MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮTBộ LĐ-TBXH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch CEDAW Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
Trang 1
Đánh giá năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước
và các cơ quan có liên quan khác để thực hiện Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Báo cáo cuối cùng:
Những phát hiện và khuyến nghị
Trang 2Tháng 9 năm 2010
Trang 3Lời cảm ơn
Báo cáo này và những phụ lục đính kèm là kết quả của sự nỗ lựchợp tác của một nhóm các chuyên gia quốc tế và quốc gia, gồmchị Andrea Mestrov, anh Lars Udsholt, chị Vũ Thu Hồng và chị
Lê Thị Mai Hương Báo cáo được thực hiện với sự hợp tác chặtchẽ của Viện Gia đình và Giới với lời cảm ơn đặc biệt tới Tiến
sỹ Nguyễn Hữu Minh, Viện trưởng và các cán bộ nghiên cứu củaViện Sự hỗ trợ quý báu của Ban Quản lý dự án Ô (PMU)Chương trình Hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liênhợp quốc về Bình đẳng giới (JPGE) của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội, với lời cảm ơn đặc biệt tới bà Nguyễn Thị DiệuHồng, Phó giám đốc và chị Aya Matsuura, chuyên gia giới củaJPGE Chị Patricia Rosa Garcia, cán bộ chương trình củaUNIFEM Việt Nam đã hỗ trợ nhằm đảm bảo Báo cáo đem lại giátrị gia tăng đối với JPGE Nhóm đặc biệt cảm ơn về sự hợp táccủa tất cả những người cung cấp thông tin đến từ các tổ chức:Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Vụ cácvấn đề xã hội), Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; các tổchức của Chính phủ, gồm: Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin
và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn; các tổ chức quần chúng: Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nôngdân Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Mặt trận Tổquốc Việt Nam; các mạng lưới tổ chức phi chính phủ: CSAGA,NEW, CEPEW; và các tổ chức của Liên hợp quốc và tổ chức tàitrợ tại Việt Nam: UNDP, UNFPA, Văn phòng Điều phối viênThường trú của Liên hợp quốc, UNIFEM và AECID
Quá trình viết, biên tập và điều phối đã được bà Andrea Mestrov(chuyên gia tư vấn chính) thực hiện dưới sự giám sát của chị
Trang 4Patricia Rosa Garcia (cán bộ chương trình, UNIFEM Việt Nam),
bà Nguyễn Thị Diệu Hồng (chuyên viên chính Vụ Bình đẳnggiới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và chị AyaMatsuura (chuyên gia giới của JPGE) và sự quản lý của Tiến sỹSuzette Mitchell (Giám đốc quốc gia, UNIFEM Việt Nam)
Trang 5NỘI DUNG
1.1 Bối cảnh và những mục tiêu của Báo cáo Đánh giá Năng lực
Error! Bookmark not defined.
1.2 Phát triển năng lực và Giới: Văn hóa thay đổi và cầu thị 11
3.2 Môi trường điều chỉnh chính sách – Luật Bình đẳng giới 24
3.4 Môi trường điều chỉnh chính sách – Luật Phòng, chống bạo
Trang 6Phụ lục 1: Các công cụ của phương pháp luận
Phụ lục 2: Các bảng kiểm cuối cùng - phản ánh nhanh về năng lực củamỗi một tổ chức và tỉnh/thành phố
Trang 7MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TBXH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CEDAW Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân
biệt đối xử chống lại phụ nữ
DOVIPNET Mạng Phòng, chống bạo lực gia đình
GENCOMNET Mạng Giới và Phát triển Cộng đồng
Hội LHPN Hội Liên hiệp Phụ nữ
IFGS Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới
JPGE Chương trình Hợp tác chung giữa Chính phủ
Việt Nam và Liên hợp quốc về Bình đẳng giới Luật BĐG Luật Bình đẳng giới
Luật PCBLGĐ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
M&E Giám sát và đánh giá
NCFAW Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ
Trang 8Sở LĐ-TBXH Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Sở VHTTDL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
SWOT Mặt mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc
UNIFEM Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên hợp quốc VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VSTBPN Vì sự tiến bộ của phụ nữ
Trang 91 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh và những mục tiêu của đánh giá năng lực
Chương trình chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợpquốc về Bình đẳng giới (JPGE) đang hỗ trợ kỹ thuật mang tínhchiến lược, đa ngành và được điều phối nhằm xây dựng năng lựccho các cơ quan chịu trách nhiệm ở cấp trung ương và cấp tỉnh
để các cơ quan này có thể thực hiện tốt hơn hai luật: Bình đẳnggiới và Phòng, chống bạo lực gia đình từ năm 2009 đến năm
2011 Với sự hình thành một khối vững chắc và đồng tâm nhấttrí của 12 cơ quan, Liên hợp quốc đang ở vị thế thuận lợi hơn đểhợp tác với các đối tác quốc gia nhằm đem lại sự thay đổi ở cấpcao nhất hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam
Đặt việc thực hiện các quyền con người và an ninh của phụ
nữ vào trọng tâm của tất cả các nỗ lực của mình, Quỹ Phát triểnPhụ nữ của Liên hợp quốc (UNIFEM) tập trung các hoạt độngcủa mình trong JPGE đối với các Kết quả chung sau đây:
Các kỹ năng, kiến thức và thực tiễn để thực hiện, giámsát, đánh giá và báo cáo Luật Bình đẳng giới và LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình được cải thiện;
Các mối quan hệ đối tác và điều phối về bình đẳng giới ởtrong và ngoài Chính phủ được nâng lên
Chương trình Hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam vàLiên hợp quốc về Bình đẳng giới (JPGE) đang được Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội (MOLISA) quản lý với tư cách là
cơ quan quản lý nhà nước đối với Chương trình chung và QuỹDân số Liên hợp quốc (UNFPA) với tư cách là cơ quan quản lýcủa Liên hợp quốc JPGE có ba cấu phần, mỗi một cấu phầnđược một cơ quan của Chính phủ và một cơ quan của Liên hợpquốc điều phối, liên quan đến những lĩnh vực chuyên môn tươngứng của các cơ quan đó Ba cơ quan điều phối của Liên hợp quốc
đã được giao nhiệm vụ như những điều phối viên từ phía Liênhợp quốc nhằm đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ và hài hòa QuỹDân số Liên hợp quốc (UNFPA) đang cùng điều phối với Bộ
Trang 10Văn hóa, Thể thao và Du lịch (MOCST), UNIFEM với Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội (MOLISA) và Chương trình Pháttriển Liên hợp quốc (UNDP) với Tổng cục Thống kê (GSO)
Dự án cấu phần do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiquản lý và UNIFEM điều phối tập trung nâng cao năng lực chocác cơ quan của Chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự có liênquan trong thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo Luật Bìnhđẳng giới Tương tự, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vàUNFPA tập trung vào nâng cao năng lực cho các cơ quan củaChính phủ và các tổ chức xã hội dân sự có liên quan trong thựchiện, giám sát, đánh giá và báo cáo Luật Phòng, chống bạo lựcgia đình UNDP và Tổng cục Thống kê tập trung vào củng cố cơ
sở dữ liệu dựa trên bằng chứng và những hệ thống dữ liệu nhằmthúc đẩy bình đẳng giới
Nhiệm vụ này liên quan tới Kết quả chung 1 của JPGEđược nêu ở trên Nhiệm vụ đánh giá năng lực này đã đượcUNIFEM và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội điều phốithực hiện ở năm đầu tiên của JPGE
Những mục tiêu cụ thể của nhiệm vụ này là:
Đánh giá những năng lực của tất cả các cơ quan chịu tráchnhiệm thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo hai luật;
Trang 111.2 Phát triển năng lực và Giới: Văn hóa thay đổi và cầu thị 1
Văn hóa và những vấn đề giới thay đổi liên tục; mục tiêu
là thay đổi những giá trị giới đang ngăn cản cơ hội của những thành viên nhất định của xã hội tham gia vào và thụ hưởng bình đẳng những thành quả của Việt Nam.
