1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

105 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nghiên cứu này tác giả chưa đưa ra các kết quả các hoạt động của nhân viên xã hội tại các SUD trong việc tham vấn cho người nghiện ma túy chấp nhận điều trị bằng thuốc hỗ trợ.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU XUÂN LƠ

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE Ở THÀNH PHỐ

LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất kỳ chương trình nghiên cứu nào trước đây Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả

Lưu Xuân Lơ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12 1.2 Lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy 23 1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone 28 1.4 Một số lý thuyết ứng dụng trong đề tài 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE Ở THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI 38

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu 38 2.2 Thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở Tp Lào Cai, tỉnh Lào Cai 44 2.3 Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở Tp Lào Cai 56

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CTXH TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE 70

3.1 Nhóm giải pháp về cải thiện hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy 70 3.2 Một số giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện Công tác xã hội 75

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNMT Cai nghiện ma túy CSĐT Cơ sở điều trị CTXH Công tác xã hội NNMT Sử dụng ma túy NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội

Từ viết tắt Dịch nghĩa TVV Tham vấn viên UBND Ủy ban nhân dân

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Thời gian thành lập các Cơ sở điều trị Methadone trên địa bàn tỉnh

Lào Cai 39

Bảng 2.2: Đặc điểm khách thể trong nghiên cứu (ĐVT: %) 40

Bảng 2.3 Bảng tình hình điều trị của NNMT (n=196) 43

Bảng 2.4 Lý do bỏ trị của NNMT giai đoạn 2013 - 2016 53

Bảng 2.5 So sánh kết quả hoạt động CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone 55

Bảng 2.6 Đặc điểm nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở điều tri methadone 61

Biểu đồ 2.7 Mức độ hài lòng của NNMT về dịch vụ 62

Biểu đồ 2.1: Thời gian điều trị tham gia điều trị Methadone 42

Biểu đồ 2.2: Lũy tích số lượt tham vấn 45

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ sử dụng Heroin của NNMT trong 30 ngày qua 46

Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ NNMT bỏ điều trị theo từng năm 54

Biểu đồ 2.5: Động cơ NNMT tham gia điều trị Methadone 57

Biểu đồ 2.6 Tình trạng việc làm của NNMT trước và sau khi tham gia điều trị Methadone 58

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

"Hơn 20 năm qua, công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, bố trí nguồn lực… Tuy nhiên, công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy đang gặp nhiều khó khăn, thách thức… Số người nghiện có hồ sơ quản lý tăng gần 4 lần trong 20 năm qua, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, giống nòi dân tộc và trật tự

an toàn xã hội" đó là những câu nhận định mở đầu cho Nghị Quyết số

98/NQ-CP của Chính Phủ ngày 26 tháng 12 năm 2014 về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới Thực vậy, nghiện ma túy đã và đang là một gánh nặng về kinh tế và tinh thần rất lớn cho xã hội, nhất là đối với chính bản thân người nghiện và gia đình họ nếu tình trạng nghiện kéo dài Đặc biệt là trong thời gian vừa qua, nhiều đường dây mua bán ma túy lớn, với số lượng hàng tấn ma túy bị phát hiện; nhiều vụ việc nghiệm trọng, gây thiệt hại lớn về người và của do người sử dụng ma túy gây ra như giết người hàng loạt, lái xe sử dụng ma túy gây tai nạn chết nhiều người, học viên trại cai nghiện phá trại tập thể…

Trong bối cảnh đó, Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy đã được phê duyệt tại Quyết định số 2596/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2013 có đề ra phương hướng cho công tác cai nghiện ma túy tới năm 2020 là "cai nghiện đa chức năng, thân thiện và dễ tiếp cận cho người sử dụng ma túy" Do vậy, ở nước ta hiện nay không chỉ có hình thức cai nghiện bắt buộc tại các trung tâm, cơ sở cai nghiện của nhà nước như trước đây, mà

đã xuất hiện các hình thức cai nghiện khác như cai nghiện tự nguyện tại các

cơ sở cai nghiện tư nhân, hình thức cai nghiện bằng liệu pháp tâm lý tình cảm tại Viện nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy và phương pháp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone) là một phương pháp nổi bật, trải qua

10 năm kể từ khi triển khai năm 2008 đến nay đã điều trị cho hơn 54 nghìn người và được đánh giá là thân thiện, tiết kiệm chi phí với hiệu quả đem lại khả quan

Trang 7

Tại Lào Cai, phương pháp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone) đã được tỉnh ủy, hội đồng nhân nhân, ủy ban nhân dân quan tâm chỉ đạo thực hiện từ năm 2013 Từ 1 cơ sở điều trị ban đầu, đến nay đã có 15

cơ sở điều trị và điểm cấp phát thuốc phân bố đều tại thành phố và các huyện trong tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho NNMT có nhu cầu dễ dàng tham gia điều trị

Công tác xã hội tuy là một ngành, nghề rất mới và còn non trẻ ở nước ta hiện nay Nhưng đối tượng trợ giúp của công tác xã hội là những người yếu thế trong xã hội, trong đó có người nghiện ma túy Từ khi triển khai, các CSĐT Methadone ở Lào Cai luôn chú trọng phát triển đội ngũ nhân viên Công tác xã hội, mỗi CSĐT luôn có ít nhất 1 nhân viên Công tác xã hội làm nhiệm vụ tham vấn tâm lý, hỗ trợ NNMT trong quá trình điều trị, giúp họ phục hồi, dự phòng tái nghiện và tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội khác

Trên thế giới và tại Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về hiệu quả của chương trình điều trị Methadone, sự thay đổi của NNMT sau khi tham gia điều trị Methadone… để làm căn cứ tiếp tục phát triển, mở rộng chương trình điều trị Methadone nhưng các nghiên cứu vẫn chưa làm rõ được vai trò của nhân viên CTXH tại các CSĐT Methadone và hiệu quả các hoạt động CTXH

tại đây Chính vì lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Công

tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các cơ sở điều trị Methadone ở thành phố Lào Cai – tỉnh Lào Cai”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở nước ta, sau khi đề án phát triển nghề CTXH theo quyết định số 32/2010/QĐ-TTg có hiệu lực, CTXH ngày càng được khuyến khích tham gia nhiều hơn vào các khía cạnh xã hội như việc chăm sóc và điều trị cho những người sử dụng ma túy Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn có rất ít thông tin về hiệu quả của các hoạt động CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy và CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone thì lại càng ít cả trên thế giới cũng như Việt Nam

Trang 8

2.1 Trên thế giới

Trong nghiên cứu “Kiến thức và nhận thức của nhân viên công tác xã hội

về hiệu quả và khả năng chấp nhận điều trị hỗ trợ bằng thuốc trong điều trị rối loạn sử dụng chất” [16] của tiến sĩ Brian E.Bride và các cộng sự đã điều tra kiến thức của nhân viên xã hội, nhận thức của họ về hiệu quả và khả năng chấp nhận điều trị hỗ trợ bằng thuốc (gọi tắt là MAT) trong các trung tâm điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện dựa vào cộng động tại Mỹ (gọi tắt là SUD) Theo nghiên cứu, điều trị duy trì bằng Methadone là một trong những lựa chọn điều trị được sử dụng thường xuyên nhất cho sự lệ thuộc thuốc phiện

do chi phí thấp và hiệu quả đã được chứng minh trong việc giảm sử dụng ma túy, các hành vi tội phạm, tỷ lệ nhiễm HIV và phục hồi chức năng nên đa phần các nhân viên CTXH nắm được các kiến thức về hiệu quả của Methadone, trong khi tỷ lệ này với naltrexone và buprenorphin Nghiên cứu cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tiếp xúc với MAT của nhân viên xã hội để họ có khả năng phát triển một nền tảng kiến thức liên quan đến hiệu quả của thuốc hỗ trợ, nghiên cứu nhấn mạnh nhận thức của nhân viên xã hội

sẽ ảnh hưởng tới việc chấp nhận điều trị hỗ trợ thuốc của những người nghiện

ma túy tại các SUD Tuy nhiên, nghiên cứu này tác giả chưa đưa ra các kết quả các hoạt động của nhân viên xã hội tại các SUD trong việc tham vấn cho người nghiện ma túy chấp nhận điều trị bằng thuốc hỗ trợ

Trong nghiên cứu “Kết quả thực hành điều trị Methadone cho người nghiện thuốc phiện được điều trị tại các phòng khám ma túy trong thực tế nói chung: kết quả từ Nghiên cứu Kết quả Điều trị Quốc gia” [20] của M Gossop,

J Marsden, D Stewart, P Lehmann và J Strang đã trình bày kết quả điều trị sáu tháng cho những NNMT được điều trị bằng Methadone tại cộng đồng trong phòng khám chuyên khoa hoặc phòng khám đa khoa tại Vương quốc Anh Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra những cải thiện của người điều trị trong các vấn đề liên quan đến thuốc, sức khỏe và chức năng xã hội Kết quả này đã chứng minh tính khả thi của việc điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và cho thấy kết

