MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QTRRTD TẠI NH TMCP CT CN 7 TP HCM Từ thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị RRTD cùng với các kết quả thu thập thông tin thực tế tại c
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NH TMCP CT VN CN 7 TP HCM 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TP HCM ĐẾN NĂM 2015
Trong giai đoạn 2010 – 2015, TP HCM phát huy vai trò trung tâm về nhiều mặt của khu vực và cả nước, chủ động hội nhập và tăng tốc phát triển; thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á; góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Về kinh tế, phấn đấu đạt chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước giai đoạn 2011 - 2015 đạt 12%, trong đó, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành dịch
vụ bình quân 12,7%/năm, công nghiệp- xây dựng đạt 11%/năm, nông nghiệp đạt 4%
Dự kiến cơ cấu GDP đến năm 2015 là dịch vụ khoảng 60,4%, công nghiệp - xây dựng: 39,2% và nông nghiệp 0,4%
Tập trung phát triển, có tính đột phá đối với 9 nhóm ngành dịch vụ có tiềm năng và là thế mạnh của TP: thương mại; du lịch; tài chính; vận tải và kho bãi; công nghệ thông tin và truyền thông; kinh doanh tài sản, bất động sản; tư vấn, khoa học, công nghệ; y tế; giáo dục - đào tạo
Tập trung xây dựng một vài khu công nghiệp chuyên ngành như khu công nghiệp cơ khí chế tạo, khu côngnghiệp hóa chất để tạo điều kiện thuận lợi ứng dụng công nghệ cao; hoàn tất các điều kiện cần thiết đưa Khu Công nghệ cao TP vào hoạt động
Xây dựng nền nông nghiệp gắn liền với đặc trưng của một đô thị lớn, theo hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển theo chiều sâu các
mô hình sản xuất kết hợp với kinh doanh, dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, các mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả như kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, kinh tế
hộ gia đình TP sẽ tập trung đẩy nhanh tiến đô triển khai xây dựng các khu đô thị mới như Khu Thủ Thiêm, Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu đô thị Tây Bắc TP và các khu dân
cư mới khác, tạo điều kiện để tái bố trí dân cư hợp lý, bảo đảm các tiêu chuẩn của một
đô thị hiện đại
Trang 2TP phấn đấu trong năm 2010, đảm bảo 95% dân số nội thành cũ, 80% dân số nội thành mới và 60% dân số ngoại thành được cung cấp nước sạch từ hệ thống cấp nước chung của TP; nâng tổng công suất cấp nước lên 1,8 triệu m3/ngày-đêm; đáp ứng
đủ nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng 12-13%/năm
TP tiếp tục giữ vững và phát huy thành quả các chương trình xã hội; thực hiện tốt chính sách với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, người nghỉ hưu; quan tâm chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật, người
có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội; tổ chức phối hợp lồng ghép có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chí mới của
TP Phấn đấu tỷ trọng lao động trong các khu vực dịch vụ; công nghiệp - xây dựng; nông - lâm - ngư nghiệp lần lượt là 62%-36%-2% [5]
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN HĐKD CỦA VIETINBANK CHI NHÁNH 7 NĂM 2010
Năm 2010, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sẽ hạn chế đến thị trường xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài của VN Cùng với mục tiêu chung của cả nước: phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm
2009, nâng cao chất lượng tăng trưởng, ngăn chặn lạm phát trở lại, tăng khả năng đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội, chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế Tại VietinBank chi nhánh 7, các chính sách tiền tệ,
tỷ giá đang được tiếp tục điều hành linh hoạt và thận trọng, các khung chính sách và giám sát tiếp tục được hoàn thiện