Văn hóa là một phần cơ cấu của mọi xã hội và đặc biệt đốivới Việt Nam đang có và tự hào về một nền văn hóa và nhữngtruyền thống mang đậm bản sắc Văn hóa định hình “cách thứccác vấn đề được thực hiện” và hiểu biết của mọi người là tại saonên như vậy Những kỳ vọng về những thuộc tính và hành vi phùhợp với phụ nữ và nam giới và về các mối quan hệ giữa phụ nữ
và nam giới - nói cách khác, giới - được văn hóa định hình.Những thuộc tính giới và các mối quan hệ giới là những khíacạnh quyết định của văn hóa vì những khía cạnh này định hìnhcách thức cuộc sống hàng ngày trong gia đình, cũng như trongcộng đồng rộng lớn hơn và tại nơi làm việc Trong khi bản chấtcủa các mối quan hệ giới thay đổi giữa các xã hội, có một đặctrưng chung là phụ nữ có ít quyền lực cá nhân hơn, ít nhữngnguồn lực hơn để tùy ý sử dụng và ít có ảnh hưởng đối với cácquá trình ra quyết định mà sẽ định hình nên các xã hội và cuộcsống của bản thân họ Đặc trưng này của sự khác biệt trên cơ sởgiới là vấn đề cả về quyền con người và phát triển quốc gia Tuynhiên, các xã hội và các nền văn hóa không tĩnh tại - các xã hội
và các nền văn hóa là những thực thể sống động liên tục đổi mới
và tái định hình Cũng như với văn hóa nói chung, những tưtưởng về giới thay đổi theo thời gian đáp ứng rất nhiều yếu tố -
xã hội, kinh tế, pháp luật, chính sách và từ sự ảnh hưởng của xãhội dân sự Trong quá trình tiến hóa này, một số các giá trị được
1 1 Tư liệu trong phần này được rút ra từ “Hướng dẫn lồng ghép giới trong xây dựng và thực hiện chính sách quốc gia: Hướng tới bình đẳng giới
ở Việt Nam”, Hà Nội 2008, tr 19
Trang 12tái khẳng định trong khi các giá trị khác bị thách thức vì khôngcòn phù hợp Lồng ghép giới là một chiến lược nhằm đạt đượcbình đẳng giới giữa phụ nữ và nam giới thông qua nâng cao nhậnthức và thách thức những giá trị và niềm tin dẫn đến một sốthành viên của xã hội bị từ chối được công nhận một cách bìnhđẳng, các cơ hội và khả năng tiếp cận các thành quả của sự pháttriển của đất nước
Lồng ghép các vấn đề giới có nghĩa là thay đổi hiện trạng Thay đổi thường đầy thách thức và gặp phản ứng Thay đổi thành công phụ thuộc vào sự dũng cảm và trung thực.
Lồng ghép các vấn đề bình đẳng giới kéo theo sự thách thứchiện trạng - có nghĩa là thực hiện những thay đổi cách thức namgiới và phụ nữ suy nghĩ, quan tâm và làm việc và thay đổi một
số niềm tin đã có từ lâu về vai trò và giá trị của nam giới và phụ
nữ Thay đổi có thể đem đến những cơ hội mới Tuy nhiên, chắcchắn có sự phản kháng mạnh mẽ đối với thay đổi Những ngườicho rằng họ có thể ‘mất mát’ trong quá trình thay đổi có thể sẽphản kháng quyết liệt đối với thay đổi Những người khác có thểnghi ngờ có những cách thức hiệu quả để đạt được thay đổi lớn
về tổ chức Thay đổi thành công đòi hỏi liên quan đến quản lýcấp cao - một thực tế đã được chứng minh rất rõ trên khắp thếgiới và đặc biệt liên quan đến đạt được bình đẳng giới Để đạtđược thay đổi, phụ nữ và nam giới phải có thiện ý công nhận vàbày tỏ rõ cần thay đổi gì và làm thế nào để thay đổi; điều này baogồm một lập trường kiên định trong thúc đẩy thay đổi vì bìnhđẳng giới
Phát triển năng lực là một cách thức nhằm đề cao thay đổi,hình thành động cơ và các kỹ năng và thay đổi những quan điểmtheo hướng tạo ra bình đẳng giới thông qua lồng ghép giới Nhưgợi ý trong báo cáo này, có nhiều cách thức đa dạng phát triểnnăng lực và mỗi một cách tiếp cận cần phù hợp với mỗi một thểchế, tổ chức hoặc cá nhân
Trang 132 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phương pháp luận đánh giá năng lực của UNDP đã được lựachọn đối với hoạt động đánh giá năng lực này (ĐGNL) ĐGNLđòi hỏi nhận biết những năng lực chính đang có cũng như nhữngnăng lực bổ sung cần có để thực hiện, giám sát, đánh giá và báocáo hai Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực giađình Do vậy ĐGNL là một phân tích những năng lực đượcmong muốn so với những năng lực hiện có tạo nên một sự hiểubiết về những nguồn vốn năng lực và những nhu cầu có thểthông tin cho việc định hình một sự đáp ứng của JPGE và củabất kỳ các chương trình và sáng kiến khác có liên quan về pháttriển năng lực
Nhóm nghiên cứu đã nhất trí đặt ra mức độ mong muốn vềnăng lực vào năm 2011 nên bao gồm những thuộc tính và các kếtquả sau:
Cam kết chính trị ở các cấp lãnh đạo;
Có chuyên gia giới để hỗ trợ kỹ thuật về lồng ghép giới;
Có cơ chế mang tính thể chế, ví dụ các cán bộ đầu mối vềgiới;
Có chính sách về tổ chức;
Nhận thức cơ bản về giới của đội ngũ cán bộ nhân viên;
Kế hoạch hành động với trách nhiệm giải trình rõ ràng;
Có người chủ trương tích cực/cán bộ đầu ngành về giới;
Văn hóa hỗ trợ của tổ chức hướng tới bình đẳng giới, baogồm cả hỗ trợ từ các cán bộ nhân viên là nam giới
UNDP định nghĩa các năng lực là “khả năng của con người,
các thể chế và các xã hội thực hiện các chức năng, giải quyết các vấn đề, đặt ra và đạt được các mục tiêu” Hình thành một sự
đáp ứng về phát triển năng lực dựa trên những phát hiện vàkhuyến nghị của báo cáo này tốt nhất nên được gắn kết với chiếnlược phát triển năng lực của các tổ chức chịu trách nhiệm chínhđối với việc thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo hai luật.Bảng dưới đây mô tả phạm vi công việc của ĐGNL
Trang 14Bảng 1 Phạm vi công việc của Báo cáo Đánh giá Năng lực
được mong đợi
Năng lực hiện
có
Khoảng trống trong năng lực và những yếu tố cản trở
Những quá trình &
hệ thống đổi mới
Triển vọng để tăng cường năng lực & khắc phục các hạn chế
Phương pháp luận đánh giá năng lực của UNDP hoàn toàn
phù hợp với môi trường cho phép và ở cấp độ tổ chức; phươngpháp này được định hình trên nền tảng và xuất phát điểm đối vớinhiệm vụ đánh giá năng lực này Phương pháp luận này bao gồm
3 cấu phần sẽ được thảo luận ở bên dưới: Khung đánh giá năng
Trang 15lực của UNDP, tiến trình và phương pháp luận và các công cụ đểthu thập và phân tích số liệu.
2.1 Khung đánh giá năng lực
Khung dành cho đánh giá năng lực bao gồm ba chiều cạnhchính:
a) Những xuất phát điểm: UNDP thừa nhận rằng năng lực
tập trung ở ba cấp độ - môi trường cho phép, cấp độ tổ chức và
cá nhân Do các nguồn lực hạn hẹp về thời gian, nhân sự và kinhphí, đánh giá năng lực được tập trung vào môi trường cho phép
và cấp độ năng lực của tổ chức Đánh giá năng lực ở cấp độ cánhân sẽ là một hoạt động riêng với những phát hiện và khuyếnnghị từ Báo cáo Đánh giá Năng lực này, như đầu vào trong xâydựng một cách tiếp cận đánh giá năng lực ở cấp độ cá nhân
b) Những vấn đề trọng tâm: Có bốn vấn đề phổ biến phải
đối đầu về năng lực, tất cả những vấn đề đó đều sẽ được đề cậptrong Đánh giá này2:
(i) Cơ cấu thể chế đề cập đến các chính sách, thủ tục và
quy trình mà các quốc gia có để xây dựng luật pháp, lập
kế hoạch và quản lý điều hành sự phát triển, các quy tắc,biện pháp thay đổi và các chức năng khác của đất nước
Về bản chất, vấn đề cơ cấu thể chế có mặt ở mọi khíacạnh của phát triển và quản lý khu vực công Điều đòi hỏiphải quan tâm đến thực hiện chức năng và cơ cấu thể chếhiệu quả vẫn là động lực lớn đối với năng lực và do vậyđối với năng lực thực thi
(ii) Lãnh đạo là khả năng để ảnh hưởng, truyền cảm hứng
và thúc đẩy mọi người, các tổ chức và xã hội đạt được
-và tiến xa hơn - các mục tiêu của mình Một đặc trưng
2 2 Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của UNDP qua một loạt các lĩnh vực
và chủ đề Có thể tham khảo Bản Hướng dẫn Đánh giá năng lực năm 2008 của UNDP đối với nội dung giải thích chi tiết hơn.