Trang 9

quả điều trị cho những NNMT này có thể hiệu quả như đối với NNMT tại các phòng khám chuyên khoa Nghiên cứu này cũng chưa chỉ ra được tác động của các bác sĩ gia đình (nhân viên xã hội) đối với người sử dụng ma túy có vấn đề

Trong nghiên cứu “Nhân viên xã hội và phương pháp điều trị tâm lý dựa trên bằng chứng cho người rối loạn sử dụng chất” [17] do tiến sỹ ELIZABETH A WELLS và cộng sự tiến hành, kết quả của nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan về phương pháp điều trị cho người bị rối loạn sử dụng chất (cách gọi khác của người nghiện ma túy) bằng phương pháp tâm lý

xã hội đã đạt hiệu quả Nghiên cứu đã mô tả các phương pháp điều trị, đánh giá việc hỗ trợ theo kinh nghiệm, tập hợp các phương pháp điều trị được biết

là có hiệu quả và các vấn đề gặp phải khi thực hiện

Qua kết quả của các nghiên cứu, có thể thấy những người nghiện ma túy hoặc người gặp các vấn đề rối loạn sử dụng chât đã trở thành “thân chủ” phổ biến của các nhà CTXH trên thế giới và nhân viên xã hội sẽ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình hỗ trợ cai nghiện ma túy

2.2 Tại Việt Nam

Tại nước ta, ma túy cũng như cai nghiện ma túy rất được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong những năm qua, nên các công trình nghiên cứu

về vấn đề này đã có rất nhiều tác giả đề cập tới

Tác giả Phan Thị Mai Hương, Trong nghiên cứu “Thanh niên nghiện ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” [6] của đã đề cập đến cách tiếp cận mới

về từ góc độ của tâm lý học với nhóm thanh niện nghiện ma túy Nghiên cứu

đã phân tích và hệ thống hóa những lý luận và đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh

xã hội và sự ảnh hưởng của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện và quan điểm về việc giải quyết chính trong thực tiễn Tác giả chỉ ra rằng việc ngăn ngừa hành vi nghiện ma túy và quá trình cai nghiện ma túy ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và các biện pháp của tâm lý học Mặc dù nghiên cứu này nhấn mạnh đến vai trò của tâm lý học trong trợ giúp

Trang 10

thanh niên nghiện ma túy nhưng chưa được làm rõ vai trò của tham vấn tâm

lý đối với thanh niên

Một trong những giáo trình dạy về CTXH với người nghiện ma túy là

“Giáo trình Tham vấn Điều trị nghiện ma túy” [8] của tác giả Bùi Thị Xuân

Mai và các cộng sự Tài liệu như là cầm tay chỉ việc cho những nhà tham vấn, với việc cung cấp gần như đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cùng các ví dụ minh họa, lời khuyên trong những tình huống thực tế gặp phải trong quá trình can thiệp, trợ giúp người nghiện ma túy Đối với từng nhóm nghiện ma túy khác nhau sẽ có những cách tham vấn cụ thể, các vai trò của CTXH và các hoạt động của nhân viên CTXH đều được giáo trình đề cập tới Có thể nói đây là một công trình nền tảng đối với nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực hỗ trợ cai nghiện ma túy Trên cơ sở này, tác giả đã thực tiễn hóa vào đề tài nghiên cứu của mình các hoạt động của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone

Trong nghiên cứu “Các yếu tố liên quan đến NNMT ra khỏi chương trình điều trị nghiện bằng Methadone tại Tp Hồ Chí Minh, 2015 – 2017”[1] của tác giả Đỗ Văn Dũng và cộng sự đã xác định được tỷ lệ người bỏ trị Methadone tại các CSĐT Methadone trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời tìm hiểu một số nguyên nhân NNMT bỏ trị và xác định các yếu tố liên quan đến việc ra khỏi chương trình Trong đó có nguyên nhân NNMT thiếu hiểu biết về chương trình điều trị, thiếu sự tham vấn trong quá trình điều trị chiếm tỷ lệ khá cao Qua nghiên cứu có thể thấy rằng, việc tham vấn cho NNMT điều trị Methadone là rất quan trọng, vai trò của nhân viên CTXH là rất quan trọng

Thời gian gần đây, tại những trường đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội cũng có một số nghiên cứu về người nghiện ma túy và điều trị nghiện bằng thuốc Methadone trong đó tiêu biểu có một số nghiên cứu sau:

Tác giả Đỗ Thanh Huyền với nghiên cứu: “Hoạt động hỗ trợ xã hội cho người sau cai nghiện ma túy tại Thành phố Hòa Bình – Tỉnh Hòa Bình” [5] đã đánh giá thực trạng công tác hỗ trợ cho người sau cai nghiện ma túy trong các

Trang 11

lĩnh vực: Hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ phòng, chống tái nghiện, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ có việc làm và tạo việc làm và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ cùng với vai trò của nhân viên CTXH Luận văn này cũng

đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện

ma túy nhưng còn chưa tập trung và chưa đi sâu phân tích chi tiết trong quá trình trợ giúp, chưa có kết quả các hoạt động của nhân viên CTXH trong trợ giúp người nghiện ma túy sau cai

Tác giả Tạ Hồng Vân trong nghiên cứu “Hoạt động công tác xã hội trong

hỗ trợ điều trị nghiện cho người nghiện ma túy tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành phố Nam Định)”[12] đã chỉ ra nhân viên xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình trợ giúp người nghiện ma túy của thành phố Nam Định tham gia điều trị, phục hồi chức năng và hòa nhập cộng đồng Nghiên cứu cũng nêu ra một số hoạt động của CTXH tuy nhiên lại tập trung quá nhiều vào hoạt động tham vấn/tham vấn mà lướt qua những hoạt động khác của CTXH trong quá trình hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone

Tác giả Nguyễn Thị Hằng với nghiên cứu “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp người nghiện ma túy tham gia chương trình Methadone (Nghiên cứu tại cơ sở điều trị methadone quận Nam Từ Liêm)”

[7]đã chỉ ra một số vai trò của nhân viên CTXH trong quá trình trợ giúp người nghiện đang tham gia chương trình điều trị nghiện thay thế bằng thuốc Methadone, cùng với phân tích các hoạt động hỗ trợ người nghiện ma túy đang tham gia chương trình Methadone tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội Tuy nhiên, những đánh giá của nghiên cứu vẫn mang tính chủ quan của tác giả khi nghiên cứu người nghiện ở vùng đô thị

Qua quá trình tổng quan tài liệu cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề CTXH đối với người nghiện ma túy ở trên thế giới và Việt Nam, những năm gần đây người nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone đã dần được quan tâm hơn Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung về đánh

Trang 12

giá chương trình điều trị Methadone, đánh giá về tuân thủ điều trị trong chương trình Methadone, hoặc sự cải thiện của người nghiện sau khi tham gia điều trị Methadone; còn rất ít nghiên cứu đánh giá CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các cơ sở điều trị Methadone Chính vì vậy, nghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu sâu hơn về lý luận cũng như đưa ra kết quả hoạt động CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT methadone ở TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai với đặc thù là tỉnh miền núi với nhiều cửa khẩu quốc tế

và người nghiện có một phần không nhỏ là người dân tộc thiểu số tham gia điều trị Methadone, người nghiện di biên động lớn Trên cơ sở đó, đánh giá

và khuyến nghị cải thiện hiệu quả CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đánh giá thực trạng CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các

Cơ sở điều trị Methadone và một số yếu tố ảnh hưởng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao, cải thiện hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone ở Tp Lào Cai – T Lào Cai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác xã hội, ma túy, người nghiện

ma túy, phương pháp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone) và công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các cơ sở điều trị Methadone

Đánh giá thực trạng hoạt động Công tác xã hội và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ

sở điều trị Methadone ở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

4.2 Khách thể nghiên cứu

- 196 người nghiện ma túy

- 05 thân nhân NNMT (cha, mẹ, vợ/chồng/bạn tình, anh/chị/em ruột…)

- 06 Cán bộ hỗ trợ trực tiếp (tham vấn viên; bác sĩ điều trị)

- 02 Cán bộ quản lý cơ sở điều trị

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại CSĐT Methadone số 01

và CSĐT Methadone số 02 trực thuộc Sở Lao động – TBXH tỉnh ở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Phạm vi thời gian: 01/01/2019 – 30/06/2019

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng hoạt động

CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone và các yếu tố ảnh hưởng, cụ thể: Hoạt động tham vấn tâm lý, hoạt động hỗ trợ vay vốn, việc làm, hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, hoạt động kết nối dịch vụ, nguồn lực, hoạt động biện hộ, vận động chính sách và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH trong

hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ thực trạng CTXH trong

hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone và đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng tới CTXH trong hỗ trợ cai nghiện tại các CSĐT Methadone ở thành phố Lào Cai, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone ở Tp Lào Cai

