Trong những năm qua ngành nông nghiệp huyện Hòa Bình đã đạt được nhiều thành tựu khá to lớn và quan trọng như: Tốc độ tăng trưởng khá và ổn định; tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư
Trang 1Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐÈ ÁN
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội bền vững, là nhân tố có vị trí chiến lược- vừa cấp bách vừa lâu dài và có tính quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam luôn là vấn đề quan trọng của mọi quá trình cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Trong công cuộc đổi mới đất nước, tầm quan trọng ấy càng thể hiện rõ với những nội dung mới và mang tính toàn diện.
Trong những năm qua ngành nông nghiệp huyện Hòa Bình đã đạt được nhiều thành tựu khá to lớn và quan trọng như: Tốc độ tăng trưởng khá và ổn định; tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn, góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Tuy nông nghiệp phát triển, nhưng thu nhập và đời sống của nông dân
và những người làm nông nghiệp còn thấp, nông dân vẫn còn nghèo Tổ chức sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị trường; các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu tính ràng buộc Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất như điện, đường giao thông, thủy lợi Mặt khác, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
Trước thực trạng trên, việc xây dựng Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững huyện Hòa Bình, giai đoạn 2017-2020 định hướng 2030 ” là hết sức cần
thiết Đề án sẽ góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành nông
Trang 2nghiệp theo hương nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
II.CĂN CỨ ĐÈ XÂY DỰNG ĐÈ ÁN
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Đề án tái
cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chỉ thị số 2039/CT-BNN-KH ngày 20/6/2013 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn
Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 06 tháng 02 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững.
- Nghị định số 210/2013/QĐ-TTg ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Quyết định số 01/2012/QĐTTg, ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng qui trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản;
Trang 3- Quyết định số 986/QĐ-BNN-KHCN, ngày 09/5/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về ban hành Kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 2261/QĐ-TTg, ngày 25/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển Hợp tác xã giai đoạn 2015-2020;
- Quyết định số 580/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách hỗ trợ giống để chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long;
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP, ngày 13/42015 của Chính phủ về quản
lý, sử dụng đất trồng lúa;
- Nghị định số 67/2017/ND-CP, ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản;
- Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 06/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 04/QĐ-UBND, ngày 24/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hòa Bình lần thứ XI, nhiệm
kỳ 2015-2020;
III.MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ ÁN
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu ngành nông nghiệp, phân tích thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện Hòa Bình Qua đó đề ra giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Hòa Bình theo hướng nâng cao giá
Trang 4trị gia tăng và phát triển bền vững, từ đó xác định cách thức tổ chức thực hiện
Cơ cấu nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận Nói cách khác, cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đất của các chuyên ngành, tiều ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp Các chuyên ngành, tiểu ngành này được xem xét trên các quy mô; tổng thể nền kinh tế, vùng và tiểu vùng Cơ cấu ngành nông nghiệp thể hiện vị thế của từng chuyên ngành, tiểu ngành trong mối quan hệ với toàn ngành nông nghiệp trong một thời gian nhất định Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mối quan hệ mặt thiết với nhau, hỗ trợ nhau phát triển trong phạm vi về không gian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ tầng kinh
tế ở từng nơi.
*Về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả của quá trình phát triển về số lượng, chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó Vì vậy
nó không phải là các quan hệ tĩnh mà luôn luôn biến đổi không ngừng theo
sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên cơ cấu toàn ngành.
Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản trên , trên các vùng kinh tế - sinh thái; thay đổi về
số lượng, loại hình quy mô các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, tiểu ngành ở các vùng sinh thái; sự thay đổi về mối quan
Trang 5hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: Công nghiệp và dịch
vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ nông sản làm ra Như vậy sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành trong nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, phản ánh lợi thế và khả năng phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành trên tầm quốc gia, vùng và tiểu vùng.