Trang 16quan trọng của lãnh đạo giỏi là khả năng lường trước (đôikhi gây xúc tác), chịu trách nhiệm và quản lý thay đổinhằm thúc đẩy phát triển con người Mặc dù hầu hết sựlãnh đạo thường gắn với một cá nhân người lãnh đạo, nócũng có thể tập trung trong một đơn vị của nhà nước chỉđạo việc thực hiện cải cách hành chính công Những yếu
tố quyết định chủ chốt của sự lãnh đạo - những khả năng
để tập hợp những người khác dưới một mục tiêu chung,tạo nên một tầm nhìn và quản lý việc thực hiện mục tiêuchung đó và đưa ra một mẫu hình về quy tắc đạo đức
(iii) Kiến thức đề cập đến sự sáng tạo, sự thu hút và sự
truyền bá thông tin và chuyên môn về các giải pháp pháttriển hiệu quả Các nhu cầu về kiến thức có thể được quantâm ở các cấp độ khác nhau (quốc gia/địa phương/lĩnhvực, sơ cấp/trung cấp/cao cấp) và thông qua các cách thứckhác nhau (giáo dục chính quy, tập huấn kỹ thuật, cácmạng kiến thức và học tập phi chính thức) Kiến thức cóthể được khuyến khích ở cấp độ tổ chức, ví dụ, thông quamột hệ thống quản lý kiến thức hoặc một chiến lược họctập của tổ chức
(iv) Trách nhiệm giải trình tồn tại khi hai bên cùng tham
gia một tập hợp các nguyên tắc và thủ tục chi phối nhữngtác động qua lại của họ và dựa trên một sự đồng thuận hoặchiểu biết lẫn nhau về những vai trò và trách nhiệm có liênquan Tập hợp này tồn tại khi cả những nhóm nắm giữquyền và nhóm thực hiện trách nhiệm chuyển giao cácnghĩa vụ của họ Nó cho phép các tổ chức và hệ thống giámsát, học hỏi, tự điều chỉnh và điều chỉnh hành vi của họtrong tác động qua lại lẫn nhau với những người mà họ cótrách nhiệm giải trình (các khách hàng, các công dân, cácđối tác) Nó bao gồm cả sức sáng tạo và sử dụng khônggian và các cơ chế khuyến khích cả nhóm nắm giữ quyền
và nhóm thực hiện trách nhiệm trong một đối thoại để giámsát và hướng dẫn các hành động của mình, chẳng hạn thôngqua các cơ chế rà soát hoặc các cơ quan giám sát công
Trang 17c) Các năng lực thuộc chức năng: Các năng lực thuộc chức
năng trong trường hợp này bao gồm năng lực thực hiện, giámsát, đánh giá và báo cáo về hai luật
Bảng dưới đây minh họa một khung hướng dẫn xây dựngcác câu hỏi đánh giá và phân tích số liệu, kết hợp cả các vấn đềtrọng tâm và các năng lực thuộc chức năng
Bảng 2 Khung phân tích dữ liệu
Những vấn đề
trọng tâm
Các năng lực thuộc chức năng
Thực hiện Giám sát Đánh giá Báo cáo
Nhóm chuyên gia quốc tế, gồm hai tư vấn quốc gia và hai tưvấn quốc tế, đã đưa ra các kết quả kỹ thuật chủ yếu, bao gồm kếhoạch công tác và hội thảo tập huấn về phương pháp luận và cáccông cụ, dự thảo báo cáo cuối cùng và trình bày những phát hiện
và các khuyến nghị Nhóm chuyên gia quốc tế cũng đã giám sát
và đảm bảo chất lượng của các hoạt động và kết quả của ViệnNghiên cứu Gia đình và Giới Viện đã thu thập số liệu và thựchiện phân tích ban đầu các số liệu Nhóm chuyên gia quốc tế đã
Trang 18hỗ trợ Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội chuẩn bị hậu cầncho Hội thảo cuối cùng Những người cung cấp thông tin chínhtham gia vào các cuộc phỏng vấn và các thảo luận nhóm trọngtâm đã tạo nên phần chủ yếu về số liệu của đánh giá này
Đáng lưu ý là Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội đã đảmbảo việc liên hệ trước với các đối tác thực hiện về tầm quantrọng của đánh giá năng lực - gợi ý cho các đối tác thực hiện vềpháp luật mới đã giúp ích nhiều trong vận động những ngườicung cấp thông tin chính Kế hoạch thực địa của Viện đượcchuẩn bị kỹ càng linh hoạt là vô cùng quan trọng đối với một hệthống thu thập số liệu hiệu quả
a) Tập huấn chuẩn bị cho các nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (IFGS)
Nhóm chuyên gia quốc tế đã tiến hành một hội thảo đào tạonửa ngày cho 12 nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Gia đình
và Giới, giới thiệu tổng quan về nhiệm vụ đánh giá năng lực;phương pháp luận; và chuẩn bị cho các nhóm nghiên cứu để sửdụng các công cụ đánh giá năng lực đối với thực địa
b) Thu thập dữ liệu thực địa
Thu thập dữ liệu thực địa được thực hiện từ ngày 3 đến 24tháng 11 năm 2009 Mười hai nghiên cứu viên của Viện Nghiêncứu Gia đình và Giới được tập huấn cơ bản về phương pháp vàcác công cụ để tham gia thu thập dữ liệu thực địa Ngoài ra, cònsáu nghiên viên khác tham gia nhóm để giúp tiến hành quá trìnhthu thập số liệu thực địa
Ba thành viên của nhóm chuyên gia quốc tế chịu tráchnhiệm đảm bảo về chất lượng đối với các nhóm nghiên cứu thựcđịa bằng cách phân công một thành viên phụ trách hai nhóm chịutrách nhiệm đối với các tỉnh miền Nam, một phụ trách các nhómchịu trách nhiệm đối với các tỉnh miền Bắc và hai phụ trách cácnhóm chịu trách nhiệm đối với các cơ quan Trung ương và HàNội Đôi khi, tất cả bốn nhóm nghiên cứu cùng đồng thời tiếnhành công việc, ngăn cản việc giám sát kỹ thuật lên tất cả cáccông việc thực địa
Trang 19Vào cuối thời gian thực địa ở mỗi một tỉnh đều thực hiện cácphiên phản hồi Các phỏng vấn sâu đã được tiến hành với mộtđại diện từ các cơ quan chủ chốt quan trọng nhất trong thực hiệnhai luật Ở cấp trung ương có 7 cơ quan, gồm: Bộ Y tế, Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Bộ Tư pháp, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, một số tổ chức vềcộng đồng (CBOs) và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ(NCFAW) Ở cấp tỉnh có tám cơ quan: Sở Lao động – Thươngbinh và Xã hội (DOLISA), Sở Kế hoạch và Đầu tư (DPI), Ban vì
sự tiến bộ của phụ nữ (CFAWs), Hội phụ nữ, Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Sở Y tế, Sở Tư pháp và Sở Nội vụ
c) Các phiên báo cáo tóm tắt
Các nhóm nghiên cứu thu thập số liệu thực địa đã thực hiệnhai phiên báo cáo tóm tắt với chuyên gia tư vấn quốc tế về nhữnghạn chế phải đối mặt trong quá trình ở thực địa và trình bàynhững phát hiện chính có được trong các Bảng kiểm cuối cùng ởcác tỉnh (xem Mẫu 13, Phụ lục 1)
d) Phân tích và tổng hợp số liệu
Phân tích ban đầu các số liệu được các nhóm nghiên cứu củaViện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện và trình bày vớiChuyên gia quốc tế thông qua các phiên báo cáo thảo luận tómtắt và qua các bản báo cáo Chuyên gia quốc tế tổng hợp cácphân tích từ các nhóm nghiên cứu Chuyên gia quốc tế đã thựchiện một phân tích ở phạm vi rộng hơn đối với toàn bộ tập hợp
cơ sở dữ liệu thu được Sau đó Chuyên gia quốc tế tổng hợpnhững phát hiện cho báo cáo về những khoảng trống cụ thể trongnăng lực của tổ chức ở cấp trung ương và cấp tỉnh
e) Trình bày và thông qua các kết quả
Các mục tiêu của hoạt động đánh giá năng lực, phương phápluận, những phát hiện và các khuyến nghị chính đã được trìnhbày tại một Hội thảo tổ chức ở Hà Nội, tháng 12 năm 2009 đểxem xét và thông qua những phát hiện và các khuyến nghị chính
Trang 202.3 Phương pháp luận và các công cụ để thu thập và phân tích số liệu
Nghiên cứu này đã sử dụng thảo luận nhóm trọng tâm và cácphỏng vấn sâu để thu thập số liệu
Chắc chắn xác định được cấp độ của năng lực hiện có thôngqua các công cụ định tính và định lượng Các số liệu mà cáccông cụ thu thập được được phân tích hàng ngày ở thực địa theomột mẫu hướng dẫn nghiệp vụ cho các nghiên cứu viên Nhữngphát hiện này giúp đưa ra bất kỳ điều chỉnh cần thiết nào đối vớinhững câu hỏi đánh giá của ngày tiếp theo và của kế hoạch thựcđịa Những phân tích được hoàn thành sẽ được tổng hợp cho báocáo về những khoảng trống cụ thể trong năng lực của tổ chức và
là đầu vào cho một phân tích ở phạm vi rộng hơn và mang tínhchiến lược hơn do Chuyên gia quốc tế thực hiện Các công cụthu thập và phân tích số liệu bao gồm:
Những môi trường điều chỉnh chính sách trong đó những
cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động;
Những nhiệm vụ, chức năng và chiến lược của những cơquan chịu trách nhiệm thực hiện;
Cơ cấu và văn hóa tổ chức của các cơ quan chịu tráchnhiệm thực hiện: các yếu tố bên ngoài, sự liên kết/mốiquan hệ với các tổ chức khác, các quan điểm của nhómkhách hàng/người sử dụng, văn hóa và phong cách quản lý,
cơ cấu tổ chức, hoạch định và ra quyết định chính sách;
Những hệ thống và tiến trình của những cơ quan chịutrách nhiệm thực hiện, bao gồm quản lý tài chính và tráchnhiệm giải trình;
Nguồn nhân lực của những cơ quan chịu trách nhiệm thực
Trang 21hiện (đội ngũ nhân viên, quản lý nhân sự, năng lực, khenthưởng/tiền công, v.v).