Trang 14

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những

lý thuyết có liên quan trực tiếp tới đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như công tác xã hội cá nhân, CTXH nhóm, phát triển cộng đồng, quản lý trường hợp trong hỗ trợ cai nghiện ma túy; hệ thống chính sách xã hội đối với người cai nghiện ma túy và NNMT điều trị bằng thuốc Methadone; Chủ trương đổi mới công tác cai nghiện ma túy trong tình hình mới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi chủ yểu yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu

Sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ các nguồn như: các văn bản pháp luật, báo cáo, tạp chí, sách tham khảo, báo cáo khoa học… để tổng hợp thông tin, phân tích tài liệu, tìm hiểu các số liệu liên quan đến công tác cai nghiện ma túy, cũng như công tác xã hội với người cai nghiện ma túy nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, xác định được một số khái niệm chính trong đề tài như: Ma túy, nghiện ma túy, người nghiện, người cai nghiện ma túy, phương pháp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone), công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy…

- Phương pháp điều tra bảng hỏi

Sử dụng phương pháp này để tiến hành tìm hiểu, thu thập các thông tin cần thiết từ khách thể điều tra làm luận cứ khoa học cho sự đánh giá của đề tài Đề tài đã thực hiện điều tra bảng hỏi với 196 NNMT đang ở giai đoạn duy trì liều trên 3 tháng, với mỗi phiếu khảo sát, sử dụng các câu hỏi đóng và câu hỏi mở để khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, kết quả điều trị Methadone, đánh giá về các hoạt động CTXH và một số yếu tố ảnh hưởng đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy… trên cơ sở đó, đề tài đánh giá thực trạng của Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy và một số yếu

tố ảnh hưởng đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các cơ sở điều trị Methadone ở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 15

Sử dụng phương pháp này tác giả phỏng vấn sâu 5 NNMT đang điều trị,

05 người nhà của NNMT để thu thập thông tin về sự tiến bộ trong điều trị của NNMT, đánh giá hiệu quả, ý nghĩa, tầm quan trọng của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy; Phỏng vấn sâu 05 nhân viên Công tác xã hội về một số yếu

tố ảnh hưởng đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; Phỏng vấn sâu 02 bác sỹ phụ trách y tế - điều trị và 02 cán bộ lãnh đạo Cơ sở điều trị Methadone về đánh giá chất lượng các hoạt động CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy và một số yếu tố ảnh hưởng

- Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các thuật toán để xử lý số liệu, kết quả khảo sát bằng thống kê toán học; tóm tắt, tổng hợp dữ liệu và trình bày dữ liệu dưới dạng biểu bảng; Phân tích dữ liệu, tính toán các tham số thống kê và diễn giải kết quả

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Đề tài khái quát hóa các lý luận về CTXH, ma túy,

nghiện ma túy, người nghiện ma túy, cai nghiện ma túy, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone)… trên cơ sở đó khái niệm về Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu là một trong số ít các nghiên cứu

về CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở

Tp Lào Cai Hiện nay chủ trương đổi mới công tác cai nghiện đang được đẩy mạnh thực hiện, đặc biệt là việc nâng cấp các CSĐT Methadone thành các CSĐT đa chức năng theo quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện ma túy đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt tại Quyết định số 1640/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 18 tháng 8 năm 2016 thì việc đánh giá, xem xét hiệu quả CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy là một việc làm rất quan trọng và cần thiết để được nhận một vai trò xứng đáng trong tương lai

Trang 16

Ngoài ra, các kết quả của đề tài có thể là tài liệu tham khảo đối với người làm công tác cai nghiện ma túy hoặc hỗ trợ người nghiện ma túy như gia đình người SDMT, nhân viên các CSĐT nghiện ma túy

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, Danh mục từ viêt tắt, các Phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone

Chương 2: Thực trạng Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE

1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Khái niệm ma túy

1.1.1.1 Khái niệm

Ma túy được đông đảo người dân hiểu và nghĩ gắn liền với một số chất gây nghiện nguy hiểm như: thuốc phiện, cần sa và đặc biệt là heroine Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu chưa đầy đủ, đôi khi chúng ta cũng sử dụng ma túy

để gọi những chất gây nghiện hợp pháp khác như là: café, rượu, bia… Theo Luật Phòng, Chống ma túy năm 2000, ma túy được định nghĩa như sau:

“Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [10] Cụ thể hơn, trong Bộ luật Hình

sự có hiệu lực năm 2000 định nghĩa về ma túy như sau: “Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất ma tuý khác ở thể lỏng hay thể rắn” [11]

Trên thế giới, ma túy được Liên hợp quốc định nghĩa là: "Ma túy là chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức trí tuệ của con người, làm cho người bị lệ thuộc vào các chất đó, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng Do vậy, việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng các chất đó phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của cơ quan bảo vệ pháp luật" [12] Theo Tổ chức Y Khoa Thế Giới (WHO), ma túy là “chất hoa học sau khi được hấp thu sẽ làm thay đổi chức năng thực thể và tâm lý của người sử dụng”

Từ định nghĩa về ma túy của pháp luật Việt Nam và Liên hợp quốc ta có thể hiểu về Ma túy là các chất khi được đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người sử dụng, nếu lạm

Trang 18

dụng ma túy, người sử dụng sẽ bị lệ thuộc vào nó và gây tổn thương, nguy hại cho chính người sử dụng và cộng đồng xung quanh

1.1.1.2 Phân loại

Ma túy được phân chia thành nhiều loại dựa những căn cứ khác nhau như: mức độ tác động lên hệ thần kinh, nguồn gốc, mục đích sử dụng… Tuy nhiên, việc phân loại này cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi vì việc sử dụng các chất ma túy luôn luôn biến đổi khôn lường, hàng năm đều có thêm nhiều loại ma túy và tiền chất mới được tội phạm ma túy nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài, liệt kê ra đây 02 cách phân loại phổ biến như sau:

* Phân loại theo nguồn gốc

Theo tiêu chí này, ma túy được phân chia thành 3 loại: Ma túy có nguồn gốc tự nhiên, ma túy bán tổng hợp và ma túy tổng hợp

- Ma túy tự nhiên: Đây là các sản phẩm ma túy sớm nhất được con người

sử dụng, bắt nguồn từ các cây trồng tự nhiên và các chế phẩm của chúng như thuốc phiện, cần sa và cocain

- Ma túy bán tổng hợp: Đây là các chất ma túy được con người chế từ ma túy tự nhiên với một số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu Ví dụ: Heroin là một loại ma túy bán tổng hợp được chiết xuất từ cây thuốc phiện, bằng cách chế thuốc phiện với các hóa chất để tạo ra morphine

và sau đó kết tủa thành heroin dạng thô

- Ma túy tổng hợp: Đây là các loại ma túy mới được biết đến những năm gần đây, chúng được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần

từ hóa chất như: thuốc lắc, ma túy đá

* Phân loại theo tác dụng của chất ma túy lên người sử dụng

Cách phân loại này dựa trên tác dụng chủ yếu của chất ma túy đến hệ thần kinh trung ương của con người, có thể chia thành 3 loại:

- Nhóm thuốc an thần, ức chế hệ thần kinh trung ương: Thuốc phiện, những chất chế ra từ thuốc phiện (heroine, morphine, cocaine, methadone và pethidine) và thuốc ngủ (lumiau, valium, seconau phenobacbital, serepax,

Trang 19

mogadon, seduexen…) Tác động chủ yếu khi sử dụng là buồn ngủ, an thần, yên dịu, giảm nhịp tim, giảm hô hấp…

- Nhóm các chất gây kích thích: Bao gồm amphetamine và các dẫn xuất của nó; có tác dụng làm tăng sinh lực, gây hưng phấn, tăng hoạt động của cơ thể, tăng nhịp tim, hô hấp…

- Nhóm các chất gây ảo giác: điển hình gồm LSD (Lysergic Acid Diethylamide) hay còn gọi là ma túy gây ảo giác, ecstasy (thuốc lắc) Việc sử dụng các chất này với lượng lớn có thể làm thay đổi nhận thức về hiện tại, về

3 môi trường xung quanh; khiến cho người dùng có thể nghe thấy, nhìn thấy những sự việc không có thật (ảo thanh, ảo giác)

1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy

Trước hết, cần phải hiểu rằng thuật ngữ nghiện không chỉ đề cập đến sự phụ thuộc vào các chất ma túy như là heroin hay cocaine Theo Angres DH,

Bettinardi-Angres K có nói rằng Nghiện là sự lặp lại liên tục của một hành vi

bất chấp hậu quả xấu hoặc theo American Society for Addiction Medicine (2012) có nói về nghiện là sự rối loạn thần kinh để dẫn đến những hành vi bất chấp hậu quả [14]

Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng ma túy (NIDA) cho rằng nghiện là hình thức nghiêm trọng nhất của một loạt các rối loạn sử dụng chất gây nghiện, và là một bệnh nội khoa do lạm dụng nhiều lần một chất hoặc các

chất NIDA sử dụng thuật ngữ Nghiện như sau: “Nghiện là một rối loạn mãn tính, tái phát đặc trưng bởi tìm kiếm ma túy bắt buộc, tiếp tục sử dụng bất chấp hậu quả có hại và những thay đổi lâu dài trong não[23]

Định nghĩa về nghiện ma túy trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều quan điểm Theo tổ chức Mayo Clinic, nghiện ma túy được định nghĩa

như sau: “Nghiện ma túy còn được gọi là rối loạn sử dụng chất gây nghiện, là một bệnh ảnh hưởng đến não và hành vi của một người và dẫn đến việc không thể kiểm soát việc sử dụng thuốc hoặc thuốc hợp pháp hoặc bất hợp pháp Các chất như rượu, cần sa và nicotine cũng được coi là ma túy Khi bạn nghiện, bạn có thể tiếp tục sử dụng thuốc bất chấp tác hại của nó.”

