1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

164 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ, các yếu tố tác động và tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 53 Chương 3: QUY ĐỊNH CỦA PH

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀI NAM

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ

ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI-năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀI NAM

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ

ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 9 38 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Cao Thị Oanh

HÀ NỘI-năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu và tư liệu trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 18

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn

đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong luận án

21

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH

QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

24

2.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn

xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

24

2.2 Những vấn đề lý luận về kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện

kiểm sát nhân dân cấp cao

44

2.3 Mối quan hệ, các yếu tố tác động và tiêu chí đánh giá chất lượng

thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện

kiểm sát nhân dân cấp cao

53

Chương 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ

ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO Ở

NƯỚC TA HIỆN NAY

63

3.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta

hiện nay

63

3.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình

sự của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay

84

Chương 4: YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC

GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

114

4.1 Yêu cầu đặt ra cho thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ

án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao

114

4.2 Quan điểm định hướng đảm bảo chất lượng thực hành quyền công

tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân

cấp cao

120

4.3 Các giải pháp đảm bảo chất lượng thực hành quyền công tố và

kiểm sát xét xử vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân cấp cao

121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 147

Trang 6

Phụ lục 3 Thống kê kết quả giải quyết đơn đề nghị kháng nghị GĐT, TT

hình sự của các VKSND cấp cao từ ngày 01/6/2015 đến 30/11/2018

Phụ lục 4 Thống kê kết quả THQCT và KSXX GĐT, TT án hình sự của các

VKSND cấp cao từ ngày 01/6/2015 đến 30/11/2018

Phụ lục 5 Thống kê kết quả THQCT và KSXX PT án hình sự của các Viện

phúc thẩm VKSND tối cao từ ngày 01/12/2008 đến 31/5/2015

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kết quả của các công trình nghiên cứu cho thấy, cùng với sự phát triển của

xã hội loài người, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội ngày càng phải chính xác, công bằng hơn, nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn các lợi ích chung của xã hội, đồng thời đảm bảo các quyền và tự do cơ bản của công dân Xuất phát từ yêu cầu khách quan của xã hội, hoạt động xét xử, một hoạt động tố tụng rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự dần phát triển các cơ chế phù hợp để tăng cường tính chính xác, công bằng Để hạn chế sai sót, có thể kiểm soát và đánh giá lại bản án, quyết định của TA cấp dưới, cơ chế TA cấp trên xét xử lại vụ án có bản án, quyết định chưa có hiệu lực (xét xử PT), hoặc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (GĐT, TT) dần dần xuất hiện và ngày nay mang tính phổ biến trên toàn thế giới Trong quá trình đó, đồng hành với hoạt động xét xử của TA luôn luôn là hoạt động THQCT của cơ quan công

tố và cả hoạt động KSXX ở một số nước Như vậy có thể nói xét xử PT, GĐT,

TT cũng như THQCT và KSXX PT, GĐT, TT tồn tại như một nhu cầu tất yếu ở mọi nền tư pháp, là một giai đoạn tố tụng quan trọng nhằm đảm bảo việc xét xử

vụ án hình sự được chính xác, công bằng

Tuy mục tiêu cho hoạt động THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình

sự là giống nhau, nhưng các nước ở từng giai đoạn lịch sử có cách thức tổ chức thực hiện khác nhau Đối với nước ta, để khắc phục các bất cập, hạn chế, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp, cần đổi mới tổ chức hoạt động của cơ quan tư pháp, trong đó có việc tổ chức ra VKSND cấp cao VKSND cấp cao là một cấp kiểm sát mới trong hệ thống VKSND 4 cấp, có nhiệm vụ THQCT và KSXX theo thủ tục PT đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TA cấp tỉnh; THQCT và KSXX theo thủ tục GĐT, TT đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TA cấp tỉnh, cấp huyện Đây là một lựa chọn hợp lý nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của cả hệ thống VKS nói chung, hoạt động THQCT

và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự nói riêng

Trang 8

Sau khi được thành lập, mặc dù phải thụ lý giải quyết khối lượng công việc rất lớn, nhưng trong hơn 3 năm qua các Viện cấp cao cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ THQCT và KSXX án hình sự theo các thủ tục PT, GĐT, TT Tuy vậy

mô hình VKSND cấp cao còn hết sức mới mẻ ở nước ta Các quy định của pháp luật đảm bảo cho hoạt động của VKSND cấp cao nói chung, hoạt động THQCT

và KSXX vụ án hình sự nói riêng vẫn còn chưa đầy đủ và có những điểm chưa phù hợp gây khó khăn cho hoạt động THQCT và KSXX án hình sự của VKSND cấp cao Cùng với đó, điều kiện hoạt động của các VKSND cấp cao còn rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, lực lượng cán bộ, lề lối làm việc Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSXX vụ án hình sự của VKSND cấp cao cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, việc nghiên cứu làm

rõ những vấn đề lý luận, tổng kết rút kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động, từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSXX vụ

án hình sự của VKSND cấp cao là rất cần thiết Vì những lý do như trên, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề “Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình

sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

* Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về THQCT và KSXX vụ án hình sự, thực trạng quy định, áp dụng pháp luật về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác này tại VKSND cấp cao

* Để đạt mục đích đề ra, quá trình nghiên cứu Đề tài phải giải quyết một số nhiệm vụ như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử theo thủ tục PT, GĐT, TT của VKSND cấp cao;

- Khảo sát thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về THQCT và KSXX vụ án hình sự của VKSND cấp cao ở nước ta hiện nay, đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân;

Trang 9

- Làm rõ yêu cầu, định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THQCT và KSXX vụ án hình sự tại VKSND cấp cao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

* Đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn THQCT và KSXX vụ án hình sự của VKSND cấp cao

* Phạm vi nghiên cứu của luận án: Đề tài được thực hiện trong phạm vi của khoa học Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự; sử dụng số liệu thống kê về hoạt động THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự của 03 VKSND cấp cao

và các bộ phận thuộc hệ thống cơ quan VKSND trước đây đã thực hiện nhiệm vụ tương ứng trong thời gian 10 năm gần đây

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

* Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời dựa trên

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng, Nhà nước

ta về cải cách tư pháp trong những năm qua

* Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống, nghiên cứu luật so sánh, tập trung nhất ở Chương 2 để làm rõ những vấn đề lý luận về THQCT và KSXX nói chung, THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của VKSND cấp cao nói riêng;

Phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích so sánh, tọa đàm khoa học, phỏng vấn trực tiếp chuyên gia, sử dụng số liệu thống kê của ngành kiểm sát nhằm tìm hiểu về luật thực định về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của VKSND cấp cao cũng như đánh giá thực tiễn THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của VKSND cấp cao trong những năm qua, so sánh với giai đoạn trước đây được

sử dụng tập trung ở Chương 3;

Phương pháp tổng hợp, phân tích-dự báo nhằm dự báo xu hướng và nhu cầu cần thiết về nâng cao chất lượng THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của VKSND cấp cao các biện pháp cần thực hiện trong thời gian tới tập trung ở

Trang 10

Chương 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Cùng với việc kế thừa những kết quả nghiên cứu về THQCT và KSXX đã

có, Luận án đóng góp mới về khoa học như sau:

- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, như: Chủ thể, đối

tượng, nội dung, phạm vi của THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự

- Tiếp tục khảo sát và nghiên cứu toàn diện, tổng kết thực tiễn dưới góc độ khoa học hoạt động xây dựng pháp luật cũng như áp dụng các quy định của pháp luật về THQCT và KSXX vụ án hình sự của các VKSND cấp cao; phát hiện, đánh giá đúng những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của nó

- Lảm rõ các yêu cầu mới đặt ra cho hoạt động THQCT và KSXX vụ án hình sự của các VKSND cấp cao trong giai đoạn hiện nay; đề xuất, kiến nghị phù hợp để nâng cao chất lượng hoạt động này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Đây là công trình khoa học nghiên cứu về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT

vụ án hình sự tại các VKSND cấp cao ở Việt Nam Với những phương pháp nghiên cứu khoa học, Luận án đã đi sâu phân tích, luận giải những vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về THQCT

và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự tại các VKSND cấp cao; đánh giá thực tiễn quy định pháp luật, áp dụng quy định pháp luật về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự tại các VKSND cấp cao trong những năm qua; đề xuất

đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như để đảm bảo hiệu quả các quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng về THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự tại các VKSND cấp cao trong thời gian tới

Các kết quả nghiên cứu của Luận án có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu về THQCT và KSXX vụ án hình sự Luận án còn có giá trị tham khảo hữu ích trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập, cũng như trong thực tiễn THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự tại các VKSND cấp cao

Trang 11

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, Luận án gồm có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

Chương 3: Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước

ta hiện nay

Chương 4: Yêu cầu, quan điểm định hướng và các giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đến nay trong nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài Luận án ở nhiều góc độ khác nhau, có thể phân chia thành một số nhóm như sau:

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử

THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự của VKSND cấp cao là một dạng hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, do vậy nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về QCT, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp là

cơ sở để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về THQCT và KSXX PT, GĐT,

TT Liên quan đến những vấn đề lý luận chung về QCT, THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp có thể kể đến một số công trình sau đây:

* Liên quan đến QCT, THQCT:

Trong nhóm liên quan đến QCT, THQCT đáng chú ý có các công trình như Luận án tiến sỹ luật học “QCT ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa (Viện nhà nước và pháp luật 2002), sách chuyên khảo “THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của tác giả Lê Hữu Thể (Nxb Tư pháp, 2005), Luận án tiến sỹ luật học “THQCT trong TTHS từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” của tác giả Tôn Thiện Phương (Học viện khoa học xã hội năm 2017) Các công trình đã nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc những vấn đề lý luận về nguồn gốc, khái niệm, phạm vi, nội dung QCT, THQCT Các giả cũng đã rất cố gắng phân biệt làm rõ các khái niệm QCT và THQCT, mối quan hệ giữa QCT và THQCT – một mối quan hệ biện chứng giữa quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực ấy; mối quan hệ giữa THQCT và KSXX là 2 chức năng của VKS, tuy độc lập nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kết quả nghiên cứu cũng làm rõ nội dung THQCT trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó có

Trang 13

giai đoạn xét xử Các công trình đã cung cấp kiến thức nền tảng cơ bản, có giá trị tham khảo rất tốt khi nghiên cứu về đề tài Luận án

Ngoài ra, góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về QCT có khá nhiều bài viết nêu lên những quan niệm khác nhau về QCT, thực tiễn THQCT ở nước ta hiện nay như: bài viết "Cơ quan THQCT trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay" của TS Đỗ Văn Đương in trên Tạp chí Nghiên cứ lập pháp số 07/ 2006;

“QCT và tổ chức thực hiện QCT trong nhà nước pháp quyền” của TS Nguyễn Minh Đức in trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1, 2/ 2012; “VKS với hai chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp và sự lựa chọn thích hợp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Quảng trên Tạp chí Kiểm sát số 13/2012; “Công tố và THQCT trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần Đình Nhã trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21/2014;

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây còn có nhiều công trình nghiên cứu

về QCT, THQCT ở những góc độ khác, như Luận án tiến sỹ luật học “Các chức năng trong TTHS Việt Nam: những vần đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện khoa học xã hội năm 2012) Trong luận án của mình tác giả nhìn nhận buộc tội (công tố) cùng với bào chữa, xét xử được xác định là 3 chức năng cơ bản của TTHS Các chức năng này có vị trí, vai trò, bản chất, đặc trưng khác nhau, có sự độc lập với nhau, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau, đảm bảo sự vận hành của TTHS Theo tác giả dù dưới hình thức tố tụng nào (tố cáo, thẩm vấn, tranh tụng, ) thì ba chức năng này vẫn luôn xuất hiện và tồn tại, chúng chỉ khác trong cách thể hiện mà thôi Những kết quả nghiên cứu trên mang đến những nhìn nhận đầy đủ, toàn diện hơn về QCT, khi đặt QCT trong mối tương tác với các chức năng tố tụng khác

Tương tự như vậy, gần đây nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu THQCT theo những cách thức mới, không chỉ là những hoạt động độc lập, mà cách thức THQCT, địa vị pháp lý của KSV nói riêng được đặt trong trong mối liên hệ với cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự nói chung, trong mối quan hệ với

Trang 14

các chủ thể khác trong quá trình tố tụng , như Luận án tiến sỹ luật học “Mô hình TTHS Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng” của tác giả Nguyễn Thị Thủy (2014) Trong luận án của mình tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS; những tiêu chí khoa học về phân loại các mô hình TTHS; làm rõ lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm, ưu thế, hạn chế của các mô hình TTHS điển hình trên thế giới và xu thế phát triển chung của các mô hình TTHS Kết quả nghiên cứu cho thấy chức năng công tố ở các mô hình tố tụng vận hành theo những cách thức khác nhau, phù hợp với mô hình tố tụng; ở chiều ngược lại, chức năng công tố là một thành tố của mô hình tố tụng, cách thức vận hành của nó cũng tác động đến cách thức hoạt động của các thành tố khác trong mô hình tố tụng đó

Các vấn đề trên còn được nhiều tác giả khác quan tâm, thông qua các nghiên cứu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng trong các mô hình khác nhau, trong đó có việc thực hiện chức năng buộc tội, thực tiễn ở nước ta hiện nay và các đề xuất hoàn thiện như: tác giả Nguyễn Trương Tín với bài viết “Một số vấn đề lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự

2003 liên quan đến chức năng buộc tội” in trên Tập chí Nhà nước Pháp luật 8/2009; tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tung hình sự ở Việt Nam” trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23, 24/2009; TS Lê Hữu Thể, Nguyễn Thị Thuỷ với “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18/2010; tác giả Nguyễn Duy Giảng với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam” in trên Tạp chí Kiểm sát 2/2011; tác giả Nguyễn Ngọc Chí với bài viết “Cơ sở lựa chọn mô hình Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề Các cơ quan Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền 2011

* Liên quan đến kiểm sát hoạt động tư pháp:

Trang 15

KSXX là một dạng hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp, những vấn đề này đã được đặt ra nghiên cứu trong khá nhiều công trình, như Đề tài khoa học cấp bộ “Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực của nhà nước và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS ở nước ta” của VKSND tối cao (2010) Công trình đã nghiên cứu, làm sáng tỏ về quyền lực nhà nước, sự tất yếu cần phải giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước Sự hiện diện của VKS với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải là sản phẩm của một chế độ xã hội theo kiểu quốc gia XHCN hay quốc gia TBCN, mà bởi đặc điểm lịch sử, tính đặc thù của văn hóa, của truyền thống v.v… Đối với công tác KSXX, thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân, của những người tham gia tố tụng, VKS có vai trò quan trọng trong kiểm tra, giám sát quyền lực tư pháp, có một vai trò và vị trí mà các thiết chế khác không thay thế được

Đề tài khoa học cấp bộ “VKS ở các nước chuyển đổi và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình cải cách tư pháp” của VKSND tối cao (2012) cho thấy, những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội của các nước chuyển đổi sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 có ảnh hưởng sâu sắc đến mô hình VKS trên tất cả các phương diện vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, Sau chuyển đổi, bên cạnh chức năng công tố, VKS ở đa số các nước này vẫn tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Qua nghiên cứu, Đề tài cho rằng ở nước ta trong những năm tới cần khẳng định và duy trì hai chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND

Trong Đề án cấp bộ “Nghiên cứu về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKSND tối cao (2013) các tác giả đã đi sâu làm rõ bản chất, nội dung và đặc điểm của quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, chủ thể các hoạt động tư pháp Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc và thẩm quyền và nhiệm vụ, địa vị pháp lý của các cơ quan tư pháp ở các nước là rất đa dạng Ở nhiều nước hình thức giám sát hoạt động xét xử phổ biến thông qua tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm thẩm phán Tuy vậy ở nước ta cần thiết

Trang 16

duy trì chức năng “kiểm sát các hoạt động tư pháp” nói chung, KSXX nói riêng, nhằm bảo đảm để các hoạt động của các chủ thể diễn ra trong giai đoạn này phù hợp với pháp luật, tuân theo pháp luật

Việc nghiên cứu về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, KSXX nói riêng trong những năm gần đây tiếp tục có những phát triển mới, đi sâu, cụ thể hơn

Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm sát các hoạt động tư pháp ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp – Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật” của VKSND tối cao (2014) đã tập trung làm rõ khái niệm, khách thể, đối tượng, phạm vi của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Các tác giả cho rằng, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKS để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp; được thực hiện từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong giai đoạn xét xử, hai chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là cùng do KSV thực hiện, tuy nhiên mục đích và nội dung của các chức năng là khác nhau Để tránh

sự mập mờ trong nhận thức, hạn chế trong thực tiễn thi hành thì các quy định của pháp luật cần phân định rõ các chức năng này Ngoài ra Đề tài cũng nghiên cứu

về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung KSXX nói riêng ở nước ta

và ở một số nước trên thế giới – cung cấp nhiều thông tin cần thiết trong quá trình xây dựng Luận án

Ngoài các công trình trên, liên quan đến kiểm sát hoạt động tư pháp, KSXX còn có khá nhiều công trình, bài viết khác nghiên cứu, góp phần làm sáng

tỏ các vấn đề như quan niệm về cơ quan tư pháp, quan niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp, KSXX, thẩm quyền, phạm vi, hình thức thực hiện công tác kiểm sát, phân biệt kiểm sát hoạt động tư pháp với thực hành quyền công tố trong hoạt động thực hiện chức năng của VKS có thể kể đến như bài viết “Quan niệm về

cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp” của PGS, TS Phạm Hồng Hải trên Tạp chí Kiểm sát số 8/ 2002; “Tư pháp hình sự và yêu cầu tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự” của TS Nguyễn Thị Thủy trên Nghiên cứu lập pháp số

