh tế và hỗ trợ các chương trình nghiên cứu Đặc biệt, Chính phủ Liên bang gần đây đã xây dựng Chương trình khung cho phát triển hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển trong đó nhấn mạnh sự cần thiết và quan trọng của việc khai thác một cách có hiệu quả các kết quả nghiên cứu được tạo ra từ các tổ chức nghiên cứu và phát triển
1 Định hướng chiến lược quốc gia về nghiên cứu và phát triển
Chính phủ Liên bang tiến hành nhiều hoạt động trong chính sách nghiên cứu và đổi mới và có thể được xem là cơ quan nhà nước chính trong hệ thống đổi mới của Đức
Sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực nghiên cứu và đổi mới của Đức dựa trên ba cơ sở:
Thứ nhất, các phát hiện khoa học đóng góp cho sự thịnh vượng và nghiên
cứu cơ bản, yêu cầu Nhà nước tài trợ bởi tính không chắc chắn cao và nhu cầu
tự do trong nghiên cứu để khám phá những điều mới mẻ
Thứ hai, những yếu tố bên ngoài và các kiểu thất bại thị trường khác
khiến cho tư nhân không đầu tư đủ cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới đòi hỏi
Trang 2sự bao cấp của Nhà nước và một khung pháp lý đầy đủ để tăng đầu tư tư nhân lên mức cần thiết để khai thác đầy đủ những lợi ích xã hội của nghiên cứu và phát triển
Thứ ba, sức cạnh tranh quốc tế của Đức phụ thuộc rất nhiều vào phát triển
và phổ biến nhanh các công nghệ mới
Những mục tiêu chính trong chính sách đổi mới của Đức bao gồm:
- Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong khu vực doanh nghiệp và công cộng Phấn đấu vào năm 2010, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đạt mức 3% GDP
- Tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển và đổi mới
- Phát triển các công nghệ mới và tạo điều kiện phổ biến các công nghệ đó vào nền kinh tế xã hội Hiện tại, đặc biệt tập trung vào các lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ pin nhiên liệu, công nghệ y tế và sức khỏe, công nghệ vi hệ thống, công nghệ hàng không và vũ trụ, công nghệ môi trường, công nghệ năng lượng
- Kích thích tạo ra các doanh nghiệp mới dựa trên công nghệ và tăng trưởng của các công ty non trẻ
- Tăng cường sử dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thu được
ở các viện nghiên cứu công, bao gồm cả đẩy mạnh hợp tác giữa các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu hàn lâm
- Nâng cao đào tạo để đáp ứng được những thay đổi và đòi hỏi ngày càng cao đối với nhân lực trình độ cao
Để theo đuổi những mục tiêu của chính sách đổi mới trên, Chính phủ Liên bang thực hiện ba hướng chính sách chính:
+ Nâng cao các điều kiện khung cho đổi mới, nổi bật là đơn giản hóa hệ thống thuế và giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp và giảm các thủ tục quan liêu có thể làm phương hại đến đổi mới và các doanh nghiệp mới thành lập
+ Cải thiện hệ thống khoa học và đào tạo để khắc phục thiếu hụt trong việc cung cấp lao động chất lượng cao, kể cả các thị trường dạy nghề và đào tạo thực hành và cung cấp cơ sở nghiên cứu công cộng cho các dự án đổi mới
Trang 3+ Thúc đẩy hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp thông qua hỗ trợ tài chính Các trợ cấp được thực hiện thông qua bốn kênh: (1) tài trợ nghiên cứu và phát triển cho nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ cao (thông qua các chương trình của Bộ Đào tạo và Nghiên cứu và các bộ khác); (2) tài trợ nghiên cứu và phát triển cho nghiên cứu hợp tác của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (thông qua các chương trình của Bộ Kinh tế và Công nghệ); (3) hỗ trợ tài chính cho các dự án đổi mới trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ định hướng công nghệ thông qua các khoản vay hay đầu tư mạo hiểm; (4) dịch vụ tư vấn công nghệ và cung cấp hạ tầng thông tin cho khoa học công nghệ cho các doanh nghiệp đổi mới