Trong kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa, sự thay đổi về tỷ lệ về quy mô, giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống đều có mục đích đáp ứng cao nhất các yêu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa lương thực, thực phẩm tươi sống và chế biến Như vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp chính là quá trình thích ứng của sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra trong từng giai đoạn phát triển
Từ các phân tích trên, cách nhìn về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo lợi thế so sánh và theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ nhằm đưa cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái nhiều bất cập sang trạng thái ít bất cập hơn so với nhu cầu của thị trường và phát triển được các chuyên ngành có lợi thế, giảm thiểu các chuyên ngành kém lợi thế trong nông nghiệp Theo đó khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong điều kiện hiện nay như sau: Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi về quy mô, giá trị các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập.
*Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Trang 6Ngày 13/6/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
899/2013/QĐ-TTg Phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Theo Quyết định 899/2013/QĐ-TTg thì tái cơ cấu ngành nông nghiệp được hiểu là phát triển nông nghiệp giai đoạn 2013-2020 theo hướng tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng với tốc độ từ 3,5% - 4,0%/năm giai đoạn 2016-2020; nâng cao mức sống của người dân nông thôn vào năm 2020 bằng 2,5 lần năm 2008, số xã đạt nông thôn mới là 50%, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc lên 45%.
Trang 7Phần Thứ hai: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
I THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN HÒA BÌNH
1 Kết quả đạt được
Hòa Bình là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bạc Liêu, huyện có lợi thế về sản xuất nông, ngư nghiệp Diện tích đất tự nhiên 41.219 ha trong đó diện tích canh tác đất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 31.575 ha, với hai vùng sản xuất theo hai hệ sinh thái chuyên biệt: Vùng Bắc Quốc lộ IA là vùng ngọt hóa ổn định, chủ yếu là sản xuất lúa, kết hợp với chăn nuôi và trồng màu Vùng Nam Quốc lộ IA là vùng sinh thái mặn lợ, có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản và khai thác hải sản, ngoài ra còn có rừng ngập mặn ven biển và sản xuất muối.
Sản xuất nông nghiệp toàn huyện phát triển khá, tổng giá trị sản xuất
nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá so sánh 2010 tăng từ 4.122 tỷ 156 triệu
đồng năm 2011, đến năm 2016 là 6.500 tỷ 055 triệu đồng.
Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá hiện hành tăng từ 4.470 tỷ 152 triệu đồng năm 2011, đến năm 2016 là 4.686 tỷ 445 triệu đồng Tỷ trọng nội bộ ngành nông nghiệp hiện tại: trồng trọt chiếm 19,8%, chăn nuôi chiếm 7,8 %, lâm nghiệp chiếm 0,3%, thủy sản chiếm 71,1%.
1.1 Thủy sản:
Thủy sản luôn được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, được huyện tập trung chỉ đạo và huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, hàng năm đạt tốc độ phát triển khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2016 là 47.020 tấn tăng
Trang 81,4 lần so năm 2011.Trong đó sản lượng tôm 15.000 tấn năm 2011, tăng lên
26.070 tấn năm 2016; Diện tích canh tác nuôi trồng thủy sản năm 2011 là
15.676 ha (trong đó Tôm TC-BTC là 3.711 ha), năm 2016 tăng lên 15.855
(trong đó Tôm TC-BTC là 6.696 ha), sản lượng 18.800 tấn năm 2011, đến năm 2016 tăng lên 29.985 tấn; trong đó sản lượng tôm 12.400 tấn năm 2011,
đến năm 2016 tăng lên 23.370 tấn.
Mô hình nuôi tôm công nghệ cao.
Khai thác thủy sản: Số tàu thuyền đánh bắt 255 phương tiện năm 2011,
đến năm 2016 tăng lên 266 phương tiện với công suất bình quân là 22,5 CV,
trong đó có 23 tàu đánh bắt xa bờ; sản lượng đánh bắt 13.500 tấn năm 2011, đến năm 2016 tăng lên 17.015 tấn; trong đó sản lượng tôm 2.600 tấn năm
2011, đến năm 2015 tăng lên 2.700 tấn.
