1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

23 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Tín Dụng Và Khu Vực Kinh Tế Tư Nhân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Tài Chính
Thể loại Báo cáo hoạt động khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 34,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt độngnói chung và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp,không có nhà quản trị ngân h

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

I.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Theo luật các tổ choc tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt namđiều 49 thì : tín dụng được thể hiện dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, cho thuêtài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước

1.1.2.Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng.

xét về tính chất phát lý thì tín dụng được chia làm 3 loại như: cho vay tiền,cho vay, cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền và tín dụng qua chữa kí

Là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết hoàn trả một khoản tiền

và người đi vay cam kết trả một khoản tiền lớn hơn khoản ban đầu Khoản chênhlệch này gọi là lãi lãi phụ thuộc vào thời gian và số lượng khoản vay

Cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay và khoảnvay còn được bảo dảm bằng tài sản của người đi vay Đây là loại hình tín dụng gặprủi ro cao Do khách hàng có thể sử dụng tiền đúng mục đích như khế ước vay.Ngân hàng có thể chuyển một lần hay nhiều lần

Loại cho vay này dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 2

+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi: đây là nguyên tắc quantrọng nhất vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động Ngân hàng phải tri trảkhi khách hàng đến rút tiền Nếu khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạnđiều này có thể làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản.

để tránh điều nay ngân hàng phải quy định kỳ hạn nợ, khi đến hạn thì khác hàngphải trả nếu không thì ngân hàng có thể tự động trích số dư tài khoản tiền gửi củangười đi vay hay phát mại tài sản đảm bảo

+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: vì khi cho khách hàng vay thìngân hàng còn phải thẩm định phương án sản xuất từ đó mới có phương án giảingân Nếu trong quá trình nếu phát hiện có vấn đề trong việc sử dụng tiền thì ngânhàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn trong hợp đồng tín dụng, nếu thu không

đủ khoản tiền đã cấp thì khoản tiền còn lại chưa thu được sẽ được chuyển thành nợquá hạn nguyên tắc này rất quan trọng, khi ngân hàng cung ứng tín dụng cho nềnkinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu của nền kinh tế trong những giai đoạn

cụ thể Còn khi cung ứng cho các đơn vị sản xuất kinh doanh thì phải đáp ứng cácmụch đích trong sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thành các mụctiêu của mình

+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt độngnói chung và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp,không có nhà quản trị ngân hàng nào có thể đự đoán chính xác những diễn biến cóthễ xảy ra trên thị trường, do đó rủi ro là không thể tránh khỏi, để giảm thiểu rủi rothì các ngân hàng càng tao ra được nhiều khoản thu càng tốt cho các khoản chovay của mình và đảm bảo chình là nguồn thu thứ hai sau nguồn thu thứ nhất như:vốn lưu động, khấu hao, lợi nhuận, thu nhập …

Trang 3

Đảm bảo tín dụng như là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có thêmmột nguồn thu khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản, tài sản đảmbảo có thể tồn tại dưới hình thức sau:

- Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay của ngân hàng

- Tài sản đảm bảo là tài sản của người đi vay

- Tài sản đảm bảo là tín chấp hay bảo lãnh của người thứ ba

Các loại đảm bảo tín dụng:

*Đảm bảo đối vật:

- Thế chấp tài sản: là việc bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc sởhữu của mình của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay,bên đi vay vẫn được quyền sử dụng tài sản thế chấp và chỉ phải giao giấy chủquyển tài sản đó cho bên cho vay

- Cầm cố tài sản: là việc bên đi vay có nghĩa vụ phải giao tài sản là động sảnthuộc quyền sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả

nợ của mình

* Đảm bảo đối nhân:

-Là sự cam kết của một người hay nhiều người về việc phải trả nợ cho ngânhàng nếu một khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng, trong trường hợpnày thì những người bảo lảnh phải có được uy tín hay phải có khả năng về tàichính đủ mạnh đảm bảo được sự tin tưởng của ngân hàng

1.1.2.2 Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền.

Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền là hình thức cho vay dựa trên

cơ sở mua bán các cộng cụ tài chính như mua bán các hối phiếu lệnh phiếu … từ

Trang 4

đó tạo ra nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu của ngân hàng, tức là mua nợ dựatrên khoảng thời gian còn lại của cho đến lúc đáo hạn của thương phiếu.