Liên quan đến những thay đổi trong chính sách của Đức, cuối năm 2005, Chính phủ mới thành lập của Đức tuyên bố chi bổ sung 6 tỷ Euro cho nghiên cứu và phát triển đến năm 2009 Những thay đổi đáng kể trong các biện pháp chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới của Đức những năm qua gồm có:
- "Sáng kiến xuất sắc”: chương trình mới này nhằm thúc đẩy sự xuất sắc
và nghiên cứu hàn lâm hàng đầu ở các trường đại học Chương trình cung cấp cho các trường đại học 1,9 tỷ Euro đến năm 2011, 75% tổng số này do Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang cấp, phần còn lại do các cơ sở ở địa phương chịu trách nhiệm Chương trình này hỗ trợ ba loại hình hoạt động: (1) thành lập các cụm xuất sắc ở trường đại học; (2) nghiên cứu sau đại học; và (3) đẩy mạnh nghiên cứu quốc tế hàng đầu trong một số lĩnh vực nhất định ở cấp trường đại học
- Thỏa thuận về nghiên cứu và đổi mới xem xét việc tăng đầu tư thể chế cho các cơ quan nghiên cứu công ngoài đại học nhận tài chính từ Chính phủ Liên bang (Hội Max Planck, Hội Frauenhofe, các Trung tâm Helmholtz Centres, Hiệp hội Leibniz) ở mức 3% hàng năm cho tới năm 2010 Mục đích của thỏa thuận này nhằm tạo ra sự ổn định trong kế hoạch của các tổ chức này và kết hợp với các cải cách thể chế nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng
Trang 42 Chính sách đào tạo bồi dưỡng đội ngũ trí thức
2.1 Đào tạo những khoá chuyên ngành về đăng ký và khai thác patăng 1
Để giúp các tổ chức quản lý và khai thác sáng chế hoạt động có hiệu quả
họ phải dựa vào những đối tác làm việc tại tổ chức nghiên cứu có quan tâm đến việc khai thác sáng chế của mình cũng như những nhân viên có kinh nghiệm trong sản xuất Những kiến thức và kỹ năng của cán bộ nghiên cứu thường có được thông qua "việc học qua công việc" (learning by doing), và họ lại thường thiếu kiến thức về patăng Cho đến nay những biện pháp hỗ trợ các giảng viên ở trường đại học mới chỉ dừng lại ở từng trường hợp cụ thể; những khoá đào tạo hiện nay chưa được sử dụng rộng rãi Bộ Nghiên cứu và Đào tạo Liên bang sẽ
hỗ trợ những biện pháp đào tạo ở mức chung hơn, bao gồm từ hoạt động đào tạo các cán bộ nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu và phát triển có được những kiến thức cơ bản liên quan đến nhận biết tiềm năng của sáng chế do mình tạo ra và đăng ký sáng chế dưới dạng patăng, đến đào tạo những nhà tư vấn về patăng ở các tổ chức nghiên cứu, và đào tạo những người chuyên khai thác các patăng bao gồm cả khoá đào tạo sau đại học về quản lý đổi mới Những nhà đăng ký patăng sẽ thu nhận được thông tin cần thiết và ngày càng có nhiều cán bộ nghiên cứu có kiến thức chuyên sâu về patăng Những chuyên gia đăng ký và khai thác patăng sẽ hợp tác chặt chẽ với nhau
2.2 Nâng cấp các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ thu hút các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm
Nhiều viện nghiên cứu coi việc hình thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ làm mất đi những nhân lực có trình độ và ảnh hưởng đến khả năng thu hút nguồn tài trợ nghiên cứu từ bên ngoài Do vậy, những viện này thường
có quan niệm không tích cực đối với việc thành lập doanh nghiệp thừa kế khoa học từ các viện nghiên cứu Nhằm tạo nên những khuyến khích đối với các viện trong việc hỗ trợ thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ này phải trở thành kênh chuyển giao công nghệ cho các viện mẹ Do đó, cần có những chương trình khuyến khích khác nhau Sự hấp dẫn của doanh nghiệp khoa học và công nghệ con đối với các cán bộ nghiên cứu của viện mẹ sẽ được đảm bảo thông qua việc cải thiện hợp tác giữa các viện nghiên cứu với công ty đầu tư mạo hiểm Chính phủ Đức hỗ trợ những mô hình tăng cường hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân Ví dụ một số tổ chức tài