Trang 9Biểu 1: Hiện trạng ngành thủy sản
với các cây trồng khác (cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn, dài ngày, cây
ăn quả, ) luôn duy trì ở mức 1.500 – 2.000 ha cũng đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trên địa bàn huyện; trong đó có một vài sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường như ngò rí lấy hạt.
Trang 10188.00 5
198.39
5 190.865
194.23
4 190.4005
Trang 11Sản phẩm thịt hơi các loại 6.630 tấn năm 2011, đến năm 2016 tăng lên
7.500 tấn; trứng gia cầm 7,9 triệu quả năm 2011, đến năm 2016 là 8 triệu quả; sản phẩm động vật hoang dã 136,9 tấn năm 2011, đến năm 2016 tăng lên 150 tấn Về chăn nuôi động vật hoang dã mới phát triển trong những năm gần đây,
năm 2012 có 71.720 con (trong đó: cá sấu 19.000 con), năm 2016 tăng lên 91.000 con (trong đó: cá sấu 22.000 con)
Biểu 3: Hiện trạng ngành chăn nuôi
1.5 Sản xuất muối:
Diện tích muối toàn huyện năm 2011 là 828 ha, năm 2015 là 722 ha
năm 2016 là 480 ha (Do chuyển sang nuôi artemia và nuôi tôm); sản lượng muối 18.200 tấn năm 2011, đến năm 2015 tăng lên 51.819 tấn (trong đó diện
Trang 12tích muối trải bạt 78,13 ha sản lượng 21.015 tấn) Năm 2016 sản lượng là
49.400 tấn.
Quá trình sản xuất muối trong thời gian qua có phần được cải tiến cả về quy trình sản xuất cũng như trang bị một số phương tiện phục vụ khâu sản xuất, đặc biệt là diện tích muối trải bạt ô kết tinh tăng dần qua các năm gần đây, năm 2012 diện tích muối trải bạt ô kết tinh là 0,46 ha năm 2015 tăng lên
là 73,13 ha, năm 2016 là 78 ha Nhờ quá trình cải tiến quy trình sản xuất và đầu tư cải tiến trang thiết bị nghề muối nên năng suất muối đã tăng khá cao, chất lượng cũng dược cải thiện rõ rệt, huyện đã phối hợp đề nghị và được công nhận “ Chỉ dẫn địa lý muối Bạc Liêu” nhằm thu hút đầu tư, quảng bá và phát triển thương hiệu muối Bạc Liêu Tuy nhiên giá muối giảm nhiều vào các năm gần đây nên bà con diêm dân sản xuất không có hiệu quả, mặt khác do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất muối dẫn đến diện tích sản xuất muối giảm mạnh
1.6 Các lĩnh vực có liên quan
- Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn:
Trên địa bàn huyện có 8/8 tuyến đường huyện nối từ trung tâm huyện đến các xã đã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, ngoài ra huyện có hơn 100 tuyến đường do xã quản lý nối từ quốc lộ, tỉnh, huyện.
Toàn huyện có 71,5/71,5 km đường trục xã, liên xã đạt chuẩn theo cấp
kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải Có 312 km /636km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải, chiếm
Trang 13Tuy nhiên, lưới điện hạ thế nhiều nơi chưa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất Đặc biệt đối với vùng nuôi trồng thủy sản phía Nam Quốc lộ I A nhu cầu tiêu thụ điện năng rất lớn cho sản xuất nhưng hiện nay lượng cung cấp điện năng chỉ đáp ứng ở mức thấp so với nhu cầu điện sản xuất.