Trang 17

13/2009; “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Văn Độ trên Tạp chí Luật học số 2/2014; TS

Đỗ Văn Đương với “ Đảm bảo tính độc lập của VKS và vai trò của VKS trong kiểm sát các hoạt động tư pháp - kinh nghiệm từ thực tiễn Việt Nam” trên Tạp chí Kiểm sát số 13/2012

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự

Theo quy định của pháp luật ở nước hiện nay, THQCT và kiểm sát sát hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được thực hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau, từ giải quyết tin báo tố giác tội phạm, khởi tố, điều tra, truy

tố, và tiếp tục được thực hiện liên tục ở các giai đoạn xét xử sơ thẩm, PT, GĐT,

TT Các hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp này do nhiểu cấp, nhiều bộ phận khác nhau của cơ quan VKS thực hiện; trong đó VKSND cấp cao

ở nước ta hiện nay chỉ có nhiệm vụ THQCT và KSXX theo thủ tục PT, GĐT,

TT Lịch sử tư pháp cho thấy cách thức tổ chức, vận hành hoạt động THQCT và KSXX PT, GĐT, TT ở các nước là khác nhau và ở từng nước cũng khác nhau qua các thời kỳ Nghiên cứu về các vấn đề này có thể kể đến một số công trình như:

* Nhóm công trình liên quan đến hoạt động xét xử PT, GĐT, TT

Hoạt động THQCT và KSXX nói chung, trong đó có THQCT và KSXX trong giai đoạn PT, GĐT, TT nói riêng có mối liên hệ chặt chẽ, quy định lẫn nhau với các hoạt động tố tụng khác trong giai đoạn xét xử Do đó nghiên cứu về THQCT và KSXX thì cần nghiên cứu về hoạt động xét xử

Liên quan đến hoạt động xét xử PT có thể kể đến Luận án tiến sĩ “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS Việt Nam” của Vũ Gia Lâm (2008) Công trình

đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xét xử và cấp xét xử trong tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng Kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy, xuất phát từ đòi hỏi việc xét xử phải chính xác, công bằng, nên cần các cấp TA khác nhau để TA cấp trên xem xét lại bản án của TA cấp dưới Sự ra đời của

Trang 18

nguyên tắc 2 cấp xét xử là một nhu cầu tất yếu khách quan khi sự phát triển của

xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định Trên cơ sở nghiên cứu sâu sắc về khái niệm, nội dung, ý nghĩa của Nguyên tắc, Luận án cũng đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng hoạt động tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử nói chung, công tác THQCT và KSXX nói riêng Cùng nghiên cứu về xét xử PT còn phải kể đến Luận án tiến sĩ “PT trong TTHS” của Nguyễn Đức Mai (2004) Trong công trình của mình tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về PT trong TTHS Về mặt lý luận, công trình đã làm

rõ được sự cần thiết, bản chất của PT trong TTHS; đồng thời cũng cho thấy các quan điểm về giới hạn, phạm vi, thẩm quyền, thủ tục rất đa dạng, khác nhau với mỗi nước qua các thời kỳ Với những kết quả đạt được luận án rất có giá trị khi nghiên cứu về THQCT và KSXX PT của VKSND cấp cao khi nghiên cứu nó trong tổng thể các hoạt động tố tụng trong giai đoạn này

Đối với hoạt động xét xử GĐT có thể kể đến Luận án tiến sĩ “GĐT trong TTHS Việt Nam” của Phan Thị Thanh Mai (2007) Luận án đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của GĐT trong tố tụng hình sự, góp phần thống nhất nhận thức về bản chất, ý nghĩa của GĐT và nội dung của chế định GĐT Luận án cũng phân tích, đánh giá một cách khoa học những quy định của pháp luật thực định về GĐT và thực tiễn GĐT ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu cho thấy những điểm khác biệt của giai đoạn GĐT so với các giai đoạn xét xử sơ thẩm,

PT, do đó THQCT và KSXX trong giai đoạn GĐT cũng cần được điều chỉnh phù hợp

Liên quan đến cách thức phân cấp xét xử, góp phần lý giải lý do cần tổ chức lại hệ thống cơ quan tòa án, cần có thêm các TAND cấp cao (cũng là lý do

để có thêm VKSND cấp cao) có thể thể kể đến Đề án thành lập TA sơ thẩm khu vực, tòa PT, tòa thượng thẩm, đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao Đánh giá về thực tiễn tổ chức và hoạt động, TAND tối cao đã nêu ra khá nhiều tồn tại, bất cập như việc xác định thẩm quyền xét xử của mỗi TA vừa theo lãnh thổ, vừa theo tính chất vụ việc còn nhiều bất hợp lý; nhiệm vụ của TAND tối cao

Trang 19

nặng nề Do vậy, cần thiết phải tiếp tục cải cách, đổi mới hệ thống TAND nước

ta gồm 4 cấp theo đúng tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TƯ

Ngoài các công trình trên, liên quan đến hoạt động xét xử PT, GĐT, TT còn có rất nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu Các bài viết này nêu ra những điểm mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật, tranh luận về cách hiểu, cách áp dụng, đồng thời kiến nghị sửa đổi các quy định của pháp luật

về xét xử PT, GĐT, TT như: bài viết “Hoàn thiện một số quy định về xét xử PT hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử” của tác giả Vũ Gia Lâm trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23/2006; “Một số vấn đề về phạm vi xét xử và quyền hạn của hội đồng xét xử PT vụ án hình sự” của tác giả Vũ Gia Lâm(2009) trên Tạp chí Toà án nhân dân số 18/2009; “Thủ tục xét xử PT vụ án hình sự theo pháp luật của một số nước” của tác giả Nguyễn Đức Mai trên Tạp chí Toà án nhân dân số 2/2010; tác giả Nguyễn Văn Trượng với một loạt bài viết như: “Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của BLTTHS năm 2003 về xét

xử PT” trên Tạp chí Toà án nhân dân số 4/2005, “Cần sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục xét xử phúc thẩm” trên Tạp chí Kiểm sát số 17/2006, “Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của BLTTHS năm 2003 về xét xử PT” trên Tạp chí Toà án nhân dân số 15/2006, “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về xét xử PT theo tinh thần cải cách tư pháp” trên Tạp chí Toà án nhân dân số 22/2008, “Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS về thủ tục xét xử PT theo yêu cầu cải cách tư pháp” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2010, “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về xét xử PT” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2011; “TA cấp PT hủy án sơ thẩm

để xét xử lại theo hướng có tội - những vấn về lý luận và thực tiễn” của tác giả Đinh Văn Quế trên Tạp chí TAND số 8/2013; “Một số vướng mắc khi áp dụng các quy định của pháp luật trong xét xử PT vụ án hình sự” của tác giả Dương Thị Diệu Hiền trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2014

Đặc biệt trong giai đoạn nghiên cứu xây dựng BLTTHS 2015 có khá nhiều bài viết góp ý vào các dự thảo như “Góp ý một số quy định về xét xử PT trong

Trang 20

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)” của tác giả Mai Thị Thanh Thảo trên Tạp chí Kiểm sát số 6/2015; “Bình luận một số quy định về xét xử sơ thẩm và PT trong Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)” của tác giả Phạm Công Hùng trên Tạp chí Kiểm sát số 10/2015; “Không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự trong xét xử PT” của tác giả Mai Thanh Hiếu trên Tạp chí Luật học số 10/2015; “Một số vấn

đề về các quy định chung trong thủ tục xét xử PT” của tác giả Duy Kiên trên Tạp chí Kiểm sát số Tân Xuân/2015;

* Nhóm các công trình liên quan đến nội dung THQCT và KSXX PT, GĐT,

TT của KSV

Bên cạnh nhóm công trình liên quan đến hoạt động xét xử PT, GĐT, TT,

mà thực chất trong đó đã có đề cập đến hoạt động THQCT và KSXX, còn có không ít nghiên cứu chuyên sâu, đề cập trực diện đến THQCT và KSXX của KSV trong giai đoạn này Liên quan đến nội dung này có thể kể đến một số công trình như cuốn “Kỹ năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS” của Học viện tư pháp (2005), “Tranh luận tại phiên tòa PT”, “Kỹ năng THQCT và KSXX vụ án hình sự theo thủ tục GĐT và TT”của TS Dương Thanh Biểu (2008, 2010) Cùng với việc phân tích tính chất của giai đoạn xét xử PT, GĐT và TT, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của KSV trong giai đoạn này theo quy định của luật thực định ở nước ta cũng như quan điểm của một số nước khác; các cuốn sách cũng đã tổng kết từ thực tiễn, nêu ra được khá phong phú, sinh động những kỹ năng, những hoạt động KSV phải thực hiện khi THQCT và KSXX trước khi mở phiên tòa, tại phiên tòa, sau khi kết thúc phiên tòa trong các giai đoạn này