Trang 5trợ của nhà nước như Hiệp hội Hỗ trợ Công nghệ và Quỹ tín dụng cho việc tái thành lập đã lôi kéo sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc cung cấp những
hỗ trợ tài chính cho thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ Bộ Đào tạo
và Nghiên cứu Liên bang sẽ xây dựng những hướng dẫn về hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu và các công ty đầu tư mạo hiểm tư nhân
2.3 Tăng cường văn hóa học hỏi về phát triển năng lực
Mặc dù nhiều doanh nghiệp nhận biết sự cần thiết học suốt đời còn nhiều biện pháp cụ thể cân được tiến Thành Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang đã triển khai Chương trình "Văn hóa học hỏi về phát triển năng lực" Chương trình được thực hiện với kinh phí 35 triệu DM hàng năm nhằm cung cấp khung phát triển văn hóa học hỏi ở doanh nghiệp và tăng cường năng lực của bản thân từng thành viên trong công ty Chương trình này được hỗ trợ với một Chương trình mang tên "Những yêu cầu mới về kỹ năng công nghiệp" hỗ trợ xây dựng năng lực thực hành trong quá trình làm việc ( L)
2.4 Tiếp tục các khoá đào tạo cho doanh nghiệp ở trường đại học
Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang thực hiện Chương trình "Khuyến khích đổi mới ở khu vực sản xuất thông qua việc cung cấp các thông tin khoa học và kỹ thuật" Chương trình này cung cấp các khuyến khích về tài chính cho các viện nghiên cứu ở trường đại học tổ chức các khoá đào tạo về quản lý đổi mới
2.5 Cập nhật các kết quả nghiên cứu mới nhất vào trong nội dung chương trình đào tạo ở trường đại học
Trong một số lĩnh vực nghiên cứu nhiều kết quả nghiên cứu mới nhất chưa được đưa vào chương trình đào tạo Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang đang triển khai thực hiện Chương trình hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo giữa
tổ chức đào tạo, trung tâm nghiên cứu và khu vực sản xuất Trong hoạt động hợp tác này các trung tâm nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia xây dựng cùng với
tổ chức đào tạo những khoá đào tạo phục vụ hoạt động đổi mới
3 Chính sách thu hút chất xám, trí thức tài năng
3.1 Cải cách những đặc quyền của các giảng viên ở trường đại học
Hiện nay đặc quyền của giảng viên tại các trường đại học được quy định tại Điều 42 của Luật về các sáng chế của những người lao động đã đi ngược lại
xu hướng khuyến khích việc khai thác các kết quả nghiên cứu và đăng ký bằng
Trang 6sáng chế phát minh ở các tổ chức nghiên cứu ở trường đại học Đặc quyền đối với giảng viên ở trường đại học cho phép các giáo sư với tư cách là những nhà sáng chế độc lập quyền có đăng ký bằng sáng chế phát minh hoặc khai thác kết quả nghiên cứu Kết quả là nhiều tổ chức nghiên cứu ở trường đại học đã không thu được lợi ích gì từ việc khai thác và nhiều sáng chế do các giáo sư phát minh
đã không được đăng ký dưới dạng bằng sáng chế phát minh Do vậy, tiềm năng đổi mới đã không được thực hiện ở các tổ chức Nghiên cứu trong trường đại học Chính quyền Liên Đang hiện đang chuẩn bị cải tổ quy định về đặc quyền của giảng viên ở trường đại học, theo đó các tổ chức nghiên cứu của trường đại học có quyền sử dụng các sáng chế do cán bộ nghiên cứu tạo nên và tiến hành thủ tục đăng ký bằng sáng chế phát minh Các giảng viên trường đại học có quyền nhận 30% lợi nhuận thu được từ việc khai thác sáng chế của mình Ngoài
ra những nhà sáng chế được hỗ trợ một phần đầu tư nếu muốn khai thác các sáng chế của mình