Về phát triển hạ tầng thủy sản: Hiện đang triển khai thực hiện dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm Thâm canh – Bán thâm canh ở xã Vĩnh Mỹ A với vốn đầu tư là 157,818 tỷ đồng Có 2 cơ sở sản xuất nước đá công suất 150.000 tấn/năm Hạ tầng nuôi trồng thủy sản cho các khu nuôi tôm Thâm canh - Bán thâm canh tập trung mới bước đầu triển khai thực hiện, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất
Về hệ thống thủy lợi: Hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông nội đồng đáp ứng khoảng 90 - 95 % đối với vùng giữ ngọt ổn định phía Bắc Quốc lộ
IA và khoảng 80 % đối với vùng Nam Quốc lộ IA của huyện
Hệ thống kênh rạch dày đặc, phân bổ khắp trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển Hệ thống công trình đã đáp ứng cơ bản yêu cầu cấp thoát nước phục vụ cho sản xuất chuyên canh lúa và nuôi trồng thủy sản.
Tổng chiều dài các tuyến kênh thủy lợi trên địa bàn huyện có 668 km Hiện các hạng mục công trình kênh cấp I, cấp II, cấp III vượt cấp trên địa bàn huyện tương đối hoàn chỉnh, cần nạo vét theo định kỳ
Kênh cấp I: gồm kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Hòa Bình, kênh Ngan Dừa - Cầu Sập, Phước Long –Vĩnh Mỹ với các đoạn đi qua huyện có tổng chiều dài khoảng 42 km.
Kênh cấp II: có 42 tuyến với tổng chiều dài 82 km, thường cặp hệ thống giao thông nông thôn hoặc giao thông nội đồng.
Kênh cấp III và cấp III vượt cấp có 69 tuyến với chiều dài 186km
Trang 14Kênh nội đồng: có 276 tuyến, dài khoảng 358 km, phân bố đều khắp trên địa bàn huyện.
-Về tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp
- Các hộ nông dân được công nhận và giao đất theo Luật Đất đai để tự
tổ chức sản xuất, nhưng quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún Mối liên kết giữa nông dân với nông dân, nông dân với Tổ hợp tác hoặc hợp tác xã, nông dân với doanh nghiệp đang hình thành và phát triển bước đầu có dấu hiệu khả quan Đã hình thành, phát triển liên kết trong sản xuất thông qua mô hình cánh đồng lớn, trung tâm của sự liên kết là doanh nghiệp thông qua hợp tác xã để liên kết với nông dân, tuy nhiên mối liên kết trong sản xuất giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp còn lỏng lẻo và thiếu tính ràng buộc Quy mô của các hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác còn nhỏ; trình độ, năng lực quản lý của nhiều cán bộ hợp tác xã còn yếu; chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số hợp tác
xã và nhiều tổ hợp tác còn thấp Nhìn chung hoạt động các Hợp tác xã chưa phát huy tốt sức mạnh tập thể, chưa thể hiện rõ vai trò trong hỗ trợ nông dân sản xuất.
Kinh tế hợp tác và hợp tác xã : Toàn huyện hiện có 9 hợp tác xã đang
hoạt động trên các lĩnh vực nông nghiệp, tín dụng, nuôi trồng thủy sản, dịch
vụ nông nghiệp, sản xuất muối Tổng số vốn điều lệ 16,4 tỷ đồng, tổng số xã viên là 6.100 xã viên.
Thời gian qua tình hình kinh tế hợp tác – hợp tác xã trong huyện đã từng bước được củng cố Hiện nay trong toàn huyện có 156 tổ hợp tác với 1.963 tổ viên hoạt động trên các lĩnh vực trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, trồng màu, đan đát, vay vốn
Tuy nhiên loại hình kinh tế hợp tác chưa thực sự đi vào cuộc sống, nhiều bà con xã viên và quần chúng nhân dân còn e ngại, chưa tin tưởng vào loại hình kinh tế này, nên việc phát triển kinh tế hợp tác còn nhiều trở ngại.