Trang 20

Quan điểm mới về nghiện cho rằng: Nghiện là một bệnh tái phát mạn tính của bộ não và tái phát như các loại bệnh tiểu đường, hen, viêm khớp và tim mạch

Trên cơ sở những luận điểm trên, có thể hiểu về nghiện ma túy là là sự phụ thuộc (hoặc lệ thuộc) của con người vào các chất ma túy, việc đưa một lượng ma túy nhất định vào cơ thể là một nhu cầu thường xuyên và bắt buộc,

nó luôn có xu hướng tăng dần liều sử dụng, khi ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể liều lượng sẽ xuất hiện hội chứng cai rất khó chịu, thúc ép con ngưởi phải sử dụng ma túy

1.1.3 Khái niệm người nghiện ma túy

Tại Việt Nam, Pháp luật đã quy định rất rõ ràng rằng: Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này [11]

1.1.3.2 Đặc điểm sinh, tâm lý- xã hội của người nghiện ma túy

Cuộc sống của những người nghiện ma túy bị chi phối bởi nỗi ám ảnh của việc sử dụng ma túy Nỗi ám ảnh này thường dẫn đến người nghiện thất nghiệp, nghèo đói và vô gia cư Khi ở trong trạng thái này, họ thường chuyển sang phạm tội để có được chất ma túy Cũng bởi vì dùng ma túy và phạm tội, cuộc sống của một người nghiện ma túy thường với trung tâm cai nghiện và

Trang 21

nhà tù Người nghiện ma túy cũng có xu hướng gặp các vấn đề sức khỏe mãn tính khác, như viêm gan hay nghiêm trọng hơn là HIV Có quan điểm cho rằng, con người là tổng hòa của 3 yếu tố quan trọng là: Sinh lý, tâm lý và xã hội Một người nghiện ma túy thì cả 3 yêu tố trên đều bị ảnh hưởng

Nếu xem xét con người là một sự tổng hòa của thể chất, tâm lý và xã hội Phần lớn người nghiện ma túy bị tổn thương ở cả ba phương diện trên Cụ thể:

Về sinh lý - thể chất: Người sử dụng ma túy sẽ bị suy giảm sức khỏe,

mắc các bệnh như là Viêm gan B, viêm gan C và chiếm đa số trong những người nhiễm HIV/AIDS là người sử dụng ma túy

Về tâm lý: Người nghiện ma túy thường có tâm trạng thất thường (lo

âu/trầm cảm, lo lắng về tương lai/hoảng loạn); đôi khi khó hoặc thậm chí không có khả năng để thích ứng với những căng thẳng hoặc cơn giận giữ; có một số người còn có tâm lý sợ hãi bị trả thù, bị truy sát, bị ngược đãi; hoang tưởng, ảo giác; dễ rơi vào trầm cảm và tăng nguy cơ tự hủy hoại bản thân/tự

tử

Về xã hội: Một số người sử dụng ma túy cho biết rằng họ rất tự ti về bản

thân mình, ngại không dám giao lưu với những người không sử dụng ma túy

và nhiều người nghiện ma túy bị gia đình, bạn bè xa lánh, cộng đồng xung quanh kỳ thị, nhiều người do sử dụng ma túy mà bị mất công việc, vợ chồng

ly hôn…

Cuộc sống của một người nghiện ma túy có xu hướng “xoắn ốc” xuống

cho đến khi tình trạng nghiện ma túy nghiêm trọng khiến người nghiện chạm

“đáy” Đó là khi cuộc sống của người nghiện trở nên tồi tệ, họ không cảm

thấy nó có thể trở nên tồi tệ hơn Thông thường, chỉ đến lúc này, những người nghiện ma túy mới cân nhắc nghiêm túc việc điều trị nghiện ma túy của mình

1.1.4 Khái niệm cai nghiện ma túy

1.1.4.1 Khái niệm

Cai nghiện ma túy hay điều trị nghiện ma túy, đôi khi được gọi là liệu pháp hành vi, đây là phương pháp điều trị lạm dụng ma túy được sử dụng phổ

Trang 22

biến nhất Điều trị lạm dụng thuốc có nhiều hình thức, với các kỹ thuật và mục tiêu khác nhau Tham vấn nghiện ma túy có thể thực hiện với cá nhân, với cặp đôi hoặc trong một môi trường nhóm

Cũng theo GS Jon Currie, điều trị nghiện ma tuý nên có 3 trụ cột quan trọng là não, hành vi và bối cảnh xã hội Trong đó, phải tính đến các yếu tố gia đình, dịch vụ hướng nghiệp, tài chính, dịch vụ y tế, giáo dục, phòng chống HIV/AIDS, tham vấn pháp luật, nhà ở, đi lại… Theo ông, cai nghiện ma tuý không phải như cắt ruột thừa hoặc điều trị gãy xương, chỉ một lần điều trị sẽ không giúp ích gì Do đó, không bao giờ được coi cắt cơn, giải độc là một giải pháp điều trị thực sự với cai nghiện ma tuý, mà đó chỉ đơn giản là việc làm đầu tiên và quan trọng để khởi đầu cho một quá trình điều trị cai nghiện lâu dài, liên tục

Theo Liên hợp quốc, Cai nghiện ma túy là thông qua phương pháp điều trị được xây dựng dựa trên nhu cầu của mỗi người bệnh, những người nghiện

ma túy có thể học được cách kiểm soát tình trạng nghiện của họ và sống một cuộc sống bình thường, có ích [11]

Theo Chính Phủ, Cai nghiện ma túy là việc áp dụng các hoạt động điều trị, tham vấn, học tập, lao động, rèn luyện nhằm giúp cho người nghiện ma túy phục hồi về sức khỏe, nhận thức, tâm lý và hành vi, nhân cách để trở về tình trạng bình thường.[2]

Theo quan điểm của Y học cổ truyền, đại diện là Việt Y cổ truyền, quan niệm rằng: Cai nghiện ma túy bản chất là phục hồi các tế bào chuyên tiết ma túy nội sinh (Enkephalin) cho cơ thể để cơ thể không còn cần đến ma túy ngoại nhập[11]

Như vậy, có thể hiểu về cai nghiện ma túy là việc giúp người nghiện không bị lệ thuộc vào CDTP, giảm tác hại, tái phục hồi chức năng thể chất, tâm lý và xã hội; xây dựng lối sống không cần chất gây nghiện Có sự tham gia tích cực của toàn xã hội, kế hoạch điều trị hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, gia đình và cộng đồng

Trang 23

Dù vậy, chúng ta cần biết rằng khi đã hồi phục hay “cai nghiện thành công”, tình trạng tái nghiện là khá phổ biến, nhưng điều này không phải là điều trị thất bại Mặc dù tái nghiện là điều không được khuyến khích, nhưng không nên coi đó là một thất bại Bởi vì, cai nghiện ma túy là một quá trình suốt đời và “trượt” là bình thường

1.1.4.2 Một số biện pháp cai nghiện ma túy

Các phương pháp cai nghiện ma túy ngày nay rất đa dạng, cùng với sự phát triển của nền khoa học, hiệu quả đã ngày càng được nâng cao

Trên thế giới, có một số biện pháp cai nghiện ma túy đã được chứng nhận bởi Viện lạm dụng ma túy (Mỹ) [824]:

Trị liệu hành vi nhận thức (CBT) - giải quyết các hành vi liên quan

đến nghiện bằng cách xác định chúng và học các kỹ năng để sửa đổi chúng Tự nhận thức và tự kiểm soát là điều quan trọng trong biện pháp này

Phương pháp tiếp cận củng cố cộng đồng (CRA) - tập trung vào

việc cải thiện các mối quan hệ, học tập kỹ năng nghề nghiệp và tạo ra một mạng lưới quan hệ xã hội mới Cùng với việc xét nghiệm ma túy thường xuyên, theo đó các lần xét nghiệm có kết quả âm tính được thưởng bằng các chứng nhận và giải thưởng có giá trị CRA đã được chứng minh là làm tăng

sự tham gia của NNMT trong tham vấn nghiện ma túy và tăng thời gian cai nghiện ma túy