3.2.1, Phương hướng
Nguồn vốn huy động: được xây dựng trên nguyên tắc tăng cả về quy mô, thị phần và đảm bảo tính bền vững số dư nguồn vốn dự kiến đến 31/12/2010 phải tăng trưởng tối thiểu 20% so với số thực hiện 31/12/2009
Dư nợ cho vay nền kinh tế: căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và tình hình thực tế tại địa bàn, CN xây dựng kế hoạch tăng trưởng dư nợ theo hướng tăng thị phần, nâng cao chất lượng, phù hợp với khả năng quản lý, cân đối vốn kinh
Trang 3doanh, đồng thời đảm bảo quản lý danh mục tín dụng phù hợp với đối tượng khách hàng, ngành hàng mục tiêu của địa phương
Về cơ cấu dư nợ:
+ Tỷ lệ cho vay KCBĐTS: xây dựng kế hoạch theo hướng nâng dần tỷ lệ cho vay bảo đảm bằng tài sản
+ Tỷ lệ cho vay DNNN: xây dựng theo kế hoạch dư nợ cho vay đối với công ty
NN hoạt động theo luật DNNN và phải phù hợp với việc khai báo thông tin loại hình khách hàng theo hồ sơ thông tin khách hàng trên INCAS
+ Tỷ lệ cho vay trung, dài hạn: nêu một số khách hàng có dư nợ trung, dài hạn lớn, liệt kê những dự án lớn của CN dự kiến giải ngân gồm: tên KH, tên DA, số tiền phê duyệt, dự kiến giải ngân trong năm 2010
+ Về chỉ tiêu nợ nhóm 2, nợ xấu: xây dựng trên tinh thần nâng cao chất lượng
nợ, giảm thiểu nợ nhóm 2, nợ xấu tỷ lệ nợ nhóm 2, nợ xấu trên tổng dư nợ đến 31/12/2010 phải thấp hơn so với 31/12/2009 nhưng tối đa không quá 3% đối với nợ nhóm 2 và 2% đối với nợ xấu
+ Về chỉ tiêu thu hồi nợ XLRR: xây dựng kế hoạch năm 2010 bằng mọi biện pháp nhằm tận thu hồi nợ XLRR
+ Về chỉ tiêu thu phí dịch vụ: để thực hiện cơ cấu lợi nhuận, đẩy mạnh nguồn thu từ phí dịch vụ nhằm tăng trưởng tỷ trọng thu phí dịch vụ/ tổng doanh thu…
3.2.2, Mục tiêu phấn đấu:
Trong năm 2010, VietinBank chi nhánh 7, TP HCM phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh- tài chính được NH TMCP CT VN giao, cụ thể như sau:
Trang 4Bảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2010 tại Vietinbank CN7
Chỉ tiêu kinh doanh Kế hoạch 2010
3/ Cơ cấu nợ:
- Tỷ lệ cho vay DNNN
- Tỷ lệ cho vay TDH
- Nợ nhóm 2
- Nợ xấu
6%
35,2%
25 tỷ đồng
50 tỷ đồng 4/ Thu hồi nợ XLRR 3,810 tỷ đồng
5/ Trích dự phòng rủi ro 15 tỷ đồng
(Nguồn: Phòng Tổng hợp tiếp thị, NH TMCP CT CN 7 TP HCM)
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QTRRTD TẠI
NH TMCP CT CN 7 TP HCM
Từ thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị RRTD cùng với các kết quả thu thập thông tin thực tế tại chi nhánh, tác giả đề ra một số giải pháp cụ thể có thể áp dụng vào thực tế; nếu thực hiện đúng và đầy đủ, tác giả tin chắc rằng trong tương lai những giải pháp này sẽ góp phần khắc phục những tồn tại và hạn chế rủi ro tại VietinBank chi nhánh 7, TP HCM
3.3.1, Xem xét yếu tố môi trường trong các khoản cho vay
Thế giới đang kêu gọi cách mạng xanh bảo vệ môi trường và Việt Nam cũng là một trong những thành viên tích cực ủng hộ điều này Thực tế cho thấy từ vụ Vedan, Tung Kuang người tiêu dùng Việt Nam ngoảnh mặt với tất cả các sản phẩm của Vedan, Tung Kuang …Hoạt động SXKD của Vedan, Tung Kuang gặp nhiều khó khăn, đình trệ và có khả năng bồi thường một khoản tiền lớn Đối với các ngân hàng cho Vedan, Tung Kuang vay vốn sẽ gặp ít nhiều khó khăn khi thu hồi vốn trong giai đoạn này Cũng chính vì thế có thể nói nhân tố môi trường là nhân tố quan trọng khi xem xét cho vay đối với một doanh nghiệp Do vậy, khi Ngân hàng xem xét mỗi khoản cho vay đều phải chú ý tới mối liên hệ giữa khoản vay và môi trường dưới nhiều góc
độ khác nhau từ đó có thể tránh được những rủi ro đáng tiếc trong kinh doanh, chẳng hạn như:
Trang 5Tác động qua lại giữa nhân tố môi trường và các dự án xin vay vốn Cần phải xem xét trong chi phí dự án đã tính tới điều này chưa ? Nếu tính đầy đủ thì có đảm bảo thu nhập và lợi nhuận của dự án hay không?