Những nội dung quan trọng nhất của THQCT và KSXX của KSV đã được pháp luật TTHS và luật tổ chức VKSND quy định, điều chỉnh Do vậy, các tài liệu nghiên cứu về các ngành luật này có giá trị quan trọng trong việc làm sáng

tỏ nội dung THQCT và KSXX Thuộc nhóm này có thể kể đến Bình luận khoa học BLTTHS do PGS, TS Võ Khánh Vinh chủ biên (NXB Công an nhân dân 2004), Giáo trình luật tố tụng hình sự của Trường đại học luật Hà Nội (NXB

Trang 21

Công an nhân dân, 2007), Bình luận khoa học BLTTHS 2003 do PGS, TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên (NXB Chính trị quốc gia 2009) Đặc biệt, sau khi BLTTHS 2015 ra đời đã có những nghiên cứu kịp thời các quy định mới của pháp luật như cuốn “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015” do PGS,

TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên (NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2016), Giáo trình luật tố tụng hình sự của Trường đại học luật Hà Nội (NXB Công an nhân dân, 2016), Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 do TS Phạm Mạnh Hùng chủ biên (NXB Lao động, 2018), Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 do

GS, TS Nguyễn Ngọc Anh và Luật sư, TS Phan Trung Hoài đồng chủ biên (NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2018),

Kháng nghị PT là thẩm quyền quan trọng được quy định trong BLTTHS,

để VKS nói chung, VKS cấp cao nói riêng thực hiện chức năng THQCT và KSXX Nghiên cứu về thẩm quyền này có thể kể đến Luận án tiến sĩ: “Chế định kháng nghị PT hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nguyễn Huy Tiến (2015) Trong luận án của mình tác giả đã có những nghiên cứu rất sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, ý nghĩa, nguyên tắc của kháng nghị PT; phân tích các quy định về kháng nghị PT trong pháp luật thực định ở nước ta và một số nước qua các thời kỳ, thực tiến áp dụng chế định kháng nghị PT của VKS các cấp trong giai đoạn hiện nay do đó công trình rất có ý nghĩa tham khảo khi nghiên cứu về vấn đề THQCT và KSXX PT của VKS

Trong các vấn đề về THQCT và KSXX của KSV, tranh tụng là nội dung được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Nghiên cứu về vấn đề này

có thể kể đến Luận án tiến sỹ luật học “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS việt nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Văn Hiển (2010), Đề tài khoa học cấp bộ “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi BLTTHS” của VKSND tối cao (2015) Trong công trình của mình, các tác giả khằng định, sự tồn tại khách quan của hai chức năng buộc tội

và gỡ tội làm xuất hiện nhu cầu đối chất, tranh tụng giữa hai nhóm chủ thể có quyền và lợi ích đối chọi nhau nhằm bảo vệ quan điểm của mình và phủ định,

Trang 22

phản bác quan điểm của chủ thể đối lập Như vậy, muốn hay không muốn, nhà làm luật có ghi nhận hay không ghi nhận thì tranh tụng vẫn tồn tại trong TTHS với tính chất là một thuộc tính khách quan của TTHS Tuy nhiên, thuộc tính này bộc lộ, biểu hiện như thế nào thì lại phụ thuộc vào các yếu tố chính trị, văn hoá, lịch sử, truyền thống, mô hình tố tụng của mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Mặc dù chưa được quy định là một nguyên tắc, nhưng trong các BLTTHS ở nước ta đã có nhiều quy định nhằm bảo đảm sự tranh tụng giữa các bên trong Thực tiễn thực hiện mở rộng tranh tụng tại phiên toà thời gian qua đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, để tăng cường tranh tụng, các tác giả cũng đề xuất sửa đổi một số quy định của BLTTHS để tăng cường tranh tụng trong TTHS Việt Nam

Ngoài các công trình trên, liên quan đến nội dung hoạt động THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của KSV còn có rất nhiều bài viết như: tác giả Nguyễn Huy Tiến với các bài viết “Một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự” trên Tạp chí Kiểm sát số 17/2009, “Hoàn thiện quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn xét xử PT các vụ án hình sự” trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2010; “Về THQCT trong giai đoạn xét xử” của tác giả Lý Văn Chính trên Tạp chí Toà án nhân dân số 12/2006; “Một số trường hợp giải quyết kháng cáo, kháng nghị liên quan đến phạm vi xét xử PT vụ án hình sự” của tác giả Quách Thành Vinh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 17/2009; “Một

số vấn đề về hoạt động điều tra bổ sung của VKS ở giai đoạn xét xử PT” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo trên Tạp chí Kiểm sát số 6/2012

* Nhóm các công trình liên quan đến đánh giá kết quả, đề xuất biện pháp

tổ chức thực hiện công tác THQCT và KSXX PT, GĐT, TT

Các công trình liên quan đến đánh giá kết quả, đề xuất biện pháp tổ chức thực hiện công tác THQCT và KSXX PT, GĐT, TT của VKS khá phong phú Có thể kể đến như các Đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác THQCT và KSXX các vụ án hình sự”, “Nâng

Trang 23

cao chất lượng công tác THQCT và KSXX PT đối với các vụ án kinh tế chức vụ”, sách chuyên khảo “Tổng kết 50 năm công tác THQCT và KSXX hình sự của VKSND” của VKSND tối cao Các công trình nghiên cứu đã phân tích vị trí, vai trò, nội dung và phạm vi của công tác THQCT và KSXX hình sự; qua tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệu, hoặc minh họa bằng các vụ án cụ thể sinh động

để khái quát kết quả công tác này của toàn ngành Kiểm sát qua các thời kỳ khác nhau, đánh giá kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn xét xử các vụ án hình sự

Bên cạnh đó một số công trình đi sâu đánh giá kết quả một khâu, một mặt công tác THQCT và KSXX cụ thể của VKS như một số Đề tài khoa học cấp bộ

“Các giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của VKSND tỉnh Bắc Ninh (2009), “Những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của KSV” của VKSND tỉnh Phú Thọ (2005) tập trung đánh giá thực trạng tranh tụng trên địa bàn Kết quả nghiên cứu thể hiện, thực hiện tinh thần Nghị quyết 08, 49 VKS địa phương

đã có nhiều biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, KSV về tranh tụng, chất lượng tranh tụng của KSV ngày càng nâng lên (thể hiện qua chất lượng bản luận tội nâng lên, việc thẩm vấn của KSV đã chủ động, đạt chất lượng cao), việc tham gia bào chữa của luật sư ngày càng được chú trọng Đánh giá về nguyên nhân hạn chế tranh tụng, đề tài có một số nhận xét đáng chú ý như: do pháp luật chưa quy định cụ thể về tranh tụng, người tiến hành tố tụng chưa nắm vững nhiệm vụ, vai trò của mình tại phiên tòa, trình độ nhận thức pháp luật của

bị cáo, bị hại còn thấp, không tự bào chữa hay bảo vệ quyền lợi của mình Đặc biệt trong thời gian gần đây đã có những nghiên cứu đánh giá về tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, nghiên cứu về VKSND cấp cao – một cấp kiểm sát mới Có thể kể đến các công trình như các Đề tài khoa học cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thành lập VKSND cấp cao đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, “VKSND

Trang 24

cấp cao trong hệ thống VKSND mới” của VKSND Tối cao đi sâu phân tích cơ

sở hình thành, kinh nghiệm ở một số nước; thực trạng trước khi ban hành Luật tổ chức VKSND năm 2014, mô hình tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan VKS còn nhiều điểm bất hợp lý, việc tổ chức VKSND cấp cao ở nước ta là cần thiết Qua khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của các VKSND cấp cao sau 2 năm thực tế hoạt động; đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế,

so sánh với giai đoạn trước đây; từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các VKSND cấp cao

Ngoài các công trình trên, liên quan đến việc đánh giá kết quả, đề xuất biện pháp tổ chức thực hiện công tác THQCT và KSXX PT, GĐT, TT còn có những bài viết trên các tạp chí nghiên cứu như: bài viết “Nâng cao chất lượng công tác THQCT, KSXX PT hình sự của VKSND” của TS Dương Thanh Biểu trên Tạp chí Kiểm sát số 22/2005; tác giả Phạm Văn An với các bài viết “Một số kinh nghiệm trong công tác THQCT, KSXX hình sự tại phiên toà hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” trên Tạp chí Kiểm sát số 10/2011, “Thay đổi trong quan điểm chỉ đạo của đảng về tổ chức xét xử GĐT, TT vụ án hình sự” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 16/2011, “Nâng cao vai trò, trách nhiệm , tính chủ động của KSV trong THQCT và KSXX vụ án hình sự” trên Tạp chí Kiểm sát số 15/2017,

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Một số công trình ở nước ngoài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Đề tài như:

- Cuốn Giáo trình chế độ công tố, Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc, Nhà xuất bản pháp luật Bắc Kinh 2002 (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội) phản ánh tình hình nghiên cứu rất toàn diện của các nhà khoa học Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến công tố, được coi là một “chế độ” trong pháp luật Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một cách sâu sắc nguồn gốc, bản chất của QCT cũng như các vấn đề cơ bản của công tố như: tính chất của QCT, căn cứ của QCT, các quyền năng, chức năng cơ bản của QCT;

Trang 25

các cơ chế để thực hiện, kiểm soát, và hỗ trợ thực hiện QCT; các chuẩn mực tư pháp hình sự quốc tế, nguyên tắc của pháp luật, các chính sách hình sự phải được tuân thủ trong quá trình THQCT Đặc biệt các tác giả đã có đưa ra quan điểm về nguyên tắc cân bằng giá trị công tố Theo đó mục tiêu giá trị công tố nhằm tới cơ bản là chính nghĩa pháp luật – không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, trình tự công bằng – quá trình tố tụng giải quyết vụ án phải công bằng, hợp pháp, và hiệu quả tố tụng – tổng hợp hiệu quả đạt được của hoạt động công

tố

Cuốn sách chỉ ra sự đa dạng các loại hình chế độ công tố ở các nước trên thế giới, được các tác giả chia thành 5 loại cơ bản là: Do Công tố viên nắm QCT như ở Nhật, Trung Quốc; do Công tố viên và thẩm phán dự thẩm cùng thi hành như ở Pháp; do Viện công tố và đại bồi thẩm đoàn thi hành như ở Mỹ; do Công

tố viên và cảnh sát thi hành như ở Phần Lan, Na Uy; do Công tố viên và luật sư cùng thi hành như ở Anh Cùng với đó các tác giả cũng tập trung nghiên cứu về chế độ công tố ở Trung Quốc, trong đó KSV có vị trí song trùng trong tố tụng, vừa là người giám sát pháp luật vừa là Công tố viên, quá trình VKS tiến hành truy tố vừa là quá trình THQCT vừa là thực thi giám sát pháp luật; các hình thức biểu hiện cụ thể của QCT, trong đó có QCT trong giai đoạn xét xử cũng được nghiên cứu, chiếm một dung lượng lớn của cuốn sách Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về QCT, THQCT, liên quan trực tiếp đến Luận án và rất có giá trị tham khảo

- Cuốn Giáo trình công tác kiểm sát, Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc, Nhà xuất bản pháp luật Bắc Kinh 2002 (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội) Trung Quốc là một trong những nước có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động kiểm sát nói chung, KSXX vụ án hình sự nói riêng Cuốn sách luận giải một cách sâu sắc những vấn đề cơ bản của công tác kiểm sát như: quyền kiểm sát và các tính chất của nó; nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm sát; chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật và chế độ giám sát tư pháp của VKS, đặc biệt, cuốn sách có những phân tích rất thú vị về sự khác biệt về ý

Trang 26

nghĩa, nhiệm vụ, vị trí của công tác kiểm sát với hoạt động công tố, về mối quan

hệ mật thiết, hữu cơ của các hoạt động này; đồng thời nêu ra những kinh nghiệm của Trung Quốc về việc xử lý những mâu thuẫn khi giao cho một Kiểm sát viên đồng thời giữ các vai trò khác nhau trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Cuốn sách rất có ý nghĩa tham khảo khi nghiên cứu về KSXX, cũng như nêu ra các đề xuất, kiến nghị về vấn đề này trong Luận án, vì đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về công tác kiểm sát

- John Hatchard, Barbara Huber and Richard Vogler eds Comparative criminal procedure, B.I.I.C.L published, London, 1996 (bản tiếng Anh) Cuốn sách này được xây dựng trên cơ sở tóm tắt, biên soạn lại những nội dung, kết quả hoạt động chính của Uỷ ban hỗn hợp do Viện luật quốc tế và luật so sánh Anh đã thành lập tháng 4/1991 Trong cuốn sách các tác giả đã đi sâu phân tích 3 hệ thống TTHS: Pháp, Đức, Anh và xứ Uên - là 3 hệ thống tư pháp hình sự có ảnh hưởng rất lớn thể hiện những xu thế nổi bật nhất của hệ thống tư pháp hình sự ở Châu Âu và có giá trị ảnh hưởng, định hình cho các hệ thống tố tụng trên phạm

vi toàn cầu – trên các phương diện như: nguồn của TTHS, các nguyên tắc cơ bản, thủ tục, các giai đoạn tố tụng, nguồn chứng cứ, các cơ quan liên quan trong

hệ thống tư pháp hình sự và những người tham gia tố tụng khác,

Ở các nước này đều quy định việc xét xử lại bản án nếu bị kháng cáo, kháng nghị Ở Pháp, xét xử PT là cấp xét xử thứ 2 và có thể được xét xử lại toàn

bộ vụ án Việc xét xử GĐT do Tòa phá án, TA tối cao thực hiện đối với các bản

án quyết định đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra ở Pháp còn quy định thủ tục TT

để sửa chữa những sai lầm rõ ràng về tình tiết thực tế sau khi vụ án đã kết thúc

Ở Đức cũng quy định các thủ tục PT lần thứ nhất, PT lần hai (GĐT và TT) Việc

PT lần 1 được tiến hành dưới hình thức một phiên toà xét xử mới theo cùng một cách thức giống như phiên tòa sơ thẩm, Toà PT có quyền đưa ra phán quyết mới trên cơ sở xem xét toàn bộ chứng cứ Ở phiên tòa GĐT chỉ xem xét các vấn đề pháp lý mà thôi Ở Anh và xứ Uên, toà PT có quyền chấp thuận kháng cáo, huỷ

án sơ thẩm nếu thấy việc kết tội không có cơ sở Từ những phân tích về từng hệ

Trang 27

thống TTHS cuốn sách cũng nêu nên những quan điểm chính của Uỷ ban về việc

so sánh ba hệ thống này, đưa ra các nhận xét, về sự ảnh hưởng của cơ chế xem xét lại vụ án đối với các yêu cẩu về cơ sở nhân vật lực cũng như hiệu quả của hoạt động xét xử PT Cuốn sách rất có ý nghĩa tham khảo khi nghiên cứu về hoạt động xét xử PT, GĐT, TT cũng như hoạt động THQCT của cơ quan công tố trong giai đoạn này

- Chương trình đối tác tư pháp (2012), sách chuyên khảo “Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới” (bản tiếng Việt) Cuốn sách là tập hợp các báo cáo nghiên cứu của các nhà khoa học và thực tiễn có kinh nghiệm và uy tín quốc tế

về mô hình TTHS của 7 quốc gia đại diện cho các mô hình TTHS điển hình trên thế giới, gồm có Chuyên đề về mô hình TTHS Nhật Bản và Chuyên đề về mô hình TTHS Hàn Quốc của giáo sư Buyn-Sun-Cho, chuyên đề Mô hình TTHS Trung Quốc của giáo sư Liling Yue, chuyên đề Mô hình TTHS Cộng hòa liên bang Nga của giáo sư William Burnham, chuyên đề Mô hình TTHS Cộng hòa Italia của tiến sỹ Marco Fabri, chuyên đề Mô hình TTHS Liên bang Hoa Kỳ của giáo sư Richard S.Shine, chuyên đề Mô hình TTHS Cộng hòa Pháp của Jean-Philippe Rivaud Các chuyên đề này đều đã tổng quan quá trình phát triển và đặc điểm của mô hình TTHS ở mỗi nước; đi sâu phân tích các vấn đề như cơ cấu tổ chức hệ thống cơ quan tư pháp, địa vị tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng; các giai đoạn TTHS, như giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử sơ

bộ, giai đoạn xét xử, giai đoạn kháng cáo; quyền truy tố, cơ chế giám sát đối với các hoạt động TTHS … Kết quả nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào lịch sử, kinh tế

xã hội mà mỗi nước có cách thức tổ chức cơ quan tiến hành tố tụng, quy định trình

tự, thủ tục tố tụng khác nhau Trong mỗi mô hình TTHS thì địa vị, nhiệm vụ quyền hạn của công tố viên nói chung, trong giai đoạn xét xử nói riêng cũng không giống nhau Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy sự đa dạng trong cách thức tổ chức THQCT, do đó rất có ý nghĩa tham khảo khi nghiên cứu về vấn đề này trong Luận án

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những

Trang 28

vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa phát triển

- Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề chung về QCT, THQCT Tuy còn những ý kiến khác nhau nhưng những vấn đề cơ bản như: Khái niệm, nguồn gốc, phạm vi của QCT; khái niệm THQCT và mối quan hệ với QCT; nội dung và phạm vi THQCT v.v đã được nghiên cứu khá sâu sắc

- Vấn đề KSXX nói chung đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi về quan điểm cách thức tổ chức kiểm soát quyền lực nhà nước và cũng là vấn đề cân nhắc có chuyển VKS thành Viện công tố hay không Tuy vậy đây không phải là mục tiêu nghiên cứu của Luận án Những vấn đề liên quan đến Luận án là khái niệm, nội dung và phạm vi của KSXX đến nay cơ bản đã được làm rõ