Về mặt pháp lý ngân hàng không cho vay mà là mua một trái quyền, ngânhàng bỏ tiền ra ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn thanh toán đổilại ngân hàng được nắm quyền sở hữu và có quyền truy đòi khi đến hạn thanh toán,thủ tục chiết khấu cũng khác thủ tục vay va không có hợp đồng tín dụng

+ Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó đem lạingay cho khách hàng một số tiền bình thường mà chỉ được chi trả khi nó đến hạnthanh toán trong thương phiếu

Nhưng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân hàngkhông cho khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân hàng, mà ởđây ngân hàng ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn đổi lại ngânhàng nắm quyền sở hữu thương phiếu đó, vì vậy ngân hàng sẽ được đòi lại khoảnứng trước đây bằng cách truy đòi trái phiếu khi đến hạn

Như vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một thương phiếuđổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu

+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ nhiêmthu: Đây là trường hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi nợ, baothanh toán có thể được xác định là một hợp đồng, mà trong đó các ngân hàng muađứt các trái quyền của người bán đối với người mua là khách hàng của ngân hàng

1.1.2.3 Tín dụng qua chữ ký.

Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong hìnhthức này ngân hàng không phải bỏ tiền ra ngay mà ngân hàng cam kết sẽ trả mộtkhoản nợ của khách hàng của mình khi mà khách hàng của mình không thực hiện

Trang 5

đúng cam kết trả nợ như đã thoả thuận trước, do bảo lãnh bằng uy tín của mình nênbảo lãnh của ngân hàng còn gọi là bảo lãnh qua chữa ký.

Về tính pháp lý thì loại tín dụng này dựa vào luật bảo lãnh cũng như các camkết bảo lãnh và tái bảo lãnh,

Bảo lãnh là đưa ra những cam kết dưới hình thức cấp chứng thư và hạch toán theotài khoản ngoại bảng, các ngân hàng chỉ đưa vào tài khoản nội bẳng khi mà ngânhàng thực hiện chi trả cho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:

+ Bảo lãnh ngân hàng : đây là hình thức rất quan trọng trong thực tế, nó giúpcho người mua hàng không phải kí quỹ và được trả chậm tiền hàng, và người bántin tưởng giao hàng cho người mua

+ Tín dụng chấp nhận : trong loại hình này ngân hàng chấp nhận một hốiphiếu đòi tiền chính mình, và khách hàng của ngân hàng phải nộp số tiền cần thiếtngay trước khi hối phiếu đến hạn, lúc này chủ nợ có được sự đảm bảo thu đượckhoản nợ của mình do ngân hàng đứng ra chấp nhận chi trả

1.1.3 Phân loại tín dụng trong các ngân hàng thương mại.

1.1.3.1 Phân loại tín dụng chung.

+ Tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn: sự khác nhau giữa tín dụng ngắn hạn

và tín dụng trung và dài hạn chính là thời gian giao vốn cho khách hàng sử dụng,tuỳ theo luật của từng quốc gia và trong từng thời kỳ mà thời gian ngắn hạn, trung

và dài hạn được quy định khác nhau, ở Việt Nam hiện nay ngắn hạn là nhỏ hơnhoặc bằng 12 tháng, còn trung và dài hạn là lớn hơn 12 tháng

+ Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của ngân hàng

Trang 6

- Tín dụng không kèm theo cam kết của ngân hàng: trong hình thức cấp nàythường áp dụng cho ngắn hạn và ngăn hàng có thể chấm dứt hợp đồng cho vay bất

cứ lúc nào

- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân hàngcam kết một khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân hàng khôngthể tự do chấm dứt cam kết của mình khi phía khách hàng không có những những

vi phạm như đã thoả thuận

+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động

- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thểchuyển nhượng để thu hồi tiền trước kì hạn đã định

- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là khôngthể chuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định

+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh nghiệpngân quỹ của doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu này vì có sựchênh lệch về thời gian các khoản chi phí và thu nhập của doanh nghiệp

- Tạm ứng hay vượt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp đốiphó với thiếu vốn lưu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định thì nó

Trang 7

(4)(1)