Môi trường và tài sản thế chấp có quan hệ với nhau như thế nào, từ đó xác định ảnh hưởng của môi trường đến giá trị tài sản thế chấp và chi phí cần thiết để bảo vệ môi trường nếu có
Người xin vay vốn Ngân hàng có thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường không, đặc biệt là khi người đó còn hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực khác nhau, hoàn toàn không liên quan gì đến dự án xin vay, phải xem xét khách hàng đó đã tính toán đề phòng mọi phương án bảo vệ môi trường của tất cả các lĩnh vực kinh doanh đó Điều này sẽ có ảnh hưởng nhiều tới tình trạng tài chính của doanh nghiệp và khả năng hoàn trả nợ Ngân hàng đúng hạn
Ở phần phân tích này tác giả sẽ đưa ra một ví dụ cụ thể đã từng xảy ra tại khách sạn Nhân Việt: khi chủ khách sạn đến vay tiền tại Vietinbank chi nhánh 7,
khoản vay được đảm bảo bằng giá trị của một khách sạn lớn, có đủ giấy tờ pháp lý, ở một vị trí thuận lợi; qua thẩm định KQHĐKD thì CBTD nhận thấy khách sạn có lợi nhuận cao và ổn định qua các năm chứng tỏ khách sạn làm ăn phát đạt, nhưng trong năm 2008 bên cạnh khách sạn có một công trình xây dựng trong quá trình thi công đã gây rạn nứt cho khách sạn, cộng với môi trường ồn ào không trong sạch đã làm cho lượng khách hàng đến khách sạn ít hơn thậm chí không muốn đến khách sạn đó nữa Chính tại thời điểm đó, chủ khách sạn đã gặp phải nhiều khó khăn trong kinh doanh, mặt khác nảy sinh nhiều tranh chấp, kiện tụng với công trình xây dựng do gây thiệt hại đến khách sạn Hệ quả là khoản vay của người chủ khách sạn tại ngân hàng đã không thể trả đúng hạn Theo hồ sơ tại chi nhánh thì CBTD mất khoảng gần một năm mới thu hồi đầy đủ khoản vay trên, tuy nhiên nếu xét trên phương diện quản trị rủi ro tín dụng,
về phân loại nợ để trích lập dự phòng thì ta có thể thấy đây là một khoản nợ có tiềm ẩn rủi ro mà cụ thể là đã hình thành nên nợ xấu hay nợ nhóm 4
Một ví dụ điển hình khác liên quan đến yếu tố môi trường trong thời gian gần đây được nhiều dư luận nhắc đến là tại Công ty Tung Kuang Mặc dù trong
website của mình, Cty cổ phần công nghiệp Tung Kuang luôn khẳng định là nhà máy sản xuất thanh nhôm có quy mô và hiện đại bậc nhất Việt Nam Tuy nhiên, theo các
Trang 6thông tin thu thập được của cơ quan điều tra tại hiện trường thì hệ thống xử lý chất thải dường như chỉ để đối phó với các cơ quan chức năng, các bể lắng lọc đều gần như cạn, rêu phong bám dầy trên thành bể thể hiện không có việc bơm nước vào bể thường xuyên; phía tủ điều khiển của hệ thống, nhà máy cho lắp đặt một đường ống ngầm, đấu với đường ống hở tại bể chứa nước thải ban đầu để bơm trực tiếp nước thải ra sông, không qua xử lý Trên thực tế, toàn bộ nước thải từ dây chuyền sản xuất nhôm định hình (luyện hợp kim đến tạo hình, sơn tĩnh điện, mạ ) được bơm và xả thẳng ra sông Gẽ