Trang 15Kinh tế trang trại: Tính đến 31/12/2016 toàn huyện có 48 trang trại đạt tiêu chí theo thông tư 27/2011/TT-BNN ngày 13/4/2011 của Bộ nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Trong đó có 21 trang trại tổng hợp, 05 trang trại chăn nuôi, 21 trang trại nuôi trồng thủy sản
- Về xây dựng nông thôn mới: Phong trào xây dựng nông thôn mới đã
tạo được sự đồng thuận và tích cực hưởng ứng của nhân dân Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới đạt 478 tỷ đồng, có 2 xã đạt 15 tiêu chí và đang phấn đấu hoàn thành 19 tiêu chí cuối năm 2017 Trong thời gian tới sẽ từng bước nâng cao ý thức cộng đồng trong nông dân để thích ứng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Về thu nhập và đời sống nông dân: Thu nhập bình quân đầu người
nông thôn từ 19 triệu đồng năm 2011 tăng lên 26,6 triệu đồng năm 2016; tỷ lệ nhà ở kiên cố, bán kiên cố, khung gỗ lâu bền đạt 91% Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh từ 85% năm 2011 tăng lên 99,35 % vào năm 2016; tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện sinh hoạt từ 92% năm 2011 tăng lên
99,35% năm 2016.
- Về khoa học-công nghệ: Công tác chuyển giao và ứng dụng khoa học
công nghệ luôn chú trọng và đã được tăng cường hơn, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Trong thời gian qua huyện đã phối hợp triển khai thực hiện nhiều dự án, đề tài khoa học thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Các đề tài triển khai nghiên cứu tập trung vào việc thử nghiệm các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao Công tác ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ đã bám sát nhu cầu thực tế của người nông dân, Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Hầu hết lượng lúa giống cấp xác nhận và cấp nguyên chủng cung ứng cho sản xuất đều được sản xuất trong huyện; chất lượng lúa giống luôn đảm
Trang 16bảo theo cấp giống, chủng loại giống phù hợp với điều kiện nguồn nước, đất đai của huyện
Từng bước thay thế lao động thủ công bằng các loại máy móc, thiết bị tiên tiến ứng dụng trong nông nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động và
hình thành các cơ sở dịch vụ phục vụ cho sản xuất Ứng dụng công nghệ sau
thu hoạch như máy gặt đập liên hợp đã làm giảm thất thoát hạt lúa từ 8 – 10 %
và nâng cao chất lượng hạt lúa Thử nghiệm san bằng mặt ruộng điều khiển bằng tia laser cho 10 ha tại xã Vĩnh Mỹ B Đầu tư thực hiện mô hình sản xuất muối trắng chất lượng cao bằng phương pháp trải bạt trên nền sân kết tinh trên địa bàn diện tích 78 ha bước đầu xác định năng suất muối tăng trên 2 lần, giá thu mua cao hơn từ 10% trở lên so với muối sản xuất theo phương pháp truyền thống
2 Những hạn chế khó khăn
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng về cơ bản nông nghiệp, nông thôn của huyện cũng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết, đó là :
2.1 Nông nghiệp tuy tăng trưởng khá, nhưng còn ở trình độ thấp, thiếu bền vững, khả năng cạnh tranh thấp.
+ Nông nghiệp phát triển còn ở trình độ thấp, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, sản xuất nhỏ cả về quy mô lẫn sản lượng hàng hóa Cây trồng, vật nuôi chưa phong phú, đa dạng, vẫn còn độc canh con tôm và độc canh cây lúa, chiếm tỷ trọng rất lớn trong ngành Các đối tượng sản xuất chính của ngành tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu bền vững như việc ảnh hưởng của thiên tai,
dịch bệnh và biến động của thị trường (nắng nóng, khô hạn, gió bão, ngập úng, môi trường đất, nước bị ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi, giá cả bấp bênh ).
Trang 17Việc tổ chức thực hiện quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa nghiêm; sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng lại phân tán, manh mún, không gắn kết giữa vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; năng suất, chất lượng
và khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp chưa cao; bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn kém phát triển Phần lớn nông sản tiêu thụ và xuất khẩu ở dạng sơ chế, thô nên giá trị gia tăng rất thấp Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh
an toàn thực phẩm chưa được coi trọng
+ Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của huyện nói chung và trong nội bộ từng ngành nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản nói riêng còn chậm; chưa phát huy tốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm cho nông dân; việc đào tạo nghề cho nông dân cũng còn nhiều bất cập.