Liệu pháp tăng cường động lực (MET) - tập trung vào việc tăng

động lực bên trong đối với việc điều trị và thay đổi hành vi nghiện Một kế hoạch cho sự thay đổi được tạo ra MET thành công nhất trong việc tăng sự tham gia của NNMT trong điều trị và điều trị nghiện ma túy

Mô hình Ma trận - một hệ thống đa phương pháp được xây dựng

dựa trên việc thúc đẩy lòng tự trọng của NNMT, giá trị bản thân và mối quan

hệ tích cực giữa nhà trị liệu và NNMT Nhà trị liệu được xem như một giáo viên - huấn luyện viên và sử dụng mối quan hệ của họ để củng cố sự thay đổi tích cực Liệu pháp điều trị nghiện ma túy theo Mô hình ma trận gồm có các

Trang 24

hướng dẫn chi tiết, bảng tính và các bài tập trị liệu từ các biện pháp trị liệu khác

Liệu pháp tạo thuận lợi 12 bước (FT) - được thiết kế để tăng khả

năng người nghiện tham gia cai nghiện và tham gia vào các nhóm 12 bước Ba khía cạnh chính của loại tham vấn nghiện ma túy này là: chấp nhận việc nghiện ma túy; chấp nhận chính mình với một sức mạnh cao hơn; tham gia tích cực vào các hoạt động 12 bước

Tại Việt Nam, có thể phân loại các phương pháp cai nghiện ma túy thành

2 nhóm là cai nghiện có dùng thuốc và cai nghiện không dùng thuốc Trong

Đề tài giới thiệu một số biện pháp cai nghiện phổ biên hiện nay, cụ thể như sau:

 Nhóm các phương pháp cai nghiện không dùng thuốc

- Phương pháp cai khô hay cách gọi khác là cai chay, cai bo hay cắt ngang, bằng cách cô lập NNMT, không cho tiếp xúc với môi trường bên ngoài, ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy Sau thời gian khoảng 7-

10 ngày các hội chưng cai sẽ giảm dần và mất đi, nhưng di chứng kéo dài 2-3 tháng, người cai nghiện mệt mỏi, mất ngủ, đau nhức cơ xương kéo dài hàng tháng

- Phương pháp phẫu thuật thùy trán: Đã có một số trường hợp ở Trung Quốc thực hiện thành công Theo đó, người bệnh sẽ được tiến hành phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến đoạn trí nhớ về cảm giác thèm muốn ma túy, làm cho người bệnh không còn cảm thấy cần ma túy nữa Tuy nhiên biện pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm như chi phí cao, người bệnh sau phẫu thuật thường bị ảnh hưởng tới phân biệt phương hướng…

- Phương pháp điện châm: Hay còn gọi là phương pháp sốc điện, số lần điện châm của mỗi người là không giống nhau, nó phụ thuộc vào số lần lên cơn thèm thuốc của người bệnh Nhân viên điều trị sẽ dùng dòng điện gây

co giật làm mất cơn vật vã Người nghiện quên chất ma túy và có cảm giác kinh sợ khi trông thấy chúng

Trang 25

 Nhóm các phương pháp cai nghiện có dùng thuốc

- Phương pháp dùng thuốc đối kháng: Phương pháp này sử dụng naltrexone – một loại thuốc có tác dụng ức chế các chất dạng thuốc phiện (cần

sa, heroin, cocain…) để điều trị duy trì hỗ trợ chống tái nghiện các chất dạng thuốc phiện, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc

- Phương pháp điều trị bằng chất thay thế: Là phương pháp dùng các chất gây nghiện cùng nhóm nhưng có tác dụng kéo dài hơn và có độc tính thấp hơn các chất để điều trị thay thế như Methadone, bupronorphine…

- Dùng các thuốc hướng tâm thần: Phương pháp này đã được Bộ Y tế ban hành và áp dụng từ năm 1995, bằng cách dùng các thuốc giải lo âu, thuốc

an thần kinh, các thuốc chống trầm cảm cắt cơn trong vòng 7- 10 ngày

- Dùng thuốc Đông y: Các loại thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, an toàn, ít độc và ít tác dụng phụ, có hiệu lực trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy, quá trình cắt cơn êm dịu, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai, như là triệu chứng dị cảm và thèm ma túy Thuốc đông y mới được nghiên cứu thành công gần đây có tên khoa học là CEDEMEX đã có kết quả thử nghiệm lâm sàn khá tốt và đang được xem xét

mở rộng trong thời gian sắp tới

1.1.5 Khái niệm về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone

Theo Bộ y tế, các chất dạng thuốc phiện như thuốc phiện, morphin, heroin là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); thời gian tác dụng nhanh nên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương; thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nếu không sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai [3]

Cũng theo Bộ Y tế, Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược

lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để

Trang 26

không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [3] Hơn nữa, Methadone không có tính dung nạp cao như heroin nên có thể không gây tăng liều nếu được kiểm soát tốt và sau thời gian điều trị ổn định, người bệnh có thể giảm dần liều Methadone để kết thúc điều trị

Phương pháp điều trị bằng thuốc thay thế (Methadone) được triển khai ở Việt Nam từ năm 2008 đã chứng minh hiệu quả rất tốt, đến nay đã được mở rộng trên phạm vi toàn quốc Bộ Y tế đã đưa ra khái niệm “Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone” là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [3]

Khái niệm về cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (gọi tắt là cơ sở điều trị Methadone) đã đuọc chính phủ nêu ra tại Nghị định 90/2016/NĐ-CP quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, đó là đơn vị điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho người nghiện chất dạng thuốc phiện, bao gồm cả việc

cấp phát thuốc điều trị thay thế

1.1.6 Khái niệm về Công tác xã hội

Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau đã có nhiều khái niệm về CTXH được nhiều tổ chức, cá nhân đưa ra Trong đó có một số khái niệm được đông đảo mọi người chấp nhận như:

Định nghĩa của Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp Quốc tế (IFSW) thông qua tại Đại hội Montreal, Canada năm 2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ của con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con

Trang 27

người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề CTXH” [15]

Vào tháng 7 năm 2014, Đại hội đồng Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo CTXH (IASSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa nghề CTXH như sau: “CTXH là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hộ và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống.”

Tại Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo

an sinh xã hội.” [8]

Theo Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH được định nghĩa như sau: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến

bộ xã hội.”

Theo Viện Khoa học Lao động (2013), CTXH là một chuyên nghành

để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải

Trang 28

phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái,

dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của

họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề Định nghĩa về CTXH của Nguyễn Hồi Loan tại Hội thảo quốc tế của APASWE tổ chức tại Melbourne (2014) như sau: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội.”

Từ những định nghĩa và quan điểm trên đây, đề tài tiếp cận với khái niêm CTXH theo nghĩa sau đây: CTXH là một nghề hướng đến trợ giúp cho

cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng phát triển kỹ năng, hoàn thiện bản thân, phát huy và sử dụng các nguồn lực để giải quyết vấn đề phát sinh trong cuộc sống Đồng thời, CTXH là một hệ thống các giá trị, các lý thuyết và kỹ năng thực hành chuyên nghiệp, nhằm giải quyết vấn đề và làm thay đổi tình trạng hiện tại Các nhân viên CTXH sẽ là những tác nhân tích cực của sự thay đổi,

kể cả những thay đổi của xã hội và những thay đổi ở mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng

1.2 Lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

Từ những khái niệm và định nghĩa về CTXH, nghiện ma túy, cai nghiện

ma túy, có thể đưa ra một cách hiểu về CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

như sau: CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy là việc sử dụng các giá trị, các

lý thuyết và kỹ năng chuyên nghiệp của CTXH để trợ giúp cho thân chủ là người nghiện ma túy phát triển bản thân, nâng cao năng lực, phát huy và sử dụng các nguồn lực của họ để làm thay đổi tình trạng nghiện ma túy

1.2.2 Nguyên tắc của Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

Trang 29

Để thực hiện CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy có hiệu quả, trước hết cần tuân thủ các nguyên tắc của nhân viên CTXH, cũng như các nguyên tắc của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy Cụ thể như sau:

1.2.1.1 Nguyên tắc tự nguyện

Đó là việc người nghiện ma túy tự giác, tự nguyện đến với nhân viên CTXH cũng như sẵn lòng cam kết thực hiện một công việc nào đó Nhân viên CTXH chỉ giúp họ tìm ra một giải pháp phù hợp trong quá trình thảo luận với

họ chứ không được bắt buộc họ phải làm bất cứ một điều gì

1.2.1.2 Nguyên tắc bảo mật

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất mà nhân viên CTXH cần phải đảm bảo thực hiện Mọi thông tin mà người nghiện chia sẻ với nhân viên CTXH cần được đảm bảo kín đáo Nhân viên CTXH không được tiết lộ những thông tin liên quan về người nghiện với những người khác khi chưa có