Đặc biệt trong 3 năm 2007, 2008, 2009 công ty liên tục bị đưa vào danh sách các công ty gây ô nhiễm môi trường, cụ thể là năm 2007 công ty đã từng bị xử lý gây ô nhiễm môi trưởng với số tiền là 100 triệu đồng, năm 2008 là 8,5 triệu đồng,… Hành động xả thải của Tung Kuang có thể là giấu diếm, nhưng không thể nói là bí mật, vì chất thải của họ ra môi trường ai cũng nhìn thấy Thế nhưng khi đến vay vốn tại ngân hàng, CBTD vô tình hay cố ý đã bỏ qua những chi tiết ấy, tiếp tục cấp giấy phép cho vay vốn, việc giám sát hoạt động kinh doanh và đánh giá khả năng trả nợ khách hàng chưa thực sự diễn ra nghiêm túc và chặt chẽ Hậu quả là khi cơ quan điều tra và Cảnh sát môi trường vào cuộc, công ty bị đình chỉ sản xuất và tiếp tục phải đền bù những khoản tiền khá lớn lên đến hàng tỷ đồng Theo nguồn tin cho biết thì hiện nay ngân hàng cho Tung Kuang vay vốn vẫn chưa thu hồi hết khoản nợ gốc mà Tung Kuang đã vay trong năm 2009, các khoản vay đều được xếp vào nợ xấu cụ thể là nợ mất khả năng thanh toán (nợ nhóm 5)
3.3.2, Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ tại chi nhánh
Như chúng ta đã biết, kiểm soát nội bộ là xem xét, đối chiếu và đánh giá tính tuân thủ của các hoạt động, nghiệp vụ, quyết định, chính sách… so với luật và các quy định của cơ quan quản lý nhà nước Tại các TCTD, kiểm soát nội bộ là tổng thể hệ thống các văn bản và các quy định về ngân hàng, các cơ chế kiểm soát được cài đặt trong tất cả các nghiệp vụ thuộc hệ điều hành của ngân hàng, hệ thống thông tin báo cáo Cơ chế kiểm soát nội bộ được thiết lập do nhu cầu kiểm soát các hoạt động quản
lý, điều hành, tác nghiệp và đảm bảo tính tuân thủ nhằm hạn chế và kiểm soát những rủi ro có thể phát sinh trong quy trình nghiệp vụ và hoạt động của ngân hàng
Trang 7Hiện nay, hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại các NHTM nói chung và tại chi nhánh nói riêng vẫn còn nhiều bất cập so với các chuẩn mực kiểm soát nội bộ quốc
tế Trong các văn bản liên quan đến hoạt động kiểm tra, kiểm toán vẫn chưa cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra nội bộ và kiểm toán nội bộ trong hệ thống giám sát; chưa phân định rõ các khái niệm liên quan đến hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ; các luật và văn bản luật đều quy định bộ máy kiểm toán nội bộ trực thuộc Tổng giám đốc, trong khi Tổng giám đốc và ban điều hành đều là đối tượng của kiểm soát nội bộ
Mặt khác, nếu chỉ tập trung vào tình trạng của TCTD tại một thời điểm nhất định nào đó thì không thể khẳng định được liệu TCTD trong thực tế sẽ phải chịu rủi ro trong tương lai gần hay không? Vì vậy cần áp dụng nhiều phương thức kiểm tra để đem lại hiệu quả tốt nhất, cụ thể như sau:
Các cán bộ làm công tác kiểm soát nội bộ có trách nhiệm kiểm tra chéo việc áp dụng nghiệp vụ theo đúng quy trình
Mỗi quy trình phải có sự tham gia ít nhất là hai người, phân công trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ và chi tiết cho từng nhân viên khi tham gia quy trình
Cho phép kiểm soát viên tiếp cận với các tài liệu, cũng như những người có liên quan đến hoạt động kiểm soát nội bộ
Khi xây dựng chiến lược hoạt động cần phân tích, tính toán các điều kiện kinh
tế vĩ mô, xu hướng phát triển của thị trường trong đó phải xem xét đến tình hình quốc tế
Bổ sung và sử dụng các giải pháp mang tính chất công nghệ cao như giải pháp ICTNews của hãng APC Giải pháp này với các dữ liệu được cập nhật chính xác và nhanh chóng tại trung tâm sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đáng kể trong kinh doanh tại chi nhánh