- VKSND cấp cao có nhiệm vụ THQCT và KSXX trong theo thủ tục PT, GĐT, TT Để đánh giá đúng chất lượng hoạt động của VKSND cấp cao thì phải đánh giá đúng tính chất của các thủ tục tố tụng này, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho mỗi chủ thể tố tụng Đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề này

- Một số nhiệm vụ, quyền hạn pháp lý cụ thể VKSND cấp cao phải thực hiện trong giai đoạn này, như vấn đề kháng nghị PT, vấn đề tranh tụng của KSV tại phiên tòa, đã được một số công trình quan tâm nghiên cứu

- Kết quả thực tế công tác THQCT và KSXX vụ án hình sự của các VKSND cấp cao cũng đã được khảo sát ở mức độ nhất định trong một số công trình nghiên cứu

Nghiên cứu sinh sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu này trong Luận án của mình

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án sẽ được tiếp thu các kết quả nghiên cứu liên quan và tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:

- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, như: Chủ thể, đối

tượng, nội dung, phạm vi của THQCT và KSXX PT, GĐT, TT vụ án hình sự

Trang 29

- Tiếp tục khảo sát và nghiên cứu toàn diện, tổng kết thực tiễn dưới góc độ khoa học hoạt động xây dựng pháp luật cũng như áp dụng các quy định của pháp luật về THQCT và KSXX vụ án hình sự của các VKSND cấp cao; phát hiện, đánh giá đúng những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của nó

- Lảm rõ các yêu cầu mới đặt ra cho hoạt động THQCT và KSXX vụ án hình sự của các VKSND cấp cao trong giai đoạn hiện nay; đề xuất, kiến nghị phù hợp để nâng cao chất lượng hoạt động này

Trang 30

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN

đó là: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Tuy rằng

có sự khác nhau trong việc tổ chức vận hành các chức năng cơ bản, song các

mô hình TTHS đều tồn tại ba chức năng TTHS cơ bản nêu trên; sự tồn tại các chức năng cơ bản của TTHS là vấn đề thuộc phạm trù khách quan [38]

Công tố và tư tố là những hình thức khác nhau để thực hiện việc buộc tội Về mặt truy tố tội phạm, trong lịch sử các nước từng thi hành một thời kỳ dài hình thức tố tụng kiểu vạch tội, nhà nước không chủ động truy tố tội phạm, mà người bị hại trực tiếp nhân danh cá nhân để bảo vệ lợi ích của bản thân mình trước tòa Quyền này của người bị hại được gọi là “quyền tư tố” [34, tr.18] Cùng với sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước cũng như hệ thống pháp luật, sự nhận thức của xã hội về lợi ích công và lợi ích tư,

Trang 31

về trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội đã có sự thay đổi đáng kể Càng

về sau, giai cấp thống trị nhận ra rằng trong nhiều trường hợp khi các lợi ích

cá nhân bị xâm hại thì lợi ích công cộng (như trật tự công cộng, an ninh xã hội .) cũng bị đe dọa hoặc bị xâm hại, do đó cần có sự can thiệp của nhà nước để chống lại các hành vi xâm phạm này Chính vì vậy, vai trò của công

tố ngày càng được đề cao, thay thế cho tư tố Ngày nay tư tố vẫn tồn tại song song cùng công tố ở hầu hết các nước nhưng phạm vi bị thu hẹp lại [13, tr.17]

Xung quanh khái niệm QCT có khá nhiều quan niệm khác nhau, như cho rằng QCT chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, hoặc nhận thức khác nhau về nội dung, phạm vi của QCT, khi cho rằng QCT không chỉ có trong lĩnh vực hình sự mà còn có trong các lĩnh vực dân sự, hành chính Quan niệm về phạm vi QCT trong TTHS cũng có những điểm chưa thống nhất, có quan điểm cho rằng QCT do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự [34, tr.40] [10, tr.29], ngược lại một số tác giả lại có xu hướng thu hẹp khái niệm QCT khi cho rằng, QCT là việc truy tố kẻ phạm tội ra trước TA, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [21, tr.14] Do phạm vi nghiên cứu, Luận án không đi sâu bàn luận về các quan điểm này mà cho rằng: “Quyền công tố trong tố tụng

hình sự là quyền đại diện cho nhà nước để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội”

Để QCT được thực hiện nhà nước tổ chức ra các chủ thể thực hiện QCT, quy định trong luật TTHS vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn để các chủ thể đó

có thể thực hiện QCT trong thực tiễn Tuy vậy, không được nhầm lẫn việc một

số cơ quan nhà nước có quyền tiến hành một số quyền năng pháp lý như khởi tố

vụ án khởi tố bị can để cho rằng cũng là cơ quan THQCT Chỉ chủ thể nào được giao nhiệm vụ nhân danh Nhà nước đưa vụ án ra tòa, yêu cầu truy cứu trách

Trang 32

nhiệm hình sự một cách công khai bằng con đường TA thì chủ thể ấy mới chính

là cơ quan THQCT Việc quy định chủ thể nào THQCT lại tùy theo mỗi nước Ở nước ta chủ thể THQCT là VKS, “Về THQCT là chức năng mà không cơ quan nhà nước nào làm thay VKS” [10, tr.39] Tuy nhiên do sự khác nhau về truyền thống lịch sử, chế độ pháp luật các loại hình chế độ công tố ở các nước trên thế giới rất đa dạng, được các nhà nghiên cứu trên thế giới chia thành 5 loại cơ bản là:

Do Công tố viên nắm QCT như ở Nhật, Trung Quốc; do Công tố viên và thẩm phán

dự thẩm cùng thi hành như ở Pháp; do Viện công tố và đại bồi thẩm đoàn thi hành như ở Mỹ; do Công tố viên và cảnh sát thi hành như ở Phần Lan, Na Uy; do Công

tố viên và luật sư cùng thi hành như ở Anh [13]

QCT trong TTHS là quyền lực của nhà nước có nội dung là sự buộc tội đối với người thực hiện tội phạm, THQCT trong TTHS có nội dung là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện quyền buộc tội ấy Trong thực tiễn cần phân biệt giữa THQCT với các quyền năng cụ thể mà pháp luật quy định để thực hiện quyền lực ấy THQCT không phải là khởi tố vụ án, ra lệnh bắt tạm giam, công bố cáo trạng tại phiên tòa, mà THQCT là việc sử dụng các quyền

năng pháp lý do pháp luật quy định này để “buộc tội đối với người đã thực hiện

hành vi phạm tội” Đối tượng nhằm tới của THQCT là tội phạm và người phạm

tội Đối tượng của THQCT gắn bó mật thiết với chính sách hình sự và đường lối

xử lý tội phạm của nhà nước Nếu mở rộng phạm vi các hành vi bị coi là tội phạm được quy định trong BLHS hoặc ngược lại loại bỏ các hành vi không phải

là tội phạm ra khỏi BLHS thì đối tượng tác động của THQCT cũng thay đổi theo

Có thể nói “Mối quan hệ giữa QCT và THQCT trong TTHS là mối quan

hệ biện chứng giữa quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực

ấy” [10, tr.50] Với cách hiểu QCT như đã trình bày trên, có thể hiểu: “Thực

hành quyền công tố là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng tổng hợp các quyền năng do pháp luật quy định để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội”

Trang 33

Thời điểm phát sinh THQCT tùy thuộc vào pháp luật của mỗi nước ở từng thời điểm QCT trong TTHS bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, song hoạt động THQCT chỉ bắt đầu ở thời điểm pháp luật quy định các quyền năng pháp lý để

cơ quan công tố có các hoạt động thực hiện nhiệm vụ phát hiện, điều tra tội phạm để buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, phạm vi THQCT không đồng nhất với phạm vi QCT; THQCT thường được quy định trễ hơn so với phạm vi QCT Để tăng cường hiệu quả THQCT thì pháp luật cần quy định để phạm vi THQCT ngày càng tiệm cận phạm vi QCT Thời điểm THQCT kết thúc là khi đã có quyết định về việc giải quyết vụ án và cơ quan công tố cũng chấm dứt các hoạt động nhằm phát hiện, điều tra truy tố người phạm tội theo quy định của pháp luật Thời điểm này có thể là khi ban hành quyết định đình chỉ điều tra vụ án, cũng có thể là khi bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị Đối với các trường hợp bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị yêu cầu xem xét lại thì việc xem xét lại này cũng đã kết thúc