ý kiến chấp thuận của người nghiện Điều này cũng được qui định rất rõ ràng trong các quy điều đạo đức của nghề CTXH

Bảo mật nghĩa là không trao đổi những thông tin về người nghiện ma túy với người khác trừ khi là với đồng nghiệp vì lí do chuyên môn, và chỉ được khi có sự đồng ý của người nghiện Bảo mật còn được thể hiện trong việc lưu trữ hồ sơ dữ liệu thông tin của người nghiện ma túy, trong việc sắp xếp không gian của phòng tham vấn và thể hiện trong buổi tham vấn

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt khi người nghiện tự làm hại bản thân hay gây hại cho người khác thì nhân viên CTXH có thể trao đổi với những cơ quan hay cá nhân có liên quan (theo quy định của pháp luật)

1.2.1.3 Nguyên tắc không phán xét

Là việc nhân viên CTXH không có thái độ hay lời nói thậm chí là suy nghĩ chỉ trích hành vi, suy nghĩ của người nghiện dù cho những điều mà họ làm là không đúng, cách suy nghĩ hoặc cảm nhận là không hợp lý

1.2.1.4 Nguyên tắc tôn trọng

Trang 30

Nhân viên CTXH trong khi hỗ trợ cho người nghiện cần phải đối xử công bằng với tất cả các người nghiện bất kể tuổi tác, giới tính, hình thức, địa

vị xã hội và khả năng tài chính của họ

1.2.1.5 Nguyên tắc an toàn

Điều kiện tiên quyết khi thực hiện tham vấn là phải An toàn, điều này có nghĩa là: An toàn cho người nghiện và an toàn cho nhân viên CTXH An toàn cho người nghiện là sự đảm bảo an toàn thông tin của họ, an toàn về tài sản của người nghiện, an toàn cho môi trường xung quanh; an toàn cho người tham vấn - đây là một điều cần chú ý, đặc biệt trong những tình huống người nghiện tỏ ra hung hăng, không hợp tác và họ có thể gây tổn thương/thương tích cho nhân viên CTXH An toàn về bệnh tật cũng cần đề cập đến ở đây Đối với một số bệnh lây truyền qua đường hô hấp như lao phổi, cảm cúm, thậm chí là HIV/AIDS… thì nhân viên CTXH cần phải thực hiện các biện pháp để bảo đảm an toàn khi tiếp xúc

1.2.1.6 Nguyên tắc gắn kết với dịch vụ

Một người nhân viên CTXH tại Cơ sở điều trị nghiện không thể giải quyết được hết những vấn đề của người nghiện như việc làm, nơi ở hay những vấn đề liên quan đến sức khỏe như HIV, chăm sóc điều trị và những khó khăn

ấy có thể gây ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả điều trị của người nghiện Vì thế, nếu người nghiện đang tham gia tham vấn điều trị nghiện được giới thiệu tới các cơ sở cung cấp dịch vụ thiết yếu và sẵn có đối với họ thì hiệu quả điều trị nghiện sẽ cao hơn và mang tính bền vững hơn Do đó, kết nối giữa nhân viên CTXH điều trị nghiện với các dịch vụ y tế và dịch vụ an sinh xã hội hỗ trợ khác là nguyên tắc vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy hiệu quả và chất lượng

1.2.2 Các hoạt động của Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

CTXH đóng góp quan trọng cho xã hội bằng các hoạt động chuyên môn của nghề CTXH để cải thiện cuộc sống của cá nhân, gia đình và các nhóm Vai trò chính xác của CTXH phụ thuộc vào môi trường làm việc của nhân viên CTXH, khi đó họ cung cấp một loạt các dịch vụ/thực hiện hoạt động để

Trang 31

giúp đỡ những người có nhu cầu Trong môi trường là các CSĐT Methadone,

để hỗ trợ cai nghiện ma túy cho các NNMT, các nhân viên CTXH cung cấp các dịch vụ tham vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại (với gia đình) giúp mọi người đối phó với các vấn đề liên quan đến cai nghiện ma túy, dịch vụ hỗ trợ vay vốn tạo việc làm, hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức, dịch vụ kết nối nguồn lực và dịch vụ biện hộ, vận động chính sách cho người nghiện ma túy Cụ thể như sau:

1.2.2.1 Hoạt động tham vấn tâm lý

Có thể hiểu về tham vấn cho người nghiện ma túy theo Bùi Thị Xuân Mai như sau: “Tham vấn cho người nghiện cũng là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn dựa trên nguyên tắc nghề nghiệp và kỹ năng chuyên môn với thân chủ là người nghiện ma túy, giúp họ hiểu về những khó khăn, vấn đề do nghiện ma túy, từ đó nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của người nghiện” [8, p 15]

Mục đích của tham vấn trong điều trị bằng thuốc Methadone đó là hỗ trợ tâm lý, giải đáp thắc mắc về chương trình điều trị, từ đó giảm bớt lo lắng của NNMT và củng cố động cơ điều trị Đồng thời, cung cấp các kỹ năng dự phòng tái nghiện giúp NNMT tuân thủ điều trị và xây dựng lối sống lành mạnh

Tham vấn cho người ngiện ma túy trong quá trình cai nghiện là một hoạt động vô cùng quan trọng, phục vụ trực tiếp nhu cầu của người nghiện ma túy thông qua quá trình tương tác giữa nhân viên CTXH dựa trên nguyên tắc nghề nghiệp và kỹ năng chuyên môn với người nghiện ma túy, trợ giúp cho những người nghiện ma túy có vướng mắc hoặc khó khăn trong khi điều trị vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy điều trị, không bỏ dở giữa chừng

1.2.2.2 Hoạt động hỗ trợ vay vốn, việc làm

Người nghiện ma túy đã và đang bị cộng đồng xung quanh kỳ thị, nên nhiều người nghiện ma túy không thể tự tìm kiếm việc làm cho mình hay tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi Vẫn còn nhiều doanh nghiệp, tổ chức có thái độ e dè khi nhận lao động hoặc không nhận lao động là người sử dụng ma

Trang 32

túy hoặc đã từng sử dụng ma túy và người đang điều trị Methadone Tương tự như vậy, việc cho một người nghiện ma túy vay vốn gần như là không thể Điều này dẫn tới tình trạng người nghiện không có việc làm, thu nhập thấp nên vi phạm pháp luật để có tiền SDMT gây mất ổn định xã hội và sâu xa hơn chính là xã hội mất đi một lao động, đồng thời phải tốn kinh phí để nuôi dưỡng họ trong những trung tâm cai nghiện hoặc nhà tù Chính vì vậy, hoạt động hỗ trợ cho người nghiện có việc làm, là người kết nối của nhân viên CTXH giúp cho người nghiện ma túy được tiếp cận với các nguồn vốn vay chính sách, các việc làm tạo thu nhập là rất quan trọng

1.2.2.3 Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức

Có nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động truyền thông, có thể hiểu về truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin bằng cách sử dụng ngôn ngữ, chữ viết và hình ảnh, màu sắc nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư duy suy nghĩ của đối tượng mà chúng ta muốn hướng đến Hoạt động truyền thông của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy là việc cung cấp kiến thức, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về tác hại của ma túy và lợi ích của điều trị nghiện bằng thuốc Methadone thông qua các buổi tuyên truyền, tập huấn nhằm mục đích vận động cộng đồng hiểu

về ma túy, các chất gây nghiện, từ đó giảm tỷ lệ mắc phải tệ nạn ma túy và các tác hại do ma túy gây ra Đồng thời, giảm bớt hành vi kỳ thị, phân biệt đối

xử của cộng đồng đối với người nghiện ma túy

1.2.2.4 Hoạt động kết nối dịch vụ, nguồn lực

Nhân viên CTXH là người nắm bắt được những thông tin về các chính sách, dịch vụ đối với NNMT và giới thiệu cho NNMT biết về các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang có sẵn để NNMT tiếp cận với những nguồn lực, chính sách và dịch vụ, giúp cho họ có thêm sức mạnh trong từ bỏ ma túy, giải quyết vấn đề Ví dụ như nhân viên CTXH là người kết nối, giới thiệu người nghiện ma túy tiếp cận tới các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trị liệu tâm lý… hoặc giới thiệu cho NNMT biết các chính sách họ được

Trang 33

hưởng và giúp họ tiếp cận với chính quyền địa phương nơi họ sinh sống để đưa ra nhu cầu và quyền lợi của mình