Kiểm soát viên nội bộ phải thành thạo công việc và được đào tạo thường xuyên, ngoài ra họ phải tự học hỏi để không ngừng nâng cao năng lực của mình Đặc biệt với các chức danh Trưởng, phó kiểm toán nội bộ, trong điều kiện xét tuyển nên tăng số năm kinh nghiệm (tối thiểu phải 5 năm) làm việc trong lĩnh vực tài
Trang 8chính, ngân hàng, từ đó đảm bảo tính chuyên nghiệp của hoạt động kiểm toán nội bộ
Có chính sách khuyến khích, khen thưởng những cán bộ thực hiện tốt, đồng thời có biện pháp xử lý thích đáng đối với những trường hợp gian lận, vi phạm nguyên tắc
Bên cạnh đó, nội dung kiểm soát tại ngân hàng còn rườm rà, chưa có chương trình cảnh báo sớm, việc đánh giá kết quả HĐKD của ngân hàng chỉ ở mức độ thống
kê số liệu là chính Vì vậy, kết quả giám sát chưa phát huy được tác dụng phòng ngừa
và phát hiện những vấn đề khó khăn của công tác tín dụng
Các cán bộ làm công tác kiểm soát nội bộ tại chi nhánh cũng chưa có mối quan
hệ chính thức để trao đổi thông tin với cơ quan giám sát ngân hàng của các nước có chi nhánh tại VN cũng như Hội sở chính của các ngân hàng mẹ, trong khi đây cũng là một tiêu chuẩn của Basel Vì vậy, cần có quy định về trao đổi thông tin và hợp tác với các cơ quan giám sát ngân hàng các nước và với Hội sở chính của các ngân hàng mẹ; cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi thông tin, tiếp thu tư vấn về phương thức kiểm soát, công nghệ, đào tạo nâng cao năng lực của các cán bộ làm công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Tóm lại, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một trong những cấu trúc nòng cốt của công tác QTRRTD; do đó, chi nhánh cần thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, gia tăng giá trị cho ngân hàng và giảm thiểu được rủi ro ở mức thấp nhất
3.3.3, Nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực
Con người là yếu tố trung tâm, là nền tảng để phát hiện, đánh giá và hạn chế kịp thời các rủi ro tín dụng nhưng đồng thời cũng trở thành nguyên nhân gây ra tổn thất
TD xuất phát từ năng lực và đạo đức cán bộ Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của bất cứ một hoạt động nào trên mọi lĩnh vực Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người lại càng đóng một vai trò quan trọng,
nó quyết định đến chất lượng, an toàn tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của NHTM, từ đó quyết định đến hiệu quả tín dụng của NH Chính vì vậy trong tương lai
để nâng cao chất lượng QTRRTD, NH cần quan tâm, chú trọng nhiều hơn nữa đến đội
Trang 9ngũ nguồn nhân lực, sử dụng con người như một yếu tố tiên quyết trong xây dựng và vận hành cơ chế QTRRTD, cụ thể là:
Cần xây dựng đội ngũ cán bộ QTRRTD có kinh nghiệm, kiến thức, khả năng nhanh nhạy trong xem xét, đánh giá các đề xuất tín dụng
Hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ thẩm định đánh giá các doanh nghiệp và các dự án của doanh nghiệp, chú trọng nghiệp
vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương thảo hợp đồng và văn hóa kinh doanh Định
kỳ hàng tháng, hàng quý nên có những chương trình họp, học tập kinh nghiệm, trao đổi thực tế giữa lãnh đạo và nhân viên để bổ sung thông tin, kinh nghiệm