Những cải cách về đặc quyền của các giảng viên đại học và việc hình thành tổ chức quản lý và khai thác sáng chế đã hỗ trợ lẫn nhau trong việc khuyến khích các nhà khoa học đăng ký sáng chế của mình dưới dạng bằng sáng chế phát minh và từ đó có khả năng thương mại hóa các sáng chế đó Điều này cũng đóng góp vào việc nâng cao năng lực của các tổ chức quản lý và khai thác sáng chế trong việc tạo nên những giá trị kinh tế
3.2 Hỗ trợ các nhà khoa học muốn thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Sự phát triển nhanh chóng thị trường vốn đầu tư mạo hiếm ở Đức đã cải thiện một cách đáng kể khả năng thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ Bộ Kinh tế và Công nghệ đã thành lập Chương trình Vốn đầu tư trực tiếp cho việc hình thành doanh nghiệp dựa trên công nghệ Chương trình này đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đầu tư ở giai đoạn ban đầu Tuy nhiên, trong những giai đoạn ban đầu trước khi doanh nghiệp được thành lập khi những
ý tưởng khởi nghiệp đang được xem xét và kế hoạch kinh doanh được xây dựng, những nguồn vốn mang tính hỗ trợ ban đầu (seed capital) hiện nay vẫn chưa có
ở Đức Ở giai đoạn này thường thiếu các tư vấn và hỗ trợ tài chính Trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện Chương trình thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp của Bộ Kinh tế và Công nghệ được xem là biện pháp hỗ trợ các nhà khoa học có tinh thần kinh thương từ trường đại học và viện nghiên cứu thành lập doanh nghiệp Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang đang chuẩn bị chương trình
Trang 7hỗ trợ tài chính mới nhằm hỗ trợ tài chính và tư vấn cho các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực công nghệ ngay ở giai đoạn ban đầu của việc thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ đến giai đoạn xây dựng kế hoạch kinh doanh Chương trình này hỗ trợ cho tất cả các tổ chức nghiên cứu ở trường đại học
3.3 Hỗ trợ hình thành văn hóa kinh thương ở Đức
Trong những lớp người trẻ ở Đức ngày càng có nhiều người muốn trở thành những nhà khoa học có tinh thần kinh thường Tuy nhiên, việc thành lập các doanh nghiệp khoa học và công nghệ để thoả mãn nhu cầu thay đổi cấu trúc nền kinh tế và tạo việc làm vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Cung cấp các hoạt động đào tạo cho các nhà khoa học có tinh thần kinh thương là một nhiệm vụ cơ bản của các tổ chức đào tạo Bộ Kinh tế và Công nghệ thành lập Hiệp hội các nhà khoa học có tinh thần kinh thương bao gồm 18 tổ chức nghiên cứu ở trường đại học phối hợp với Ngân hàng Phát triển Đức và các đối tác ở khu vực sản xuất
Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang hiện đang xây dựng các chương trình đào tạo cung cấp đào tạo từ xa cho các nhà khoa học có tinh thần kinh thương kiến thức về quản lý các doanh nghiệp khoa học và công nghệ sau khi thành lập
4 Tạo cơ chế, môi trường hoạt động
4.1 Tạo nên cơ sở hạ tầng khai thác và sử dụng các patăng
Việc khai thác kinh tế đối với các kết quả nghiên cứu ở Đức đòi hỏi xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng khai thác và sử dụng patăng có hiệu quả Đức hiện có nhiều tổ chức quản lý patăng đặc biệt ở các viện nghiên cứu không thuộc trường đại học Tuy nhiên ở nhiều trường đại học và một số viện nghiên cứu nhỏ, việc khai thác kết quả nghiên cứu thường được xem là nhiệm vụ và trách nhiệm của các tổ chức chuyển giao Những tổ chức này do tính đa dạng trong công việc của mình đã không có khả năng thực hiện và giám sát các hoạt động khai thác đó Ngoài ra nhiều tổ chức nghiên cứu ở trường đại học không có khả năng phát triển hoạt động khai thác đến một số lượng nhất định để có thể thuyết phục hình thành một tổ chức chuyên trách về khai thác và quản lý patăng tại trường
Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang hỗ trợ việc thành lập cơ sở hạ tầng khai thác và quản lý patăng trong toàn quốc Tổ chức chuyên trách này sẽ cung cấp các tư vấn cho các tổ chức nghiên cứu của các trường đại học trong từng
Trang 8khu vực, nếu cần thiết cho cả những tổ chức nghiên cứu không thuộc trường đại học trong khu vực Thông qua các quan hệ chặt trẽ với các nhà nghiên cứu khoa học, Tổ chức chuyên trách này sẽ phát hiện sớm các kết quả nghiên cứu có nhu cầu đăng ký patăng Mục tiêu là cung cấp cho các nhà nghiên cứu ở Đức các mối quan hệ chuyên môn cần thiết cho việc khai thác kết quả nghiên cứu và quản lý patăng
Những tổ chức này sẽ được tổ chức và hoạt động theo Luật Tư nhân Điều này sẽ giúp cung cấp cho các - tổ chức này sự linh hoạt cần thiết hơn là những tổ chức quản lý patăng hiện nay ở các trường đại học Những tổchức này sẽ hoạt động theo nguyên tắc hạch toán dựa trên hoạt động của mình Các tổ chức này được đánh giá thành công nếu lôi kéo được nhiều tổ chức sản xuất tham gia khai thác kết quả nghiên cứu
4.2 Tạo nên mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm trong đăng ký và khai thác
patăng
Môi trường khai thác patăng ở Đức hiện nay vẫn được xem là manh mún
và chưa thành hệ thống Có quá ít những hoạt động trao đổi thông tin, kinh nghiệm thành công giữa những người khai thác sáng chế và các tổ chức nghiên cứu ở trường đại học Cho đến nay chưa có nhiều tổ chức chuyên trách về quản
lý và khai thác patăng hoạt động thành công ở các nước trên thế giới Những hình thức trao đổi thông tin và hợp tác cần được hình thành nhằm giúp những người quan tâm đến việc đăng ký và khai thác patăng có thể trao đổi kinh nghiệm và cộng tác viên Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang sẽ hỗ trợ việc hình thành mạng lưới các tổ chức đăng ký và khai thác patăng
4.3 Tạo lập môi trường hỗ trợ thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp
Ngoài ra, Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang sẽ xây dựng một số biện pháp hỗ trợ cộng đồng các nhà khoa học thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó đối tượng nhận hỗ trợ bao gồm các phòng thí nghiệm trọng điểm mà ở
đó sinh viên và các nhà khoa học trẻtuổi đang làm việc Ngoài ra một số hiệp hội được thành lập như Hiệp hội những nhà sáng lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ giúp đỡ nhau Một hoạt động đầu tiên của Hiệp hội là trao giải thưởng cho những tổ chức có thành tích thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở các viện nghiên cứu không thuộc trường đại học do Bộ Đào tạo và Nghiên cứu phối hợp với Quỹ Karl-Heinz-Beckurt tổ chức
Trang 94.4 Hỗ trợ đổi mới một cách có hiệu quả
Nhằm ứng dụng một cách nhanh chóng các kết quả nghiên cứu mới nhất
để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thể tiêu thụ trên thị trường, cần tiến hành hợp tác nghiên cứu một cách có hiệu quả với tổ chức nghiên cứu của Nhà nước Đồng thời những tổ chức nghiên cứu thường hợp tác với doanh nghiệp vừa và nhỏ cần sẵn sàng trong nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế về cung cấp dịch vụ nghiên cứu và triển khai Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khoa học và sản xuất, Bộ Kinh tế và Công nghệ đã thực hiện Chương trình đánh giá mang tính hệ thống sự liên kết với sản xuất
4.5 Lôi kéo các trường đại học nào giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trường đại học là những đối tác ban đầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ do những định hướng của trường Trường yêu cầu các giảng viên cần có quan hệhợp tác chặt chẽ với khu vực sản xuất thông qua việc cử sinh viên thực hiện các luận văn của mình gắn với những vấn đề thời sự của doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay đang có một số hạn chế về hợp tác do thiếu nguồn lực tài chính