1.2.2.5 Hoạt động biện hộ, vận động chính sách

Nhân viên CTXH khi là người biện hộ sẽ là người bảo vệ quyền lợi cho NNMT để họ được tiếp cận và được hưởng những chính sách, dịch vụ, quyền lợi của mình Đặc biệt là trong nhiều trường hợp thực tế, người nghiện ma túy

bị bắt do sử dụng ma túy trái phép, đôi khi họ phải chịu những hình phạt nặng hơn pháp luật quy định hoặc bị đưa đi cai nghiện bắt buộc không đúng quy định Trong trường hợp này, nhân viên CTXH cần biện hộ, đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người nghiện ma túy trước các cơ quan chức năng để NNMT được hưởng những quyền lợi của mình

Trong trường hợp các nguồn lực từ chính sách hoặc tại cộng đồng chưa

có sẵn, nhân viên CTXH còn đóng vai trò là người vận động nguồn lực từ các

cá nhân, cơ quan, tổ chức để trợ giúp người nghiện ma túy giải quyết vấn đề

Ví dụ như khi phát hiện những vấn đề bất hợp lý hoặc không phù hợp trong điều kiện hiện tại của địa phương, nhân viên CTXH sẽ là người vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho người nghiện ma túy để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp

họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện

ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone

1.3.1 Một số yếu tố chủ quan

Với phương châm thân chủ là trọng tâm của CTXH nên các yếu tố từ người nghiện ma túy sẽ là những yếu tố chủ quan, mang tính quyết định tới CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy Trong khuôn khổ đề tài sẽ nêu đến một vài yếu tố mà tác giả cho rằng phổ biến và có tác động mạnh mẽ tới CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy, như sau:

1.3.1.1 Động cơ tham gia điều trị Methadone

Có thể hiểu động cơ là một cơ chế tâm lý bên trong con người, thúc giục mạnh mẽ họ thực hiện một hành động nào đó [26] Động cơ tham gia điều trị

Trang 34

Methadone của người nghiện ma túy được hiểu là lòng ham muốn thực hiện hành vi tham gia điều trị Methadone để có thể từ bỏ ma túy hoặc đạt được một mục đích nào đó như trốn tránh đi cai nghiện bắt buộc hoặc đáp ứng yêu cầu của người thân

Một người nghiện ma túy bị ép buộc tham gia điều trị Methadone sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy cho họ Một số lý thuyết đã chỉ ra rằng một người chỉ sẵn sàng thực hiện một việc khi

họ có động cơ; họ hiểu nhiệm vụ cần phải thực hiện và có năng lực để thực hiện vai trò của mình [3] Do vậy, động cơ tham gia điều trị Methadone của NNMT là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone

1.3.1.2 Tình trạng việc làm của người nghiện ma túy

Việc làm có vai trò rất quan trọng với mỗi người chúng ta và đối với người nghiện ma túy nó còn có những ảnh hưởng vô cùng quan trọng ảnh hưởng tới cả thể chất, tâm lý và xã hội Cụ thể, khi NNMT có việc làm họ phải lao động, cơ thể có sự vận động, trao đổi chất thường xuyên hơn thay vì ngồi yên một chỗ cả ngày để xem điện thoại hoặc ti vi Ngoài ra có việc làm thì có thêm thu nhập, NNMT và gia đình có thêm kinh phí để mua sắm thức

ăn, thuốc bổ cho NNMT phục hồi sức khỏe, cũng như đưa NNMT tham gia các chương trình cai nghiện ma túy có chất lượng mà phải đóng phí; về mặt tâm lý, khi đi làm và có thêm thu nhập sẽ giúp NNMT có sự tự tin hơn khi giao tiếp với các thành viên trong gia đình bởi vì họ đã không những không còn là gánh nặng chỉ biết “ăn không ngồi rồi”, lấy tiền của gia đình để đi mua

ma túy, mà bây giờ đi làm và tự tạo ra thu nhập đóng góp cho gia đình Đồng thời, khi có việc làm cũng giúp cho NNMT tham gia vào các dịch vụ xã hội tích cực và có trách nhiệm hơn; Về mặt xã hội, NNMT có việc làm sẽ tự làm

ra tiền để mua ma túy thì sẽ không cần phạm tội như trộm, cắp, cướp giật…

để có kinh phí mua ma túy như trước kia nữa Ngoài ra, có việc làm người nghiện ma túy sẽ có ít thời gian rảnh rỗi để ngồi nghĩ tới việc sử dụng ma túy

Trang 35

hoặc không còn nhiều thời gian, cơ hội để tụ tập giao lưu với bạn nghiện giúp NNMT giảm thiểu nguy cơ SDMT

1.3.2 Một số yếu tố khách quan

1.3.2.1 Nhân viên Công tác xã hội

Các nhân viên CTXH hay còn gọi là nhân viên tham vấn, tham vấn viên… phải đạt chuẩn yêu cầu về trình độ chuyên môn như là đúng chuyên nghành và đạt trình độ cử nhân hoặc cao hơn mới đủ điều kiện để ứng tuyển vào vị trí việc làm Tham vấn viên trong các CSĐT Methadone Ngoài ra, sau khi được tuyển chọn và trước khi làm việc trực tiếp thì những nhân viên tham vấn phải hoàn thành khóa tập huấn về tham vấn điều trị nghiện ma túy để hiểu

và thực hành được mới có thể vào làm việc với NNMT Các yếu tố khác thuộc về nhân viên tham vấn ảnh hưởng tới CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy như: kiến thức chuyên môn và xã hội, đạo đức nghề nghiệp, thái độ làm việc, kỹ năng nghề nghiệp Cụ thể:

- Kiến thức chuyên môn của nhân viên tham vấn: Đó không chỉ là những kiến thức về công tác xã hội như phương pháp công tác xã hội cá nhân, CTXH nhóm, CTXH gia đình hay các thuyết về hành vi con người, học thuyết tâm lý nói chung, mà còn gồm cả kiến thức về các loại ma túy, cơ chế gây nghiện của chúng và đặc biệt quan trọng trong quá trình làm việc là những kiến thức về người nghiện ma túy

- Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tham vấn: Đến nay, đã có thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH về việc quy định tiêu chuyển đạo đức nghề nghiệp đối với người làm CTXH làm quy chuẩn để những nhân viên tham vấn tuân thủ trong quá trình làm CTXH

- Thái độ trong khi làm việc của nhân viên CTXH: Một nhân viên tham vấn cần phải tránh thái độ phán xét hoặc kỳ thị người nghiện ma túy vì điều này rất dễ tạo ra những rào cản trong tiến trình trợ giúp của họ Thay vào đó, cần có thái độ tích cực như thân thiện, nhiệt tình từ đó tạo ra mối quan hệ tốt với NNMT trong quá trình tương tác, giúp NNMT thoải mái và tự tin trao đổi

Trang 36

thông tin với nhân viên tham vấn, đồng thời tích cực tham gia vào tiến trình giải quyết vấn đề mà tham vấn viên và NNMT đã cùng nhau đề ra

- Kỹ năng nghề nghiệp: Nhân viên tham vấn cần có những kỹ năng thiết yếu như là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tham vấn cơ bản (gồm các kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng phản hồi cảm xúc, kỹ năng khơi gợi…) và những kỹ năng tham vấn chuyên biệt khi làm việc với NNMT (gồm các kỹ năng tham vấn dự phòng tái nghiện, kỹ năng phỏng vấn tạo động lực)

Trong một môi trường làm việc có thể coi là áp lực cao tại các CSĐT Methadone, làm việc trực tiếp với những thân chủ là người nghiện ma túy (có nguy cơ nhiễm các bệnh truyền nhiễm, sự đe dọa từ những NNMT hung hăng, phê thuốc…), đòi hỏi người làm CTXH luôn phải cập nhật kiến thức, kỹ năng cho hoạt động thực tiễn của mình, đồng thời biết cách phối kết hợp linh hoạt chúng trong các tình huống khác nhau

1.3.2.2 Yếu tố cơ sở điều trị Methadone

Như đã trình bày ở trên về khái niệm Cơ sở điều trị Methadone hiện nay gồm có 2 hình thức là cơ sở điều trị (là cơ sở có chức năng tham vấn, khám, điều trị và cấp phát thuốc cho NNMT) và cơ sở cấp phát thuốc (chỉ có chức năng cấp phát thuốc Methadone) Để một cơ sở điều trị Methadone được hoạt động phải có quyết định thành lập và được công bố đủ điều kiện hoạt động (gồm các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về nhân sự), do vậy hiệu quả vận hành của CSĐT Methadone phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như:

- Chính sách, sự quan tâm chỉ đạo của đơn vị quản lý CSĐT Methadone

và năng lực, trình độ quản lý của ban lãnh đạo cơ sở

- Điều kiện về cơ sở vật chất: như là các trang thiết bị phục vụ cho chuyên môn, các phòng làm việc, phòng tiếp đón, kho bảo quản thuốc… phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định và yêu cầu của thực tế hoạt động

- Nhân sự: Theo quy định của Bộ Y tế, mỗi CSĐT Methadone sẽ đảm bảo có ít nhất 01 bác sỹ làm việc toàn gian, 01 nhân viên làm công tác hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh;01 nhân viên làm nhiệm vụ hành chính, có trình độ