THQCT có thể được thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Khi THQCT trong giai đoạn xét xử cơ quan THQCT sử dụng quyền năng pháp lý pháp luật quy định cơ quan THQCT có thể thực hiện trong giai đoạn đó để thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội trước TA Trong giai đoạn xét xử cơ quan THQCT lại THQCT ở các giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử PT, xét xử GĐT, TT, trong mỗi giai đoạn pháp luật lại quy định cơ quan này lại có những quyền năng pháp lý khác nhau Các công trình nghiên cứu cho thấy có sự đa dạng về mô hình TTHS, với nhiều cách phân loại khác nhau, theo cách phân loại phổ biến gồm: mô hình TTHS tranh tụng, mô hình TTHS thẩm vấn, mô hình TTHS pha trộn [38]; ví trí, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THQCT, THQCT trong giai đoạn xét xử trong mỗi mô hình tố tụng là khác nhau Tương tự như vậy, nội dung, phạm vi THQCT ở giai đoạn xét xử cũng rất khác nhau ở từng nước, trong từng giai đoạn

Trang 34

Với cách hiểu THQCT như đã nêu trên thì: “Thực hành quyền công tố

trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng tổng hợp các quyền năng do pháp luật quy định trong giai đoạn đó để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội trước tòa án”

Tuy có sự đa dạng trong nội dung, phạm vi THQCT, nhưng nhìn chung để thực hiện nhiệm vụ THQCT thì THQCT ở giai đoạn xét xử có vai trò rất quan trọng, mang tính quyết định Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn, có thể nói, thực chất là sự tiếp tục của quá trình điều tra liên tục, tại phiên tòa cùng với những chứng cứ trực tiếp được trình bày bằng lời của các nhân chứng trước Tòa [15, tr.62], các chứng cứ đã thu thập được trong các giai đoạn tố tụng trước đó được kiểm tra, xác minh lại làm căn cứ cho việc ra phán quyết Do vậy, hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử có vai trò quan trọng để tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố được sử dụng, xem xét làm cơ sở cho phán quyết của TA Trong mô hình tố tụng tranh tụng “với quan niệm TTHS chỉ gồm có giai đoạn xét xử, các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử chỉ thực sự bắt đầu tại phiên tòa sơ thẩm” [15, tr.67] vai trò THQCT của KSV tại phiên tòa lại càng quan trọng hơn

2.1.2 Xét xử phúc thẩm và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

2.1.2.1 Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

* Nguyên tắc 2 cấp xét xử

Kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy, sự ra đời của nguyên tắc 2 cấp xét xử là một nhu cầu tất yếu khách quan Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hoạt động xét xử ngày càng yêu cầu phải chính xác, công bằng hơn, nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn các quyền và tự do cơ bản của công dân Để hạn chế sai sót, cần có cơ chế phù hợp để kiểm soát và đánh giá lại bản án, quyết định của

TA Cơ chế phù hợp và đảm bảo hiệu quả cao nhất chính là tổ chức tố tụng xét

xử theo “cấp xét xử”, để xét xử và xét xử lại vụ án một hoặc một số lần nữa, đảm

Trang 35

bảo giải quyết vụ án thật sự khách quan, toàn diện và đầy đủ Tuy vậy để đảm bảo yêu cầu việc giải quyết vụ án cần nhanh chóng, kịp thời khôi phục các quan

hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, tránh gây lãng phí về thời gian, tiền bạc của Nhà nước và những người tham gia tố tụng “việc phân cấp xét xử nhằm đảm bảo cho một vụ án có thể được xét xử nhiều lần ở các cấp xét xử khác nhau là cần thiết, nhưng không nên tổ chức nhiều cấp xét xử mà chỉ cần tổ chức 2 cấp xét xử” [17, Tr.20]

Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung thể hiện quan điểm có tính định hướng của nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong pháp luật TTHS, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại và chỉ có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp PT (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo kháng nghị hợp lệ, nhằm giải quyết đúng đắn vụ án, đảm bảo lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cơ quan tổ chức

Kết quả nghiên cứu quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy, Nguyên tắc hai cấp xét xử đã được xác lập rất sớm [17, Tr.19] Khoản 5 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ghi rõ: “bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều

có quyền yêu cầu TA cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật” Điều 81 phần 8 Quy chế Rome về TA hình sự quốc tế cũng xác định: “bản án có thể bị công tố viên hoặc bị người kết án kháng cáo phù hợp với quy tắc về tố tụng và chứng cứ dựa trên cơ sở thiếu sự cân đối giữa tội phạm và bản án” Điều 83 Quy chế quy định: “khi tiến hành việc xem xét theo quy định tại điều 81 và điều này hội đồng PT có tất cả các quyền hạn của hội đồng xét xử” Hiện nay đa số các quốc gia trên thế giới đều thực hiện nguyên tắc 2 cấp xét xử và quy định thủ tục tố tụng cũng như tổ chức hệ thống TA phù hợp để thực hiện nguyên tắc này

* Xét xử phúc thẩm:

Trang 36

Xét xử PT là việc TA cấp trên xét xử lại vụ án đã được TA cấp dưới xét xử

sơ thẩm (lần 1) trước đó Cùng với việc thừa nhận rộng rãi Nguyên tắc 2 cấp xét

xử, pháp luật TTHS đa số các nước quy định PT là giai đoạn tố tụng tiếp theo của giai đoạn xét xử sơ thẩm, từ đó tạo ra cơ chế để mọi vụ án đều có thể được xét xử lại lần 2 Có thể nói sự hình thành và phát triển của chế định phúc thẩm trong TTHS gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội, với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ Đến lượt mình, phúc thẩm tác động trở lại trở lại với những ý nghĩa vô cùng quan trọng như [18, Tr.9]:

Một là, PT là một trong những hình thức giám đốc xét xử chủ yếu của TA cấp trên đối với TA cấp dưới Qua đó kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm nghiêm trọng về xét xử của TA cấp dưới

Hai là, PT là một trong những chế định thể hiện rõ nét nhất bản chất dân chủ và tiến bộ của TTHS, không cho phép TA cấp PT sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị theo hướng đó

Ba là, PT còn là một trong các phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời và

có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo

Bốn là, thông qua việc xét xử các vụ án, TA cấp phúc thẩm hướng dẫn cho các TA cấp dưới và các cơ quan tiến hành tố tụng khác, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân,

đấu tranh phòng và chống tội phạm

Với tư cách là một giai đoạn độc lập và bắt buộc của quá trình TTHS, giai đoạn phúc thẩm tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hay không Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét

xử sơ thẩm, được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên Tuy vậy, không phải tất cả các vụ án hình sự sau khi xét xử sơ thẩm đều được xem xét lại theo thủ tục PT Về nguyên tắc chung, xét xử PT chỉ được tiến hành sau khi có

Trang 37

các hoạt động phát động xét xử PT theo quy định của pháp luật, vì: xét xử PT có mục tiêu nhằm kiểm soát và đánh giá lại kết quả của việc nhận thức ở lần xét xử đầu tiên, do vậy thủ tục xét xử PT đối với một vụ án chỉ phát sinh khi có sự không đồng ý đối với bản án (quyết định) sơ thẩm về vụ án – nói cách khác là phải có kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật đối với bản án (quyết định) sơ thẩm đó Do việc xét xử chỉ được thực hiện qua 2 cấp, nên bản

án (quyết định) PT phải phát sinh hiệu lực pháp luật ngay sau khi được tuyên Quan niệm về tính chất của PT là một trong những vấn đề quan trọng trong định hướng xây dựng pháp luật và thực tiễn thi hành Quan điểm về tính chất của

PT có thể chia thành hai nhóm chính sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, phúc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục tố tụng mà theo đó TA cấp trên trực tiếp xét lại các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Điều đó có nghĩa là tính chất của phúc thẩm chỉ là

"xét lại" chứ không phải là "xét xử lại"

Quan điểm thứ hai cho rằng, tính chất của phúc thẩm không phải

là xét lại mà là xét xử lại các vụ án, mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị [18, Tr.12]

Tuy vậy với việc thừa nhận Nguyên tắc 2 cấp xét xử, tính chất của PT trong TTHS cần được xác định là “xét xử lại” Theo đó, TA cấp PT không chỉ kiểm tra mà còn có nhiệm vụ xét xử cả về nội dung vụ án

Việc quy định trong pháp luật TTHS của các nước về phạm vi thẩm quyền của TA cấp PT cũng khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 xu hướng điều chỉnh thẩm quyền của TA cấp PT trong pháp luật các nước Xu hướng PT mở rộng: Xu hướng này xuất phát từ quan niệm cho rằng PT là một cấp xét xử, vì vậy, pháp luật phải đối xử với TA cấp PT bình đẳng như đối với TA cấp sơ thẩm Điều đó có nghĩa là cho phép kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục PT đối với tất cả các bản án sơ thẩm và không hạn chế thẩm quyền xem xét và quyền quyết định của TA cấp PT theo bất cứ hướng nào Xu hướng PT thu hẹp: Theo

Trang 38

quan niệm của xu hướng này, thì PT là cấp xét xử thứ hai chứ không phải là cấp xét xử lần thứ hai đối với vụ án Thông qua việc xét xử lại vụ án, Tòa PT khắc phục những sai sót về xét xử của Tòa sơ thẩm Bởi vậy, cần hạn chế phạm vi xem xét và quyền hạn của Tòa PT [18, Tr.23-27]