2.2 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và chưa đồng bộ, chất lượng thấp
+ Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp nâng cao đời sống của người dân và kinh tế nông thôn Kết cấu hạ tầng nông thôn còn thiếu và chưa đồng bộ, chất lượng thấp, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều bất cập; nhiều công trình kinh mương, cống đập, nhiều tuyến lộ, cầu giao thông bị xuống cấp nhưng thiếu kinh phí đầu tư sửa chữa, nâng cấp; về điện phục vụ cho sản xuất, nhất là các vùng nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh còn rất hạn chế, dẫn đến nhiều bà con phải dùng điện sinh hoạt để nuôi tôm làm tăng chi phí, giá thành sản xuất, đồng thời gây nên tình trạng thiếu điện áp trong sản xuất và sự
cố về điện thường xảy ra, ảnh hưởng rát lớn đến sinh hoạt và sản xuất
2.3 Các hình thức tổ chức sản xuất thiếu hiệu quả
+ Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn chậm đổi mới, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, hiệu quả sản xuất thấp; Quy
Trang 18mô của các hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác còn nhỏ; trình độ, năng lực quản lý của nhiều cán bộ hợp tác xã còn yếu; chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác thấp;
Kinh tế trang trại tuy tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô còn nhỏ, phát triển chưa ổn định, nhiều trang trại hoạt động chưa đúng mục đích.
Các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc, chưa hiệu quả và còn nhiều hạn chế.
2.4 Biến đổi khí hậu, Ô nhiễm môi trường tăng, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp luôn hiện hữu.
Biến đổi khí hậu hiện nay đã gây khó khăn trực tiếp đến quá trình sản xuất của toàn ngành nông nghiệp như: nước biển dâng gây ngập lụt, tình trạng nắng hạn, thiếu nước, bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện nhiều, mưa lớn kéo dài gây cho lúa bị ngập úng …
Các công trình bờ bao chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi sản xuất, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu, khi mực nước biển dâng cao nhiều diện tích nuôi tôm và nhiều tuyến đường giao thông nông thôn bị ngập lụt Việc đầu tư xây dựng hệ thống đê bao, trồng và giữ rừng chắn sóng ven đê đang được đặt ra hết sức cấp bách, nhất là khu vực phía Nam QL IA của huyện
Diện tích nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh tăng nhanh nhưng năng lực đầu tư về vốn, khoa học kỹ thuật, hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất lại không tương xứng và hợp lý, cộng với ý thức cộng đồng bảo vệ môi trường
chung của người dân chưa cao (các nguồn nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, chất thải sinh hoạt,… thải trực tiếp xuống hệ thống kênh rạch không qua xử lý trong khi hệ thống thủy lợi của huyện vừa làm nhiệm vụ cấp vừa làm nhiệm vụ thoát) Thời tiết diễn biến phức tạp làm
giảm sức đề kháng tôm nuôi cùng với tình trạng môi trường nuôi tôm ô nhiễm
Trang 19là nguyên nhân chính gây dịch bệnh kéo dài cho nghề nuôi tôm, dẫn đến diện tích thiệt hại tôm thâm canh – bán thâm canh của huyện khá cao tăng
Tình trạng sản xuất thâm canh, sử dụng quá nhiều phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng đã tạo ra nhiều chất thải độc hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật lưu tồn trong nông sản thực phẩm, đồng thời làm tăng khả năng đề kháng của sâu bệnh cũng là một trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững.
II PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 2017-2020 TẦM NHÌN 2030.