Các hồ sơ mô tả tổ chức được coi là một nguồn đầu vàoquan trọng trong thiết kế những công cụ đánh giá khác và lựachọn các câu hỏi đánh giá Các hồ sơ mô tả tổ chức cũng đượccoi là một nguồn quan trọng của những thông tin cơ bản của tổchức Một phân tích SWOT đối với mỗi một hồ sơ mô tả tổ chức
đã được thực hiện ở những giai đoạn khác nhau trong Báo cáoĐánh giá Năng lực và các kết quả được thể hiện theo một mẫu
(xem Mẫu 1 trong Phụ lục 1 về mẫu) Phân tích SWOT đánh
giá những Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức liênquan đến việc thông qua hai luật - những yếu tố bên trong và bênngoài thuận lợi và bất lợi - và nhận biết những phạm vi để tiếptục phát triển
2) Các câu hỏi đánh giá.
Một tập hợp các câu hỏi đánh giá chung và chi tiết đã đượcxây dựng để hướng dẫn các nhóm đánh giá năng lực để bao trùmnhững vấn đề cốt lõi và những năng lực theo chức năng (Phụ lục1) Những câu hỏi chung đã hướng dẫn các nhóm trong vòngthăm dò đầu tiên của họ, nghĩa là: việc rà soát đánh giá của họđối với tài liệu, các nghị định, các luật, hồ sơ và các báo cáo).Những câu hỏi chi tiết đã hướng dẫn các nhóm trong thu thập sốliệu tại các thảo luận nhóm trọng tâm và các phỏng vấn sâu
3) Các kỹ thuật có sự tham gia
Các nghiên cứu viên đã được khuyến khích sử dụng một loạtcác công cụ, theo một cách thức nhạy cảm giới, để điều hành cácthảo luận nhóm trọng tâm, bao gồm phân tích đối tác/sơ đồVenn, phân tích lịch sử/các dấu mốc lịch sử và các kỹ thuậtthẻ/động não (xem danh mục các công cụ và tập hợp các câu hỏitrong Mẫu 1, Phụ lục 1)
4) Các mẫu phỏng vấn.
Mẫu phỏng vấn (Phụ lục 1) đã được thiết kế có sử dụng 5câu hỏi chính để rút ra kết quả được dự định của Đánh giá Năng
Trang 22lực - 5 câu hỏi chính đã được điều chỉnh đối với mỗi một cơquan tùy theo những vai trò và trách nhiệm chính của họ
5) Các bảng kiểm dành cho tổ chức và các bảng kiểm dành cho tỉnh/thành phố.
(Mẫu 13, Phụ lục 1)3 Đối với mỗi một tổ chức được phỏngvấn ở cấp trung ương và cấp tỉnh (với tổng số 41: 35 cấp tỉnh và
6 ở cấp trung ương), một bảng kiểm dành cho tổ chức đã đượchoàn thành cho mỗi một luật Từ các bảng kiểm dành cho tổchức, một bảng kiểm dành cho tỉnh/thành phố (với tổng số 5) đốivới mỗi một luật đã được hoàn thành Mục đích của các bảngkiểm là đánh giá liệu 11 yếu tố chính, được biết là quan trọng đốivới việc thực hiện luật thành công, có hiện diện hoặc không hiệndiện trong một tổ chức Mức độ theo đó các yếu tố tồn tại là mộtphần quan trọng của việc đánh giá năng lực thực hiện, giám sát,đánh giá và báo cáo về hai luật
2.4 Những người cung cấp thông tin chính
15 tổ chức và 5 tỉnh đã được chọn trước đối với đánh giádựa trên các tỉnh và các tổ chức mục tiêu trong Chương trìnhchung (JPGE) Năm tỉnh đó là: Thủ đô Hà Nội, Thái Bình và HàNam (các tỉnh miền Bắc) và Đồng Nai và Bình Dương (các tỉnhmiền Nam) Các tổ chức đã được đánh giá đó là: Ban Tuyên giáoTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Vụ các Vấn đề Xã hội),
Ủy ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội; các tổ chức của Chínhphủ, gồm: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông,
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;các tổ chức quần chúng: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoànthanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam,Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt
3 3 Được điều chỉnh cho phù hợp từ Phụ lục 2 một chuỗi Bảng kiểm Giới của Hướng dẫn Lồng ghép Giới trong hoạch định và thực hiện chính sách quốc gia - Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua Hoạch định
và Chính sách quốc gia có trách nhiệm giới NCFAW, Hà Nội, 2008.
Trang 23Nam; và các tổ chức phi chính phủ sau đây: DOVIPNET, NEW,GENCOMNET.
Tổng số 25 nhân viên của 15 Bộ, Vụ hoặc Ban đã đượcphỏng vấn để biên tập các hồ sơ mô tả tổ chức và các thảo luậnnhóm trọng tâm và phỏng vấn sâu sau đây đã được thực hiện:
Cấp trung ương: 5 thảo luận nhóm trọng tâm, 6 phỏng vấnsâu
Hà Nội: 4 thảo luận nhóm trọng tâm, 3 phỏng vấn sâu
Hà Nam: 4 thảo luận nhóm trọng tâm, 8 phỏng vấn sâu
Thái Bình: 4 thảo luận nhóm trọng tâm, 8 phỏng vấn sâu
Đồng Nai: 4 thảo luận nhóm trọng tâm, 8 phỏng vấn sâu.Bình Dương: 4 thảo luận nhóm trọng tâm, 8 phỏng vấn sâu
3 BỐI CẢNH
Phần này mô tả bối cảnh xây dựng và thông qua Luật Bìnhđẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
3.1 Luật Bình đẳng giới
“Mặc dầu với những căn nguyên và sự đa dạng trong mô
hình, hầu hết các luật bình đẳng giới đều nổi lên từ năm 2000 và
đã trở thành sự đáp ứng phổ biến ngày càng tăng đối với bình đẳng giới và là những nghĩa vụ do CEDAW tạo nên” 4
Luật Bình đẳng giới (GEL) ở Việt Nam có căn nguyên từHội Liên hiệp Phụ nữ (WU) Hội Liên hiệp Phụ nữ đã đệ trình
dự thảo đầu tiên của luật lên Quốc hội vào năm 2005 với mộtthực tiễn là rất nhiều đại biểu Quốc hội tin rằng bình đẳng giới
đã được phản ánh đầy đủ trong tất cả các luật khác, vì vậy việcđưa ra một Luật Bình đẳng giới riêng là không cần thiết Một
dự thảo luật do Hội Liên hiệp Phụ nữ đệ trình không phải làthông lệ
4 4 Những Luật Bình đẳng giới, thực tiễn điển hình trên toàn cầu và một Đánh giá về năm (5) Quốc gia Đông Nam Á, tháng 3 năm 2009.