Ngân hàng (người cho

thuê)

(2)

đảm bảo cho tài khoản của doanh nghiệp dư nợ hay vượt chi, hình thức này không

có sự đảm bảo nội tại nào mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính, mức độ và điềukiện hoạt động của tài sản

- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn thìngân hàng có thể cho vay theo hình thức có thể là vượt chi tài khoản với thời giandài hơn và kèm theo những điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó hoặc có thể chiếtkhấu chứng từ có kỳ hạn cố định, các chứng từ này có thể gọi là các chứng từ tàichính Về thời hạn thì có thể là tín dụng tuần hoàn để đáp ứng nhu cầu thườngxuyên, hay thời vụ để đáp ứng nhu cầu có tính chất thời vụ của doanh nghiệp

1.1.1.3 Tín dụng thuê mua.

Hoạt động thuê mua bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp sản xuất hoặc cungcấp các thiết bị, nhà cửa lớn, thời gian sử dụng lâu dài, mặt khác do người muakhông đủ tiền hay họ chỉ cần sử dụng trong thời gian chưa hết thời gian khấu haocủa thiết bị, do đó dã nảy sinh nhu cầu thu, để mở rộng tín dụng của mình các ngânhàng thương mại đã mua hoặc thuê các tài sản theo yêu cầu của khách hàng rồi cho

họ thuê lại

Quá trình của nghiệp vụ cho thuê

(1) khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê sau khi

Trang 8

phân tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng vớikhách hàng.

(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng hay người thuê chỉ định nhàcung cấp

(3) Khác hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy các, chất lượng tàisản thuê, nhận tài sản, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê.(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê hoặc thu hồitài sản nếu thấy người thuê vi phạm

+ Ngân hàng có thể mua tài sản để cho thuê hay mua tài sản của người đi thuêsau đó cho chính họ thuê lại hoặc thuê tài sản để cho thuê, trường hợp này được ápdụng khi mà thời gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian khấu hao của tài sản,hay Ngân hàng có thể mua trả góp để cho thuê trong trường hợp Ngân hàng thiếuvốn

+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản cốđịnh do đó nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là thời hạn

cơ bản là thời hạn mà người đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng do đó tiền màngân hàng thu được phải đủ cả gốc và lãi và thời hạn gia hạn thêm là người đi thuê

có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trong nghiệp vụ thuê mua thì Ngân hang khôngcam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại với tàisản

1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương.

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợngoại thương có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm giảmrủi ro cho những nhà xuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý, tôn giáo,chính trị …các hoạt động ngoại thương gồm:

Trang 9

+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:

- Tài trợ trong trường nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển cácchứng từ cho Ngân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này tới Ngânhàng cần giao dịch, khi được chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu mới giaohàng

- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn khôngthể huỷ ngang khi nó chưa đến hạn và hối phiếu này được bên xuất nhập khẩukhông huỷ ngang

-Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng dựa trênkhuôn khổ chiết khấu bộ chứng từ khi chưa đến hạn thanh toán, tỷ lệ thanh toándựa phương thức chiết khấu Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa là Ngân hàng

có quyền đòi lại nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu không thanh toán do

đó lãi suất thấp Thứ hai là chiết khấu miễn truy đòi nghĩa là Ngân hàng chịu hoàntoàn rủi ro nếu phía đối tác không thanh toán khi đao hạn do đó lãi suất cao

- Tam ứng cho nhà xuất khẩu: Ngân hàng có thể tài trợ bằng cách tạm ứngmột khoản tín dụng cho nhà xuất khẩu trong khuôn khổ Chủ yếu là trong ngắnhạn, nó phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu và sự nhạycảm và đảm bảo về giá cả của hàng hoá

- Bao thanh toán: về bản chất đây là chiết khấu các khoản phải thu của nhàxuất khẩu đối với nghiệp vụ này Ngân hàng mua lại các khoản nợ, thanh toánngay cho nhà xuất khẩu, cung cấp các dịch vụ như hạch toán sổ sách, uỷ nhiệmthu, các khoản sao kê định kỳ Đây là hình thức tài trợ trong ngắn hạn