và nhân lực cũng như cơ sở vật chất dành cho mục đích nghiên cứu Chương trình Hỗ trợ mang tên "nghiên cứu và triển khai hướng tới ứng dụng ở trường đại học" đã cho thấy tính hiệu quả Năm 2001, Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang cung cấp 5 triệu DM cho việc thực hiện Chương trình này
5 Khuyến khích, đãi ngộ, vinh danh trí thức
5.1 Hỗ trợ trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu
Những kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất sẽ được bảo vệ theo luật pháp Bộ Đào tạo và Nghiên cứu Liên bang hỗ trợ một phần kinh phí cho các tổ chức nghiên cứu ở trường đại học khi các tổ chức này tiến hành đăng ký patăng Ngoài ra bản thân các tổ chức nghiên cứu cũng có những biện pháp riêng để khuyến khích các nhà khoa học làm trong tổ chức mình đăng
ký các sáng chế dưới dạng patăng
Hoạt động đăng ký sáng chế dưới dạng patăng đòi hỏi sự kiên nhẫn và hỗ trợ về tài chính Do vậy, những tổ chức nghiên cứu nhỏ của trường đại học nhận được sự hỗ trợ để giúp họ có thể trở thành những tác nhân quan trọng trong hoạt động đáng lý và khai thác patăng
Trang 105.2 Khuyến khích các hình thức hợp tác giữa trường đại học và khu vực sản xuất để tiến hành các nghiên cứu lâu dài
Hợp tác nghiên cứu giữa trường đại học và khu vực sản xuất vẫn còn bị giới hạn ở những nghiên cứu ngắn hạn Năng lực của các trường đại học trong việc tiến hành các nghiên cứu mang tính ứng dụng vẫn chưa được khu vực sản xuất khai thác một cách có hiệu quả Đầu tiên cần tiến hành thuyết phục doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho các nghiên cứu lâu dài thông qua việc tham gia vào xác định các nội dung nghiên cứu và ưu tiên cho khu vực sản xuất trong việc khai thác các kết quả nghiên cứu gắn với ứng dụng Một số hình thức hiện nay
về hợp tác này đã có trong lĩnh vực nghiên cứu gen, Dự án gen con người, Dự
án Phân tích gen trong hệ thống sinh học của các loài cây thực vật Chính phủ Đức hiện đang tiếp tục phát hiện những ví dụ tương tự trong một số lĩnh vực khác
5.3 Khen thưởng đối với những nỗ lực chuyển giao kết quả nghiên cứu
- Ở cấp tổ chức nghiên cứu và cá nhân nhà khoa học những cam kết chuyển giao kết quả nghiên cứu cần được khích lệ Chính quyền Liên bang đang chuẩn bị chương trình cải cách trong khu vực các trường đại học Một phần quan trọng của Chương trình cải cách này liên quan đến cải cách cơ cấu lương đối ở các tổ chức đào tạo Theo cải cách này lương của giáo sư sẽ bao gồm lương cơ bản và phần lương bổ sung Phần lương bổ sung này sẽ phụ thuộc vào hoạt động của giáo sư liên quan đến chuyển giao kiến thức và công nghệ - ngoài hoạt động truyền thống là giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo đối với đội ngũ nhà khoa học trẻ
Ngoài ra còn có một số biện pháp khác khích lệ hoạt động chuyển giao Nhiều tổ chức nghiên cứu thiết lập hệ thống khuyến khích chuyển giao thành công kết quả nghiên cứu bằng khoản thưởng Mô hình chia sẻ quyền lợi giữa nhà sáng chế, viện nghiên cứu và trường đại học đã được nhiều viện nghiên cứu
áp dụng Chính quyền Liên bang đang thực hiện việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu theo tiêu chí cải tổ lại hệ thống tổ chức để khuyến khích hoạt động chuyển giao kết quả nghiên cứu
6 Yêu cầu cao đối với trí thức
Với quy định mới về các dự án nghiên cứu nhận tài trợ của Chính phủ Liên bang, việc xây dựng kế hoạch khai thác và ứng dụng kết quả nghiên cứu là điều bắt buộc để có thể nhận được tài trợ Quy định bắt buộc các tổ chức nhận