Tuy còn có các quan niệm khác nhau, nhưng xuất phát từ nguyên tắc 2 cấp xét xử, nên cần quy định TA cấp phúc thẩm có nhiệm vụ “xét xử lại” vụ án, chứ không phải “xét lại” bản án, quyết định của TA sơ thẩm; Tuy vậy, về phạm vi thẩm quyền, TA cấp PT chỉ nên xét xử lại những vấn đề mà cấp sơ thẩm đã xem xét, quyết định; đối với những vấn đề mà cấp sơ thẩm chưa xem xét và quyết định thì không thuộc phạm vi của TA cấp PT; đồng thời TA cấp phúc thẩm có nhiệm vụ giải quyết những khiếu nại của các bên, nên phạm vi những vấn đề xét

xử của TA cấp PT cũng không thể vượt ra ngoài phạm vi bị giới hạn bởi nội

dung kháng cáo, kháng nghị

2.1.2.2 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình

sự

* Chủ thể thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Để THQCT trong giai đoạn xét xử PT vụ án hình sự, nhà nước tổ chức ra

và phân công các cơ quan làm nhiệm vụ này Nghiên cứu về chủ thể THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ở các nước cho thấy, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tổ chức, thẩm quyền của cơ quan TA, truyền thống pháp luật, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, sự phân công ở các nước là rất khác nhau [65] Đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc và Liên Bang Nga, hệ thống TA, VKS thường được tổ chức tương ứng với hệ thống cơ quan hành chính Trong mô hình này không có các TA chuyên trách xét xử PT,

mà do nhiều cấp TA đảm nhiệm; Về cơ bản TA cấp trên xét xử PT, đối với bản

án, quyết định của TA cấp dưới trực tiếp, do đó, loại án mà TA cấp PT có thẩm quyền giải được quy định bởi thẩm quyền xét xử của TA cấp sơ thẩm Ở các nước này VKS làm công tác THQCT và KSXX cũng được tổ chức tương ứng với TA xét xử PT, do vậy cũng gồm nhiều cấp khác nhau Đối với những nước

Trang 39

có truyền thống án lệ như Mỹ và Anh, hệ thống TA được tổ chức để làm các nhiệm vụ: xét xử sơ thẩm, xét xử PT; và TA ở cấp trung ương chỉ giải quyết một

số lượng rất hạn chế các vụ án GĐT, phát triển án lệ, tổng kết kinh nghiệm xét

xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật Tuy vậy, trong mô hình này, tổ chức cơ quan công tố không có cấp chuyên trách để làm nhiệm vụ THQCT trong việc xét

xử PT, mà do các công tố viên đã tham gia truy tố tại toà án cấp sơ thẩm tiếp tục đảm nhiệm Đối với những nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, cơ quan TA được tổ chức theo thẩm quyền xét xử như ở các nước có truyền thống

án lệ Tương ứng với TA cấp PT ở các nước này có các VKS/ Viện công tố cấp cao/ PT để chuyên THQCT trong giai đoạn xét xử PT của TA cấp PT

* Nội dung thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự:

Là việc cơ quan công tố sử dụng quyền năng pháp lý phù hợp được pháp luật quy định để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội trước TA cấp PT

Để THQCT trong giai đoạn cơ quan công tố phải tiến hành các hoạt động:

- Phát động xét xử PT thông qua kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

Cơ sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử tại cấp sơ thẩm là quyết định truy tố của VKS, quyết định đưa ra xét xử của TA Đối với thủ tục PT, cơ sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử là kháng cáo, kháng nghị Ngoài bị cáo, người bị hại, các bị đơn dân sự có quyền kháng cáo, các nước đều khá nhất quán quy định cơ quan công tố là cơ quan duy nhất được giao quyền phát động thủ tục xét xử phúc thẩm Khi thấy việc xét xử sơ thẩm không đúng với phạm vi truy tố

có thể về tình tiết vụ việc hoặc về áp dụng luật hình sự, mức hình phạt quá nhẹ, thậm chí là tuyên không phạm tội thì VKS có quyền kháng nghị yêu cầu xét xử lại vụ án để sửa hoặc hủy án sơ thẩm Do vậy kháng nghị PT như một sự “nối dài” việc THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

Tuy nhiên thực tế VKS không phải chỉ kháng nghị PT theo hướng tăng nặng mà không ít kháng nghị PT của VKS đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, thậm chí nếu TA xét xử oan thì

Trang 40

VKS, nhất là VKS cấp trên có thể kháng nghị đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội Vậy những trường hợp kháng nghị PT như trên có phải là việc THQCT hay không? Quan điểm của một số học giả Trung Quốc cho rằng: kháng nghị theo hướng bị cáo không có tội thì không thể lý giải từ QCT mà chỉ có thể lý giải từ quyền giám sát pháp luật và từ góc độ bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật Ngoài ra kháng nghị đối với vụ án tư tố, thì vốn không có quyền tố tụng đối với

vụ án này, mà chỉ xem xét trên lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng để tiến hành kháng nghị từ góc độ cơ quan giám sát pháp luật [13, tr.63]

Quan điểm nêu trên là chưa chính xác Kháng nghị PT dù theo hướng tăng nặng hay giảm nhẹ thì cũng nhằm để thực hiện buộc tội chính xác, công bằng – tức là THQCT Theo quan điểm của chính các học giả Trung Quốc, mục tiêu giá trị công tố nhằm tới cơ bản là chính nghĩa pháp luật (không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm), trình tự công bằng (quá trình tố tụng giải quyết vụ án phải công bằng, hợp pháp), và hiệu quả tố tụng (tổng hợp hiệu quả đạt được của hoạt động công tố) [13] Để thực hiện mục tiêu chính nghĩa pháp luật, cơ quan công tố phải kịp thời phát hiện sự không chính xác của bản án sơ thẩm Khi TA cấp sơ thẩm bắt người không phạm tội phải chịu tội, VKS phải kháng nghị để xét

xử lại người này theo hướng không phạm tội; hoặc khi hình phạt TA sơ thẩm đã quyết định là quá nặng thì cơ quan công tố phải kháng nghị theo hướng giảm nhẹ Dù kháng nghị theo hướng buộc tội hay không tội, kháng nghị tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt thì cũng là thực hiện mục tiêu của THQCT

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chế định kháng nghị PT của cơ quan công tố các nước có sự khác nhau theo những xu hướng mở rộng hoặc thu hẹp quyền kháng nghị của cơ quan công tố Theo xu hướng thu hẹp quyền kháng nghị, không phải bất cứ vụ án nào cũng có quyền kháng cáo, kháng nghị Phạm vi, chủ thể có quyền kháng nghị cũng có giới hạn Những nước theo xu hướng này thuộc những nước có truyền thống pháp luật Common law Ví dụ ở các nước này cơ quan công tố sẽ bị giới hạn đối với những bản án tha bổng (không phạm tội) hoặc phạt tiền bởi những trường hợp này sẽ không có chống án lên cấp phúc

Ngày đăng: 04/06/2020, 08:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa PT, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa PT
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
2. Dương Thanh Biểu (2010), Kỹ năng THQCT và KSXX vụ án hình sự theo thủ tục GĐT và TT, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng THQCT và KSXX vụ án hình sự theo thủ tục GĐT và TT
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2010
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Chính trị (2010), Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
6. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 92/KL-TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 92/KL-TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
7. Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Kỹ năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, NXB Đại học QGHN, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học QGHN
Năm: 2006
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lí luận BLTTHS Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình lí luận BLTTHS Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2003
10. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), QCT ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: QCT ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2002
11. Tô Văn Hòa chủ biên (2012), Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, sách chuyên khảo, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới
Tác giả: Tô Văn Hòa chủ biên
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
12. Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc (2002), Giáo trình công tác kiểm sát, NXB pháp luật Bắc Kinh (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác kiểm sát
Tác giả: Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc
Nhà XB: NXB pháp luật Bắc Kinh (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội)
Năm: 2002
13. Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc (2002), Giáo trình chế độ công tố, NXB pháp luật Bắc Kinh (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chế độ công tố
Tác giả: Học viện cán bộ kiểm sát quốc gia Trung Quốc
Nhà XB: NXB pháp luật Bắc Kinh (bản dịch của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội)
Năm: 2002
14. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ- HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử PT” của BLTTHS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử PT
Tác giả: Hội đồng thẩm phán TAND tối cao
Năm: 2005
15. Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong TTHS Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chức năng trong TTHS Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2012
16. Nguyễn Văn Huyên (2002), Thẩm quyền của các cấp TA trong TTHS, Luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của các cấp TA trong TTHS
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2002
17. Vũ Gia Lâm (2008), Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 2008
18. Nguyễn Đức Mai (2004), PT trong tố tụng hình sự, luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PT trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2004
19. Phan Thị Thanh Mai (1998), PT trong TTHS, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PT trong TTHS
Tác giả: Phan Thị Thanh Mai
Năm: 1998
20. Phan Thị Thanh Mai (2007), GĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Thanh Mai
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w