- Chiết khấu nợ dài hạn: đây là hình thức chiết khấu các khoản nợ dài hạn doxuất khẩu máy móc thiết bị có giá trị lớn mà nhà xuất khẩu bán dưới hình thức trảgóp và Ngân hàng sẽ mua lại khoản nợ này

Trang 10

+ Tài trợ nhập khẩu:

- Tín dụng dành cho người đạt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu,đây là hình thức mà Ngân hàng nước xuất khẩu ký hiệp định với Ngân hàng vàChính phủ nước khác về việc tài trợ cho Ngân hàng và Chính phủ những khoản tíndụng tài trợ cho việc nhập khẩu hàng hoá, thiết bị công nghệ từ nước tài trợ

- Tín dụng thuê mua vượt qua biên giới: với hình thức này Ngân hàng cấpcho doanh nghiệp một khoản tín dụng bằng cách mua hay thuê tài sản ở nướcngoài về cho thuê lại tài sản tài tại nước mình, do đó người thuê không cần nhiềuvốn ngay mà vẫn được sử dụng những tài sản mình cần cho qua trình sản xuất

- Cho vay mở L/C: đây là nghiệp vụ mà các nhà nhập khẩu yêu cầu Ngânhàng mở thư tín dụng sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu theo yêu cầu

Của nhà nhập khẩu khi họ đã trình đủ các chứng từ quy định, như vậy khoản tíndụng này được bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá, tuy nhiên ngân hàng có thểyêu cầu nhà nhập khẩu phải ký quỹ hay không

- Tạm ứng cho nhà nhập khẩu: Ngân hàng có thể tạm ứng cho nhà nhập khẩukhi họ thiếu vốn để thanh toán Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và được bảođảm bằng bộ chứng từ hàng hoá

- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân hàngphía người nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất khẩu cónhu cầu về tiền, Ngân hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết khấu cho bên bán

và giữa lại hối phiếu, hối phiếu có thể được bán hay chiết khấu tại Ngân hàng nhậpkhẩu khi đến hạn

- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức nàynhà nhập khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối phiếu tựnhận nợ, hối phiếu này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành và chuyển

Trang 11

đến cho nhà nhập khẩu, và nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này để chiết khấu nhậntiền tại Ngân hàng phục vụ mình.

Trang 12

1.2 KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN:

Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực kinh tế

tư nhân có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội cho nhữngquốc gia này, chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có nhiều công ty đaquốc gia nổi tiếng toàn cầu, nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền kinh tế mỹ, còn khuvực kinh tế tư nhân mới là đóng góp lớn cho nền kinh tế Mỹ, quay trở về Việt Namthì khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát triển khá sớm nhưng do nhiềuhoàn cảnh của đất nước mà khu vực kinh tế này có những lúc đã bị lãng quên trongmột thời gian dài, nhưng do cũng như những nứơc khác trên thế giới, khu vực nàyngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nên kinh tế nước nhà, và trongnhững năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo nhiều điều kiện chokhu vực kinh tế này phát triển

1.2.1 Chủ trương của Đảng về kinh tế tư nhân.

Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8, nhưngkhu vực kinh tế này chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng 8 và đã cónhững đóng góp rất lớn cho miền bắc từ năm1955 – 1957 với chủ trương phát triểnkinh tế nhiều thành phần trong đó co kinh tế cá thể và tư bản tư nhân và thành phầnkinh tế này đã có những đóng góp rất lớn cụ thể như: năm 1955 có 51688 cơ sởcông nghiệp tư nhân và tiểu thủ công nghiệp, với số lượng công nhân làm việctrong các cơ sở đó là 128622 công nhân, và đã tăng 54985 cơ sở và 161241 côngnhân trong năm 1957, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 81,9% giá trị của toàn xãhội

Từ năm 1958 chuyển sang thời kỳ xây dung chủ nghĩa xã hội, khu vực kinh tế tưnhân bị xoá bỏ hoàn toàn, tuy nhiên khu vực kinh tế này vẫn tồn tại dưới hình thứcngầm, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì tư bản tư nhân bị quan niệm là thành phầnbóc lột do đó bị liệt vào dạng bị cải tạo tuy nhiên về thực tế thì thì thành phần này

Ngày đăng: 02/10/2013, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w