Trang 24Quá trình xây dựng dự thảo đầu tiên của luật có sự hỗ trợcủa một chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Phát triển châu Á choHội Liên hiệp Phụ nữ Ban Soạn thảo bao gồm Bộ Tư pháp, BộGiáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và Nội vụ và Hội Liên hiệp Phụ nữchủ trì UNIFEM đảm bảo luật gắn kết chặt chẽ với Công ướcCEDAW đến mức có thể Rất nhiều đại biểu Quốc hội đã đượctập huấn trong thời gian Luật được dự thảo
Năm 2006, Luật đã được Quốc hội xem xét và Ủy ban cácvấn đề xã hội đã phải thuyết phục Quốc hội là cần thiết có mộtluật riêng Giới là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam vàcác tổ chức của Liên hợp quốc đã đóng một vai trò đặc biệt trongviệc giới thiệu các khái niệm này
Cuối cùng, tháng 11 năm 2006, tất cả các đại biểu Quốc hội
đã thông qua Luật Theo đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xãhội được giao nhiệm vụ là cơ quan quản lý nhà nước về bìnhđẳng giới
3.2 Môi trường điều chỉnh chính sách - Luật Bình đẳng giới
Luật Bình đẳng giới là một khung pháp lý và là một tập hợpcác nguyên tắc Các văn bản quy phạm pháp luật khác đã đượcxây dựng để hướng dẫn thực hiện luật Ban đầu, Ủy ban Dân số,Gia đình và Trẻ em được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụxây dựng các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật5 Tuy nhiênnhiệm vụ này đã được chuyển sang cho Bộ Tư pháp do Ủy banDân số Gia đình và Trẻ em đã được giải thể theo Nghị quyết củaQuốc Hội tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội Khóa XII Cùng với
sự phối hợp của Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ ViệtNam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội, các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp
đã đã tích cực tiến hành việc xây dựng các dự thảo Nghị định,bao gồm:
5 5 Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03 tháng 5 năm 2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới.
Trang 25- Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtBình đẳng giới về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳnggiới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới;
- Nghị định quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳnggiới;
- Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về bìnhđẳng giới
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bình đẳnggiới cho đến nay bao gồm:
Luật Bình đẳng giới (GEL)
Chỉ thị số 10/2007/CTG ngày 3 tháng 5 năm 2007 củaThủ tướng Chính phủ để triển khai thực hiện Luật Bìnhđẳng giới
Nghị định số 70/2008NĐ-CP ngày 4 tháng 6 năm 2008hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bình đẳng giới
Thông tư số 191/2009/TT-BTC ngày 1 tháng 10 năm
2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sử dụng và quản lýnguồn kinh phí phân bổ cho các hoạt động bình đẳng giới
và vì sự tiến bộ phụ nữ
Giới được ghi nhận như một ưu tiên phát triển trong Kếhoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2006 - 2010 Chiếnlược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2006 - 2010 đưa
ra những mục tiêu cụ thể để thúc đẩy bình đẳng giới Chiến lượcnày và Kế hoạch hành động 5 năm có từ trước khi luật được banhành và vẫn tiếp tục có giá trị hiệu lực Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội chịu trách nhiệm đối với Chiến lược quốc gia, với
Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ hoạt động như một cơquan tham mưu và các Bộ có liên quan khác như các cơ quan
Trang 26thực hiện luật Vụ Bình đẳng giới của Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội hiện đang chịu trách nhiệm xây dựng Chiến lượcQuốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 và Chươngtrình mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015
sẽ hỗ trợ việc thực hiện Luật Bình đẳng giới
3.3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Trước Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (DVL), không cóchính sách hoặc khuôn khổ pháp lý để giải quyết bạo lực giađình Thông tin về vấn đề này nhìn chung bị hạn chế và số liệuthống kê bị thiếu hụt
Ủy ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội đã đệ trình dự thảođầu tiên của luật về bạo lực gia đình vào năm 2006, đây là điềuđiều hiếm thấy vì Ủy ban không đưa vào chương trình xây dựngluật Có rất nhiều phản đối trong Quốc hội đối với dự luật được
đề xuất, không chỉ của những đại biểu cao tuổi là nam giới mà cảcủa những đại biểu nữ Vấn đề đã không được coi là một ưu tiên
so với những vấn đề khác trong chương trình nghị sự Hơn nữa,
có một niềm tin là đã có các cơ quan có thẩm quyền giải quyếtnhững trường hợp bạo lực giống như các trường hợp quấy rốitình dục
Trong một nỗ lực vận động sự ủng hộ, đặc biệt với mộtQuốc hội mới đã hứa vào năm 2007, Ủy ban các Vấn đề Xã hội
và Hội Liên hiệp Phụ nữ đã tổ chức một loạt các Hội thảo và tọađàm trình bày các số liệu thống kê về bạo lực gia đình Một ngàytrước khi Luật được thông qua vào tháng 11 năm 2007,UNIFEM và Ủy ban các Vấn đề Xã hội đã mời các đại biểu chủchốt của Quốc hội đến họp về Công ước CEDAW và dự thảoLuật Phòng, chống bạo lực gia đình Họ đã nhất trí tại cuộc họp
là Luật cần được thông qua vào ngày hôm sau
3.4 Môi trường điều chỉnh chính sách - Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (MOCST) là cơ quan quản
lý nhà nước về Phòng, chống bạo lực gia đình và chịu trách
Trang 27nhiệm đối với việc thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực giađình Hai Nghị định liên quan đến việc thực hiện Luật Phòng,chống bạo lực gia đình nhằm: (1) làm rõ và hướng dẫn việc thựchiện Luật; và (2) xử lý những hành vi vi phạm Luật Cho đến naymới chỉ có một Nghị định được ban hành
Cho đến nay các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đếnPhòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 16/2008/CT-TTGngày 30 tháng 5 năm 2008 về triển khai thực hiện LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình
Nghị định của Chính phủ số 08/2009/ND-CP ngày 4tháng 2 năm 2009 về quy chế và hướng dẫn thực hiện một
số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
về năng lực - cơ cấu thể chế, trách nhiệm giải trình, lãnh đạo và
kiến thức; và các năng lực về chức năng - thực hiện, giám sát và đánh giá và công tác báo cáo Mỗi một điểm yếu về tổ chức
được xác định dưới đây được giải quyết bằng một khuyến nghịtương ứng trong phần 6
4.1 Cơ cấu thể chế
1) Những kẽ hở trong các Nghị định
6 6 Những tổ chức này bao gồm 15 tổ chức và 5 tỉnh đã được lựa chọn trước như những người cung cấp thông tin chủ chốt đối với đánh giá dựa trên những tổ chức và địa phương mục tiêu trong Chương trình chung về Bình đẳng giới.