Trang 37

trung cấp trở lên; 02 nhân viên cấp phát thuốc có trình độ trung cấp dược sỹ trở lên; 01 nhân viên làm nhiệm vụ xét nghiệm có trình độ trung cấp một trong các ngành y, sinh học, xét nghiệm trở lên và đặc biệt là, có ít nhất 01 nhân viên làm nhiệm vụ tham vấn có trình độ trung cấp trở lên thuộc các ngành Y, dược hoặc xã hội trở lên

- Số lượng NNMT đang tham gia điều trị tại cơ sở: Theo quy định, khu vực dân cư có trên 250 người nghiện ma túy sẽ thành lập một CSĐT Methadone, các CSĐT Methadone cũng được thiết lập các điều kiện, công suất phục vụ là 250 NNMT Do đó, số lượng nhiều hay ít NNMT tham gia điều trị tại CSĐT Methadone có thể ảnh hưởng đến việc đảm bảo tần suất, quy trình tham vấn của nhân viên tham vấn

CSĐT Methadone chính là địa điểm các hoạt động công tác xã hội được diễn ra thường xuyên, do vậy một số yếu tố thuộc về cơ sở điều trị có những ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy

1.3.2.3 Yếu tố gia đình người nghiện

Vai trò của gia đình được thể hiện ngay từ khi bắt đầu và xuyên suốt quá trình tham gia chương trình điều trị của NNMT tại CSĐT Methadone Gia đình tác động tới người nghiện ma túy ở một số khía cạnh như:

- Sự hỗ trợ về vật chất: Do dịch vụ điều trị Methadone là một dịch vụ có tính phí (một số nơi vẫn miễn phí hoặc miễn phí với một số đối tượng bảo trợ

xã hội) nên gia đình có ảnh hưởng khá lớn trong việc chi trả cho NNMT tham gia điều trị, cùng với đó gia đình còn là nơi hỗ trợ NNMT những nhu yếu phẩm hàng ngày hay thậm chí là tiền để mua ma túy do phần lớn NNMT không có việc làm, hoặc có việc làm nhưng thu nhập không ổn đinh

- Sự tin tưởng của các gia đình đối với sự thay đổi của người nghiện: Bởi

vì gia đình không chỉ là nơi NNMT nhận được sự giúp đỡ về mặt vật chất mà còn là nguồn động viên, chỗ dựa tinh thần của NNMT Nên sự tin tưởng của gia đình với NNMT có thể giúp cho NNMT có thêm động lực tham gia cai nghiện tích cực Ngược lại, nếu gia đình xa lánh, trách mắng, bỏ mặc không

Trang 38

quan tâm hay không tin tưởng vào nỗ lực của người nghiện thì mọi hoạt động

hỗ trợ từ cộng đồng, nhân viên CTXH sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn, đôi khi gây ra phản ứng ngược, làm tăng nguy cơ tái nghiện

- Sự phối hợp của gia đình với CSĐT Methadone: Sự liên lạc thường xuyên giữa gia đình và CSĐT để cập nhật thông tin điều trị của NNMT hoặc tiếp nhận các khuyến nghị của tham vấn viên

Trong điều trị nghiện ma túy, sự động viên và hỗ trợ của gia đình là rất cần thiết ngay từ trước khi người nghiện tham gia cai nghiện ma túy Sự tin tưởng và ủng hộ của gia đình trong quá trình điều trị sẽ giúp cho người nghiện

có quyết tâm cao hơn trong việc từ chối sử dụng ma túy và giảm tái nghiện

ma túy

1.3.2.3 Yếu tố chính sách, pháp luật về cai nghiện ma túy

Có thể hiểu về Thể chế, chính sách là tập hợp các chủ trương, chính sách

và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu

mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế

- văn hóa – xã hội – môi trường

Chính sách, pháp luật đối với người nghiện ma túy là nền tảng, cơ sở cho các hoạt động hỗ trợ cai nghiện ma túy, trong đó có hoạt động CTXH trong

hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone Điều này được thể hiện ở một số phương diện sau:

- Tạo hành lang pháp lý, nguồn lực, chế tài cho việc triển khai điều trị nghiện bằng thuốc thay thế (Methadone), mở rộng mạng lưới các CSĐT Methadone và ứng dụng CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone

- Quy định chuẩn mực đạo đức, nhiệm vụ, chức năng của nhân viên CTXH cũng như các chế độ đãi ngộ cho nhân viên CTXH trong quá trình làm việc

Trang 39

- Quy định các chương trình, chính sách, chế độ hỗ trợ người nghiện

và gia đình người nghiện ma túy tham gia điều trị bằng thuốc thay thế (Methadone)

1.4 Một số lý thuyết ứng dụng trong đề tài

Có rất nhiểu cách tiếp cận khác nhau trong CTXH, tuy nhiên đối với lĩnh vực CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone, đề tài chủ yếu tập trung vận dụng 3 lý thuyết tiếp cận cơ bản và gắn liền nhất với việc giải quyết các vấn đề người nghiện ma túy tham gia điều trị Methadone

là cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhu cầu, tiếp cận dựa trên quyền và tiếp cận dựa trên thuyết sinh thái

1.4.1 Tiếp cận dựa trên thuyết nhu cầu của A.Maslow

Abraham Maslow (1908- 1970), là một nhà tâm lý học người Mỹ Ông được chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp Nhu Cầu Ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm Lý học Trong công trình nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra rằng, con người có những nhu cầu chân chính về giao tiếp, về sự lệ thuộc, về tình yêu, về lòng kính trọng Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Theo ông, mọi nhu cầu thuộc hệ thống thứ bậc đều có liên quan đến cấu trúc cơ thể của con người và được dựa trên một nền tảng di truyền nhất định Ông đã hình dung nhu cầu và sự phát triển của con người theo một chuỗi liên tiếp như chiếc cầu thang gồm năm bậc từ thấp đến cao Mỗi bậc nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào bậc nhu cầu trước đó, nếu một nhu cầu ở bậc thấp không được đáp ứng cá nhân đó sẽ khó có thể tiến lên bước phát triển tiếp theo Theo ông, sau khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì nảy sinh đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn

Theo thuyết nhu cầu của A.Maslow, con người là một thực thể sinh – tâm lý xã hội, vì thế con người có nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội Ông chia nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao: (i) Nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, điện, nước, nghỉ ngơi, ); (ii) Nhu cầu an toàn; (iii) Nhu cầu thuộc

Trang 40

vào một nhóm nào đó (được yêu thương, thừa nhận, được giao tiếp, ); (iv) Nhu cầu được tôn trọng; (v) Nhu cầu hoàn thiện, phát triển [6, p 165]

Với cách tiếp cận dựa vào thuyết nhu cầu này, nhân viên CTXH sẽ đánh giá người nghiện ma túy có những nhu cầu nào và ở bậc mấy? Có những nhu cầu nào chưa được bảo đảm, thực hiện? Từ đó, có kế hoạch can thiệp phù hợp trong hoạt động trợ giúp họ đảm bảo việc thực hiện nhu cầu của họ thông qua các hoạt động tham vấn, kết nối nguồn lực…Nhân viên CTXH với cách tiếp cận này cần phải luôn tin tưởng vào thân chủ (người nghiện ma túy) hoàn toàn

có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính bản thân họ

1.4.2 Tiếp cận dựa trên thuyết sinh thái

Lý thuyết này nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa các tổ chức nhóm và vai trò của cá nhân trong môi trường sống Trong lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ Quan điểm sinh thái nhìn nhận hành vi và sự phát triển của mỗi cá nhân, trong bối cảnh của một chuỗi hệ thống các quan hệ tạo nên môi trường sinh thái của con người ấy Có nghĩa là, sự thay đổi hoặc xung đột trong bất kỳ lớp cắt nào của môi trường, cũng có thể gây ảnh hưởng đến các lớp khác Như vậy, quan điểm hệ sinh thái nhấn mạnh rằng, hành vi và sự phát triển của con người là

hệ quả của một chuỗi các tương tác giữa các lớp cắt của môi trường Vì thế, khi xem xét vấn đề của đối tượng thì cần xem xét nó trong mối liên hệ với các

hệ thống tồn tại trong môi trường

Như vậy, với cách tiếp cận dựa trên thuyết sinh thái thì nhân viên CTXH trong quá trình hỗ trợ cho người nghiện ma túy cần phải xem xét vấn đề của người nghiện đang gặp phải với mối liên hệ với các hệ thống trong môi trường như gia đình, bạn bè, cơ quan luật pháp, nơi sinh sống và làm việc…để từ đó có kế hoạch can thiệp hiệu quả, huy động sự tham gia của các

hệ thống đó trong việc giải quyết các vấn đề của người nghiện ma túy

1.4.3 Tiếp cận dựa trên lý thuyết về quyền con người

Ngày đăng: 04/06/2020, 08:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w