Hiện tại, Vietinbank chi nhánh 7 được đánh giá là một trong những chi nhánh quản trị rủi ro khá tốt và có hiệu quả cao Chính vì vậy trong tương lai chi nhánh cần phát huy hơn nữa vai trò của phòng QLRR & NCVĐ Hiện nay, bộ phận này có tổng nhân sự là bốn người nên một cán bộ phải đảm nhận nhiều công việc khác nhau, chưa đảm bảo tính chuyên môn hóa trong nhiệm vụ được giao Từ đó tác giả khuyến nghị chi nhánh nên bổ sung thêm nhân sự, từ đó dàn trải công việc một cách khoa học và chú trọng vào nhiệm vụ riêng của từng cán bộ, đảm bảo thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao hiệu quả công việc; mặt khác nên có những tiêu chuẩn rõ ràng về trình độ, kinh nghiệm thực tế
Trong tương lai, phòng QLRR & NCVĐ cần phát huy hơn nữa vai trò của mình
về quản lý rủi ro tín dụng, cụ thể là trong các báo thẩm định cần phân tích, đánh giá một cách sâu sắc hơn về những rủi ro tiềm ẩn, cần đưa ra những cảnh báo chi tiết, chặt chẽ thay thế các báo cáo chung chung như hiện nay Để đạt được mục tiêu trên thì các cán bộ phải được thường xuyên đào tạo, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ Bên cạnh đó, chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và đề bạt phải phù hợp với yêu cầu và trách nhiệm công việc, phù hợp với thực tế khách quan tại chi nhánh Bổ nhiệm các chức danh khách quan, đúng quy định, lựa chọn người đủ năng lực, kinh nghiệm, có tư cách, đạo đức tốt Đồng thời, có chính sách rõ ràng và phân quyền cụ thể liên quan đến cho vay, thu nợ và xử lý nợ (sổ tay tín dụng) để từng nhân viên trong từng bộ phận hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình
Trang 103.3.4, Ứng dụng thông lệ quốc tế Basel II trong công tác xây dựng mô hình QTRRTD tại Chi nhánh
Hiện nay rất nhiều các ngân hàng trên thế giới đang thực hiện quản trị RRTD bằng cách sử dụng khung quản trị rủi ro theo gợi ý của Ủy ban Basel II
Hình 3.1: Khung quản trị rủi ro cơ bản
(Nguồn: KPMG International 2008) [7]
Thành phần chính của khung QTRR là một tập hợp các tiêu chuẩn cốt lõi cung cấp hướng dẫn về cơ sở kiểm soát và đảm bảo môi trường hoạt động Các khung được
bổ sung với các công cụ khác nhau nhưng đều có các thành phần chính: xác định CLRR, xây dựng cấu trúc quản trị, phân định luồng báo cáo, kiểm soát tự đánh giá, quản lý sự kiện rủi ro, các chỉ số đo lường RR chính và chương trình giảm thiểu RR
Nếu thực hiện đúng và đủ các nguyên tắc trên, phù hợp với điều kiện thực tế của ngân hàng, công tác quản trị RRTD của ngân hàng sẽ đi theo chuẩn mực và thực hiện được mục tiêu mà ngân hàng dự kiến Tuy nhiên, tùy vào khả năng và mức độ vận dụng, chi nhánh có thể phát triển thành các mô hình khác nhau về quy mô và mức
độ phức tạp cũng như thời gian thực hiện
Theo tác giả trong thời gian tới chi nhánh nên thành lập một bộ phận chuyên về RRTD, đổi mới hệ thống báo cáo và áp dụng công nghệ hiện đại hơn nữa Bên cạnh những nguồn lực hiện có, ngân hàng nên sử dụng tối đa các nguồn lực từ bên ngoài để quản trị RRTD, như thuê IBM hay sử dụng thêm phần mềm CLS (continuous linked settlement) để quản trị RRTD; qua đó chi nhánh có thể thực hiện quản trị RRHĐ trên
cơ sở tự đánh giá rủi ro Hoạt động của các phòng ban, đơn vị kinh doanh được xác