Trang 28Cơ cấu thể chế đối với các tổ chức chủ chốt để thực hiện,giám sát, đánh giá và báo cáo về hai luật được quy định trongcác Nghị định, nhưng những trở ngại để thực hiện vẫn giữnguyên Có những kẽ hở trong các Nghị định và sự hướng dẫnthiếu chất lượng giữa các tổ chức đã ngăn cản việc thực hiện Ví
dụ, trong khi vai trò của Ủy ban Nhân dân là điều phối và hướngdẫn về hai luật - một thể chế đầy quyền lực trong hệ thống hànhchính, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Luật Bình đẳnggiới lại không được nhìn nhận như những ưu tiên
2) Những vai trò, trách nhiệm và trách nhiệm giải trình thiếu rõ ràng
Có sự lúng túng xung quanh những vai trò và trách nhiệmtrong mỗi một tổ chức và giữa các tổ chức Những nhiệm vụ củamột Vụ/Ban này đối với một Vụ/Ban khác trong cùng một tổchức thiếu rõ ràng Những cán bộ đầu mối của các Vụ/Ban vềcác vấn đề giới trong các tổ chức được trao nhiệm vụ bổ sungliên quan đến giới có thể không nhất thiết thuộc trách nhiệm của
họ Những người khác lo lắng về trách nhiệm giải trình đối vớihai luật không thể bắt đầu mà thiếu một chiến lược rõ ràng đểhướng dẫn họ, thiếu những vai trò và trách nhiệm được xác định
và những chức năng nhiệm vụ được gắn kết Cũng không có một
hệ thống để giữ những nhân viên có trách nhiệm đối với việcthực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo về hai luật
3) Nhận biết những cán bộ đầu mối và nuôi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn đầu ngành về Luật Bình đẳng giới và Phòng, chống bạo lực gia đình
Thông thường, chủ yếu quá trình thực hiện, giám sát và đánhgiá và công tác báo cáo rơi vào những cán bộ lâu năm đang làmviệc như những cán bộ đầu mối nhưng không nhất thiết phải lànhững cán bộ chuyên môn đầu ngành về Luật Bình đẳng giới vàLuật Phòng, chống bạo lực gia đình Những cán bộ đầu mối vànhững cán bộ chuyên môn đầu ngành trong một tổ chức đều đóngvai trò chủ chốt trong thực hiện các luật Những cán bộ chuyênmôn đầu ngành và những cán bộ đầu mối thường được nhìn nhận
Trang 29là cùng một người hoặc có cùng một chức năng trong một tổ chứcnhưng họ có thể là hai con người hoàn toàn khác nhau và có cácchức năng hoàn toàn khác nhau Những cán bộ đầu mối có nhữngvai trò và trách nhiệm được xác định cho mình (ví dụ các Ban vì
sự tiến bộ của phụ nữ) Những cán bộ chuyên môn đầu ngành cóthể là bất kỳ ai, chức năng, ban/uỷ ban, đơn vị hoặc vụ nào với bất
kỳ vai trò gì trong tổ chức mà được phát động và khuyến khích đểthực hiện hai luật Họ không phải là những chuyên gia trong lĩnhvực về giới hoặc bạo lực gia đình
4) Thiếu cơ chế điều phối và phối hợp đối với hai luật
Trách nhiệm chính về bình đẳng giới trước khi có Luật Bìnhđẳng giới thuộc về Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ.Hiện nay trách nhiệm đối với Luật Bình đẳng giới thuộc Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội và trách nhiệm đối với LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch Đánh giá Năng lực cho thấy phần này đã nêu ra nhữngthách thức trong thực hiện hai luật vì những lý do sau đây: (1)không có cơ chế để điều phối việc thực hiện hai luật; (2) Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch hoàn toàn mới mẻ với những vấn đềbạo lực gia đình khi được giao nhiệm vụ là cơ quan quản lý nhànước về bạo lực gia đình và (3) Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội đã bị quá căng ở khía cạnh năng lực, thậm chí ngay cảtrước khi Luật Bình đẳng giới được bổ sung vào danh mục đãquá căng của họ
5) Không có hoặc không đủ năng lực xây dựng kế hoạch ở
những cơ quan và tổ chức có liên quan
Phát triển nguồn nhân lực và tổ chức nên là vai trò của Vụ
Tổ chức và Cán bộ của mỗi một Bộ Phát triển nguồn nhân lực
và tổ chức là quan trọng đối với việc duy trì bất kỳ sự đáp ứnghoặc can thiệp nào về xây dựng năng lực trong một tổ chức Điềuhành mà không có sự phát triển nguồn nhân lực và tổ chức có thểtước bỏ quyền lực của tổ chức trong hoạch định, thực hiện vàgiám sát sự phát triển năng lực của họ Không có những đề cậpđối với vai trò của các Vụ Tổ chức và Cán bộ trong các Bộ và cơ
Trang 30quan có liên quan trong mối quan hệ về xây dựng năng lực củanhân viên để thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo một cáchhiệu quả hai luật
4.2 Thực hiện
1) Thiếu hướng dẫn mang tính thực tiễn
Ở tất cả các cấp, những hoạt động đang được thực hiện vềhai luật dường như là không được lập kế hoạch/không theo thểthức, không có hệ thống và không được gắn kết với một kếhoạch tổng thể Hầu hết các cơ quan đang đòi hỏi có nhữnghướng dẫn thực tiễn hơn Các kết quả thu được từ thảo luậnnhóm trọng tâm và phỏng vấn sâu cho thấy các cơ quan đang cốgắng giải thích luật và các nghị định một cách tốt nhất theo khảnăng của mình trong khuôn khổ chính sách hiện hành7 trong khiđang chờ đợi những chiến lược mới đối với mỗi một luật để hoànthành và dựa vào sự hướng dẫn đã được ban hành cho đến nay(các Nghị định, Quyết định, Thông tư liên bộ) để xây dựng các
kế hoạch công tác hàng năm và của tổ chức với những hoạt động
cụ thể liên quan đến hai luật
2) Những khoảng trống trong điều phối ở cấp cộng đồng
Những kết quả của báo cáo Đánh giá Năng lực nhận biếtchắc chắn một khoảng trống trong sự điều phối liên ngành liênquan đến việc thực hiện Đây là một thực tế hiển nhiên trongthực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Việc không đượcđáp ứng là một mối quan tâm đặc biệt trong thực hiện LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình Các tổ chức phi chính phủ ởtrong nước đóng một vai trò quan trọng trong hỗ trợ nạn nhâncủa bạo lực gia đình, làm việc với các gia đình và các cộng đồngcủa họ để ngăn ngừa bạo lực gia đình và khuyến khích các tiệnnghi y tế ở cấp huyện/quận để chữa trị cho nạn nhân của bạo lựcgia đình Các Sở Y tế, Tư pháp và Công an đóng một vai tròquan trọng trong hỗ trợ công việc của những tổ chức phi chínhphủ này thông qua cưỡng chế thi hành pháp luật và những hình
7 7 Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ.
Trang 31phạt theo cách thức kịp thời và được điều phối, cả ở các cộngđồng nơi họ đang làm việc và nội bộ trong những hệ thống củachính phủ
3) Thiếu những quy trình thủ tục rõ ràng để đệ đơn kiện và xét xử khiếu nại
Các luật cho phép một số các cơ quan nhận các khiếu nạinhưng không xác định rõ quy trình thủ tục theo đó một cá nhânviện dẫn một vi phạm các quyền theo luật định đệ đơn kiện; cũngkhông nhận biết các quy trình thủ tục xét xử khiếu nại
4) Thiếu các cơ chế để áp đặt các hình phạt
Sự lúng túng cũng tồn tại dưới hình thức hiện có của cơ chếphạt hoặc vẫn đang phải đặt ra
5) Nguồn lực không đầy đủ
Các kết quả cho thấy những nguồn lực không đầy đủ đượcphân bổ cho việc thực hiện, giám sát và đánh giá và báo cáo LuậtBình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Tăngnguồn quỹ, bổ sung đội ngũ cán bộ toàn thời có chất lượng, cảithiện các công cụ và vật chất và một ngân sách dành riêng chocác hoạt động của Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chốngbạo lực gia đình là tất cả các nhu cầu đã được nhận biết trong rấtnhiều các cuộc thảo luận nhóm trọng tâm Không được phân bổđầy đủ các nguồn lực, cả hai luật sẽ không biến chính sách trởthành hiện thực
Trang 32và cập nhật tiến độ Khi những đòi hỏi như vậy không được đưa
ra sẽ có rất ít khích lệ để hành động và đội ngũ cán bộ nhân viên
sẽ không có trách nhiệm giải trình đối với việc thực hiện LuậtBình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
có kiến thức rộng xung quanh các lĩnh vực này Điều này cũngđược phản ánh trong các kết quả của Đánh giá Năng lực Nhìnchung, kiến thức cơ bản và các kỹ năng chuyên môn về bạo lựcgia đình và bình đẳng giới còn thấp và không đủ để thực hiệnhiệu quả các luật Các nhà hoạch định chính sách và các chuyêngia chương trình không chịu mở rộng trọng tâm can thiệp của họ
từ ‘vì sự tiến bộ của phụ nữ’ sang quan tâm đến các vấn đề bìnhđẳng giới mà không nhận được những kiến thức và các công cụđược cập nhật về bình đẳng giới và bạo lực gia đình
Các khái niệm cơ bản về phát triển năng lực xung quanh
“trách nhiệm giải trình” và “văn hóa tổ chức” cũng còn mới và
dễ bị hiểu lầm; ví dụ rất nhiều “báo cáo” được giải thích là hìnhthức duy nhất của trách nhiệm giải trình Những khoảng trốngsau đây trong kiến thức và các kỹ năng đã được Đánh giá Nănglực nhận biết:
Các kỹ năng lãnh đạo và quản lý trong thực hiện LuậtBình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình(bao gồm việc hoạch định chiến lược, quản lý sự thay đổi,xây dựng và phát triển năng lực, trách nhiệm giải trình,động lực)
Những khái niệm cơ bản về giới, bình đẳng giới, bạo lựcgia đình và giám sát và đánh giá/báo cáo
Các công cụ thực tiễn lồng ghép giới
Trang 33 Nhận thức và hiểu biết về Luật Bình đẳng giới và LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình.