1 Dự báo tình hình
Hòa Bình là huyện có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp vì vậy trong những năm tới sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu của huyện, tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm khá cao trong cơ cấu kinh tế của huyện, sử dụng 80% lao động xã hội sản xuất theo hướng hàng hóa Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được sự đồng tình ủng hộ của
bà con nông dân và sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo các cấp chính quyền, đặc biệt là sự quan tâm của lãnh đạo các cấp và lãnh đạo ngành nông nghiệp Đó là thời cơ để ngành nông nghiệp huyện phát triển hiệu quả bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp trong những năm tới tiếp tục chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng, sự cực đoan của thời tiết ngày càng tăng, do đó các loại hình thiên tai có thể xảy ra ngày càng tăng, diễn biến phức tạp khó lường; tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi vẫn tiếp tục đe dọa tình hình sản xuất, đặc biệt là đối với nghề nuôi tôm nước lợ; thị trường xuất khẩu nông sản thực phẩm sẽ đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm theo hướng đảm bảo an toàn thực phẩm Năm 2017
và những năm tiếp theo sản xuất toàn ngành nông nghiệp trong bối cảnh những khó khăn thách thức vẫn chưa giảm hơn so với năm 2016.
Trang 202 Mục tiêu, quan điểm tái cơ cấu nông nghiệp giai đoạn
Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng
Quản lý sản xuất, định hướng sản xuất cho nông dân gắn chặt sản xuất với tiêu thụ, tập trung sản xuất các sản phẩm có đầu ra ổn định, bền vững Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cả trước mắt và lâu đài, góp phần giảm nghèo
Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Trang 21Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo phát triển thông qua đổi mới cơ chế, chính sách, thể chế và các hỗ trợ cần thiết, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động Phát huy tinh thần tự chủ, tự lực của dân cư nông thôn, lấy nông dân làm chủ thể của quá trình phát triển; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ.
Lấy khoa học công nghệ và đổi mới quan hệ sản xuất làm động lực cho tăng trưởng Huy động tài nguyên con người để tăng thu nhập, tạo tích lũy, phát triển nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội Làm cho người nông dân thay đổi nhận thức, ý thức và kiến thức trong sản xuất Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, từ sản xuất đến sơ chế, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
Lấy liên kết sản xuất và tiêu thụ làm trung tâm của quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tập trung phát triển kinh tế hợp tác và thu hút các thành phần kinh tế làm nhiệm vụ hàng đầu
Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan.
2.2 Mục tiêu cụ thể
-Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020:
Giá trị gia tăng toàn ngành nông nghiệp đạt 4,25 %/năm.
Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 40%; công nghiệp, xây dựng chiếm 29,5%; thương mại, dịch vụ chiếm 30,5%
Sản lượng lúa đạt 185.600 tấn.
Sản lượng thủy sản đạt 48.600 tấn ( có 26.500 tấn tôm)
Trang 22Mỗi xã, thị trấn đều có ít nhất 1 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả
Vùng sản xuất lúa ổn định phía Bắc Quốc lộ 1A của huyện có ít nhất 5 cánh đồng lớn.
Có 90% hộ nuôi tôm thâm canh- bán thâm canh được lắp đặt điện sản xuất.
3 NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
3.1 Nhiệm vụ thực hiện
* Về sản xuất nông, lâm, ngư diêm nghiệp:
Hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thực hiện đầu tư thâm canh theo chiều sâu, sử dụng các gióng cây trồng và quy trình sản xuất mới để tăng năng suất chất lượng, hiệu quả sản xuất từ tập trung nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng từng bước hoàn thiện hệ thống tưới tiêu; đẩy nhanh cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất ( san bằng mặt ruộng, làm đất, gieo sạ, thu hoạch, vận chuyển,…); chuyển giao công nghệ giảm tổn thất sau thu hoạch, bảo vệ ổn định qũy đất chuyên lúa để gia tăng sản lượng lúa, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện và hàng hóa xuất khẩu.
Phát triển sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; cơ cấu hợp lý các loại nông sản hàng hóa có lợi thế, tập trung nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường như: lúa gạo, rau quả.
Phát triển có hiệu quả các mặt hàng thay thế nhập khẩu ở nơi có điều kiện thuận lợi, cân đối bố trí diện tích để sản xuất các cây thức ăn chăn nuôi đảm bảo yêu cầu phát triển chăn nuôi gia súc.
Tích cực đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã được xác định trong Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện; tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