Quản lý đánh giá và nghiên cứu
Các chương trình và các hoạt động để bảo vệ các nạnnhân
Các chương trình và các hoạt động nhằm vào nam giới Đội ngũ cán bộ nhân viên làm việc ở cấp xã/phường đượcnhận biết là hấu hết có nhu cầu về các kiến thức và kỹ năng mới
về bạo lực gia đình Điều này cũng đúng với đội ngũ cán bộ nhânviên trong tất cả các cơ quan của nhà nước và các tổ chức quầnchúng Ở mọi cấp độ, đội ngũ cán bộ nhìn chung thiếu sự hiểubiết cơ bản về các khái niệm về giới, lồng ghép giới, bạo lực giađình, giám sát và đánh giá Ví dụ, nhóm nghiên cứu phát hiệnthấy các tổ chức quần chúng ở Hà Nội còn hạn chế về kiến thức
và kỹ năng làm thế nào thúc đẩy hiệu quả bình đẳng giới, vớiquá ít các nghiên cứu trường hợp được áp dụng để tham khảo vàrút ra bài học Những cán bộ lãnh đạo ở cấp tỉnh/thành phố chỉ
có nhận thức tối thiểu về bình đẳng giới và hầu hết đội ngũ cán
bộ trong Chính phủ đã được tập huấn về bình đẳng giới và nhữngluật pháp có liên quan qua internet Trong khi xác định rằngTrung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ đã được tập huấn chuyên môn
về hệ thống pháp luật, bình đẳng giới và tham vấn, các kỹ năngcủa họ vẫn được nhìn nhận là chưa đầy đủ để đạt được hiệu quảcao Một cán bộ của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ Hà Nội đã đượcxác định là có kiến thức và các kỹ năng phù hợp vì (i) đã đượctập huấn chuyên môn về hai luật, (ii) được tập huấn ở nướcngoài, (iii) có ngoại ngữ, (iv) có cam kết đối với công việc và (v)
có 15 năm công tác trong lĩnh vực tham vấn về gia đình
2) Tập huấn với chất lượng thấp
Đáp ứng lớn nhất cho sự thiếu kiến thức và các kỹ năng đểthực hiện hai luật là nhu cầu được tập huấn bổ sung Tuy nhiên,các kết quả của đánh giá năng lực cho thấy rất nhiều tập huấn đãđược thực hiện không phù hợp, quá chung chung, thiếu thực tiễn
Trang 34và không đủ thời lượng để có ảnh hưởng lên công việc hàngngày và lên việc thực hiện hai luật (Xác định tập huấn nào là bổích và những lý do tại sao hầu như không có số liệu) Những kếtquả như vậy về tập huấn không phải là không phổ biến, nếukhông được thực hiện như một phần của một chiến lược chungcủa tổ chức về sự cầu thị và thay đổi
4.5 Giám sát, Đánh giá và Báo cáo
1) Thiếu hệ thống giám sát và đánh giá chặt chẽ
Đánh giá Năng lực cho thấy không có một hệ thống giám sát
và đánh giá duy nhất và chặt chẽ để giám sát và thu thập số liệu
về Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.Các tổ chức quần chúng lưu ý rằng họ đang giúp thực hiện rấtnhiều các chuyến công tác về giám sát và đánh giá với các mụctiêu chồng chéo trùng lắp Tuy nhiên, một khung giám sát vàđánh giá đối với mỗi một luật hiện đang được xây dựng trongkhuôn khổ Chương trình chung về Bình đẳng giới
Số liệu đang được thu thập về bình đẳng giới và bạo lực giađình ở các cấp độ khác nhau trong Chính phủ nhưng không rõràng những chỉ số này từ đâu đến và các chỉ số này đang cố gắng
đo đếm cái gì Số liệu của một số lĩnh vực cho thấy hiện cónhững hệ thống thu thập số liệu về Công ước CEDAW, Chiếnlược về sự tiến bộ của phụ nữ và các chương trình tài trợ khác.Quan trọng phải nhấn mạnh việc xây dựng các chỉ số chỉ làmột phần của quá trình rất lâu dài trong phát triển một hệ thốnggiám sát và đánh giá và bất kỳ một tập hợp các chỉ số nào cũngnên được dựa trên những mục tiêu cụ thể và rõ ràng Đánh giánăng lực cho thấy không có một sự kết nối rõ ràng thế nào làgiám sát và đánh giá và các chỉ số cần cho giám sát và đánh giá
là gì Rất nhiều người cung cấp thông tin chính đang chờ có mộttập hợp các chỉ số hướng dẫn làm thế nào thực hiện hai luật màkhông có chức năng của các chỉ số giám sát và đánh giá
2) Thiếu một hệ thống báo cáo
Trang 35Các yêu cầu về báo cáo sẽ tạo nên một nhu cầu đối vớithông tin và các kết quả có được từ các hệ thống giám sát vàđánh giá Đánh giá năng lực cho thấy không có hệ thống chứcnăng báo cáo về việc thực hiện Luật Bình đẳng giới và LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình Trong khi Vụ Bình đẳng giớithuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được yêu cầu hàngnăm báo cáo lên Quốc hội, báo cáo lại không đủ toàn diện vàkhông đề cập đến bất kỳ những khó nhăn này Hầu hết thông tin
về Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ởcác Bộ khác và các địa phương được tập hợp vào trong nhữngbáo cáo chuyên ngành lớn hơn Ở những nơi các mẫu báo cáo đãđược sử dụng thì việc thiếu tập huấn làm thế nào để hoàn thànhcác mẫu này được xác định là một hạn chế chính
Hầu hết báo cáo cũng chỉ liệt kê những hoạt động được thựchiện mà không trích dẫn liệu các kết quả và tác động có đạt đượckhông và cách thức để đạt được Cần tăng cường năng lực đểphản ánh các mục tiêu ở cấp độ cao hơn, phân tích sâu sắc cáckết quả và các tác động và đưa ra những khuyến nghị mang tínhchiến lược
Hiện không có những quy trình thủ tục chính thức rõ ràngđối với các tổ chức để báo cáo về việc triển khai thực hiện liênquan đến hai luật - từ cấp Bộ đến cấp xã/phường - và tập trunggiải quyết việc triển khai yếu kém
Trang 36Không có các cơ chế chức năng và phản hồi có sự tham gia
về hai luật đã được nêu trong đánh giá năng lực cho phép các mốiquan tâm của cấp huyện/quận có thể lên đến các cấp cao hơn.Hiện không có hệ thống để thu hút tiếng nói của xã hội dân
sự và các tổ chức phi chính phủ về những vấn đề liên quan đếnthực hiện hai luật, trừ hộp thư khiếu nại của công dân của Mặttrận Tổ quốc theo thảo luận nhóm trọng tâm với các tổ chứcquần chúng ở Hà Nội
Không có hệ thống hoặc quy chế để hỗ trợ một hệ thống đápứng được điều phối đối với bạo lực gia đình
Không có hệ thống chức năng để đảm bảo hai luật và cácvăn bản và thông tin khác có liên quan được phân bổ đến tất cảcác nhà hoạt động có liên quan
Rất ít dấu hiệu về các đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ củađội ngũ cán bộ đã được điều chỉnh để đánh giá các năng lựctrong thực hiện hai luật, trừ tỉnh Bình Dương, nơi mà một số Sởđưa một chỉ số bình đẳng giới vào các đánh giá thực hiện nhiệm
vụ hàng năm của các cá nhân và tổ chức
Không có bằng chứng để đề xuất các hình phạt đối với việckhông xem xét và giải quyết các vấn đề của Luật Bình đẳng giới
và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được áp đặt cho đội ngũcán bộ trong công việc thường nhật
Không có bằng chứng về những hệ thống khen thưởng,khuyến khích trên cả nước để nâng cao và thúc đẩy việc thực
hiện hai luật, chẳng hạn như các cuộc thi (xem phần Những tiến
trình đổi mới ở bên dưới) và một hệ thống khen thưởng đối với
“gia đình văn hóa” nơi mà các tiêu chí có tính đến bạo lực giađình Tuy nhiên, những khuyến khích này có thể phản tác dụng;không chỉ khuyến khích một hệ thống đưa các nạn nhân về trungtâm tạm lánh, những khen thưởng khuyến khích như vậy trênthực tế có thể đang phục vụ cho sự im lặng, che dấu các nạnnhân và sự lạm dụng, vì không khuyến khích báo cáo về cáctrường hợp bạo lực gia đình ở cộng đồng nếu “các gia đình văn
Trang 37hóa” nhận thấy mục tiêu cuối cùng đối với các khen thưởng côngdân/gia đình và thúc đẩy sự quan liêu.
Thù lao đối với làm thêm giờ là một cơ cấu khuyến khíchkhác đối với các quan chức của Chính phủ đã được nêu lên trongđánh giá năng lực này, tuy nhiên tham khảo cho thấy cơ cấu nàykhông hoạt động tốt Rất nhiều cán bộ nhân viên cảm thấy họ bịquá sức đối với khối lượng công việc mà không được trả côngcho những thời gian làm thêm Dường như có rất ít khuyến khích
để khắc phục những trở ngại và hạn chế trong thực hiện các luậtnếu đòi hỏi một lượng công việc khác mà sẽ không được tôntrọng và trả thù lao
5 NHỮNG PHÁT HIỆN CỤ THỂ
Phần này bao gồm một tóm tắt những phát hiện chính từ báocáo Đánh giá Năng lực này Những phát hiện được chia thànhhai nhóm đối tác thực hiện chính: các tổ chức của Chính phủ vàcác tổ chức quần chúng Trong hai nhóm chính này các phát hiệnlại được chia theo cấp Trung ương và cấp Tỉnh/thành phố Khi
có thể, các phát hiện được phân biệt giữa (1) hai luật, (2) các vấn
đề về năng lực trọng tâm - cơ cấu thể chế, trách nhiệm giải
trình, lãnh đạo và kiến thức, và (3) các năng lực thuộc chức năng
- thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo, như đã mô tả trong
phần Phương pháp luận
Phần này được bổ sung bằng hai phân tích do Viện Gia đình
và Giới chuẩn bị: Phân tích SWOT đối với các Hồ sơ mô tả tổchức và các Bảng kiểm Tổ chức (Phụ lục 2) – đánh giá 11 yếu tốchính được ghi nhận là quan trọng đối với việc thực hiện thànhcông các luật8:
8 8 Điều chỉnh từ Phụ lục 2 Tập hợp các Bảng kiểm về Giới của Hướng dẫn lồng ghép giới trong Hoạch định và Thực thi Chính sách quốc gia – Hướng tới Bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua Hoạch định và Thực thi Chính sách quốc gia có trách nhiệm giới Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ Phụ
nữ, Hà Nội, năm 2008.
Trang 38 Trách nhiệm chung đối với bình đẳng giới và Phòng,chống bạo lực gia đình.
Hiểu biết cơ bản về các khái niệm về bình đẳng giới vàbạo lực gia đình và các pháp luật có liên quan
Sự lãnh đạo được cam kết mạnh mẽ về bình đẳng giới vàphòng, chống bạo lực gia đình của cán bộ lãnh đạo cấp cao
Nhận thức về một Khung chính sách quốc gia đối vớibình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình
Kế hoạch Thay đổi Tổ chức được vận hành
Các vai trò và trách nhiệm rõ ràng
Các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và các Cơ quan quản lýNhà nước về bình đẳng giới và bạo lực gia đình được đặtvào các vị thế chiến lược và được phân bổ ngân sách đầyđủ
Văn hóa tổ chức trân trọng thay đổi và cầu thị
Các công cụ và kiến thức để làm việc theo cách thức cótrách nhiệm giới và nhạy cảm với bạo lực gia đình
Trách nhiệm giải trình - Các quy trình thủ tục hành chínhđang được vận hành
cơ quan chính: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 39Cơ cấu thể chế
Vụ Bình đẳng giới thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội là một cơ quan chính trong thực hiện, giám sát, đánh giá vàbáo cáo về Luật Bình đẳng giới Vụ được thành lập vào đầu năm
2008 để tham mưu cho Bộ trưởng thực hiện các hoạt động quản
lý nhà nước về bình đẳng giới Một trong những hoạt động chínhcủa Vụ là hướng dẫn việc thực hiện Luật Bình đẳng giới trongChính phủ Tuy nhiên, không rõ là đội ngũ cán bộ của Vụ hiểuđến mức độ nào về vai trò và các trách nhiệm của Vụ Bình đẳnggiới như đối với một cơ quan Các kết quả của thảo luận nhómtrọng tâm với những người cung cấp thông tin chính của Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội cho thấy bình đẳng giới vẫn đượccoi là một “vấn đề của phụ nữ” Do vậy, tất cả những vấn đề liênquan đến phụ nữ đều đến với Vụ Bình đẳng giới Vụ Bình đẳnggiới cũng chịu trách nhiệm đối với các vấn đề của Ủy ban Phụ
nữ của ASEAN, Ủy ban vị thế của Phụ nữ của Liên hợp quốc,Hội nghị thượng đỉnh các Bộ trưởng về Bình đẳng giới ở ĐôngNam Á và Bộ trưởng Bình đẳng giới trong phong trào không liênkết của phụ nữ châu Á Không rõ là Vụ/Ban nào của Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm về đánh giá nộidung bình đẳng giới trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
và rà soát nội dung bình đẳng giới trong các tài liệu và báo cáocủa các cơ quan khác Cũng có sự mơ hồ về vai trò của Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội trong thực hiện Luật Phòng,chống bạo lực gia đình
Vụ Bình đẳng giới hiện có 14 cán bộ, hầu hết mới đượctuyển dụng với rất ít kiến thức về bình đẳng giới Vụ Bình đẳnggiới có 4 cán bộ nam và 10 cán bộ nữ Bốn trong số họ có trình
độ Thạc sỹ về lịch sử, kinh tế và luật Không có thông tin vềtrình độ chuyên môn và quản lý của nhóm cán bộ lãnh đạo gồmmột Vụ trưởng và hai Phó vụ trưởng
Các Vụ có liên quan cho biết đang phối hợp với Vụ Bìnhđẳng giới để hỗ trợ thực hiện, giám sát, đánh giá và báo cáo đốivới hai luật Ví dụ, Vụ Pháp chế chịu trách nhiệm đối với thực
Trang 40hiện Công ước CEDAW ở Việt Nam, Cục Việc làm chịu tráchnhiệm về lao động trẻ em, người tàn tật và lao động nữ cùng vớinhững vấn đề lao động và việc làm quan trọng khác và Vụ Hợptác Quốc tế chịu trách nhiệm về các vấn đề nhân quyền Tuynhiên, không thấy đề cập đến vai trò của bộ phận về nguồn nhânlực hoặc bộ phận về đào tạo và tập huấn cũng như bộ phận chịutrách nhiệm về chính sách hoặc giám sát và đánh giá để hỗ trợ vàduy trì công tác xây dựng năng lực của đội ngũ cán bộ trong VụBình đẳng giới để thực hiện các nhiệm vụ của mình liên quanđến hai luật
Thiếu nghiêm trọng những cán bộ có chuyên môn ở các cấptỉnh/thành phố, huyện/quận và xã/phường và không có nhữngcán bộ đầu mối trừ một số tỉnh được lựa chọn như Bình Dương
và Thành phố Hồ Chí Minh Cán bộ có những kỹ năng về giớithì bị quá tải
Kiến thức
Một số cán bộ đã được tập huấn về giới, nhưng không cóthêm những tập huấn chi tiết Cũng không rõ liệu họ có sử dụngnhững gì được tập huấn trong công việc hàng ngày của họ.100% số cán bộ của Vụ Bình đẳng giới đã được tập huấn trongchương trình tập huấn của Vụ nhưng không có chi tiết liệu tậphuấn có hỗ trợ họ trong công việc hàng ngày của họ nhằm thựchiện hai luật
Trong một thảo luận nhóm trọng tâm đã đề cập đến việcđánh giá nhu cầu tập huấn của Sở Lao động - Thương binh và Xãhội do Vụ Bình đẳng giới tổ chức tại Hải Phòng, tại đó có rấtnhiều cán bộ chưa hề đọc hoặc nhìn thấy Luật Bình đẳng giới vàLuật Phòng, chống bạo lực gia đình
Trách nhiệm giải trình
Bình đẳng giới không được coi là một nhiệm vụ ưu tiên củacác cán bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thực hiện