Tuy vậy, việc hình thành một khu vực thương mại tự do theo đúng lịch trình đã định đòi hỏi không chỉ một số nước thành viên phát triển mà tất cả các nướcthành viên phát triển cũng như ké
Trang 1GIẢI PHÁP NHẰM HÌNH THÀNH NHỮNG ĐIỀU KIỆN
CƠ BẢN CHO MỘT ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN VÀ
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAMIII.1 Các giải pháp
1.1Những giải pháp để hình thành thị trường thống nhất
1.1.1 Xúc tiến lộ trình thực hiện AFTA
Theo chương trình thuế quan có hiệu lực chung CEPT, một khu vực thươngmại tự do sẽ được thiết lập ở ASEAN vào năm 2008 Với các nước phát triểntrong ASEAN (6 nước thành viên cũ), thị trường hàng hoá được mở cửa dự kiến
từ năm 2003 Tính đến giữa năm 2002, đã có hơn 95% hàng hoá trao đổi giữa 6nước này được đưa vào Danh mục cắt giảm thuế quan
Tuy vậy, việc hình thành một khu vực thương mại tự do theo đúng lịch trình
đã định đòi hỏi không chỉ một số nước thành viên phát triển mà tất cả các nướcthành viên phát triển cũng như kém phát triển đều phải rất nỗ lực.Từ sau cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, các nước trong khu vực đều vấp phải khókhăn mà khó giải quyết Tư tưởng rút khỏi Hiệp định AFTA đã xuất hiện ởInđônêxia do vấn đề bất ổn định chính trị Malaixia, Thái Lan và Philipin cũngđang tìm cách trì hoãn việc thực hiện AFTA bằng cách tăng các mặt hàng nhậpkhẩu quản lý theo hạn ngạch để bảo hộ sản xuất trong nước Bên cạnh đó, việcTrung Quốc gia nhập WTO đã làm cho Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh cao hơnkhu vực ASEAN, cả trên thị trường hàng hoá và thị trường FDI, nhờ các yếu tốnhư thị trường nội địa lớn gấp đôi thị trường ASEAN, môi trường pháp lý thốngnhất, giá nhân công thấp và môi trường chính trị tương đối ổn định hơn Để cạnhtranh có hiệu quả với Trung Quốc, các nước ASEAN không còn cách nào khác làđẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực, đảm bảo thực hiện lộ trình AFTA theo đúng
Trang 2AFTA cần nhiều sự cố gắng từ Ban Thư ký ASEAN và các nước thành viên.Những cố gắng đó là:
Trước hết, các nước thành viên ASEAN cần duy trì ổn định chính trị và kiênđịnh quyết tâm thực hiện liên kết kinh tế khu vực Hiện nay, hầu hết các nướcthành viên ASEAN vẫn có tâm lý coi trọng quan hệ với các nước lớn ngoài khuvực hơn là các nước láng giềng Những nhân vật lãnh đạo lâu năm, có tâm huyếtvới liên kết khu vực đã được thay thế bằng thế hệ lãnh đạo mới, có đầu óc thựcdụng hơn song lại không cam kết hợp tác khu vực như trước Tình hình chính trịbất ổn khiến một số nhà lãnh đạo có phần chú trọng tới yếu tố nội trị nhiều hơn vàbớt chú trọng tới các yếu tố đối ngoại Do đó, Ban Thư ký ASEAN cần làm tốtcông tác vận động và buộc các nước đã ký Hiệp định AFTA thực hiện cam kết củamình Còn lãnh đạo các nước ASEAN cũng không nên rút khỏi AFTA vì lợi íchlâu dài của quốc gia
Tiếp đến, các nước thành viên ASEAN cần tăng cường thương mại nội bộkhu vực Thương mại nội bộ ASEAN tuy đã tăng từ 44,2 tỷ USD năm 1993 lên97,8 tỷ năm 2000 song mới chỉ chiếm khoảng 20% tổng khối lượng thương mạicủa ASEAN, trong đó thương mại của từng nước thành viên với Singapore chiếmtới hơn 70% tổng khối lượng thương mại nội bộ Như vậy, thị trường chủ yếu củacác nước ASEAN vẫn là ba trung tâm kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật Bản Liên kếtkinh tế khu vực chỉ có thể đẩy nhanh khi các nước ASEAN tăng cường đẩy mạnhbuôn bán và đầu tư lẫn nhau
Một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở lộ trình thực hiện AFTA lànhận thức của người dân và các doanh nghiệp về AFTA chưa cao Không chỉ cácdoanh nghiệp của Malaixia mà giới kinh doanh Inđônêxia cũng cho rằng AFTA làmột hiệp định thương mại tự nguyện và không ràng buộc về mặt pháp lý như Hiệpđịnh APEC Có tới 60% doanh nghiệp Việt Nam khi trả lời phỏng vấn điều tra củaPhòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam vào cuối năm 2002 không quan tâm
Trang 3tới hội nhập kinh tế Số doanh nghiệp này cho rằng mình không có thị trườngnước ngoài nên việc thực hiện AFTA sẽ không ảnh hưởng tới hoạt động của doanhnghiệp mình Như vậy, có thể thấy nhiệm vụ cấp bách của hầu hết chính phủ cácnước trong khu vực là tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của giớidoanh nghiệp và quần chúng nhân dân về ý nghĩa và vai trò của AFTA nói riêng
và liên kết kinh tế khu vực nói chung
Để sự liên kết kinh tế trong ASEAN được bền vững, sự liên kết ASEAN cầnđược mở rộng ra ngoài phạm vi hợp tác về an ninh, kinh tế, chính trị mà cần mởsang cả các lĩnh vực khác như văn hoá, giáo dục, du lịch, thể thao, môi trường.Khi quần chúng nhân dân và giới doanh nghiệp đã có nhận thức đúng về liên kếtkinh tế thì họ sẽ là những nhân tố tích cực đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xúc tiếnthành lập thị trường thống nhất trong khu vực Đông Nam á và tiến tới hình thànhmột đồng tiền chung ASEAN
1.1.2 Thúc đẩy tiến trình hình thành khu vực đầu tư ASEAN và xúc tiến mở cửa thị trường lao động
Việc mở cửa đối với các dòng vốn và lao động là một yêu cầu không thểthiếu của một liên minh tiền tệ Hiện nay, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh
tế của các nước ASEAN còn rất lớn, thậm chí lớn hơn nhiều so với sự chênh lệchgiữa các nước thành viên sáng lập ERM vào năm 1979 Khoảng cách thu nhậpbình quân đầu người giữa Singapore, nước giàu nhất khu vực với Myanma, nướcnghèo nhất khu vực là xấp xỉ 300 lần Kể cả trong các nước ASEAN 5 thì chênhlệch thu nhập của Singapore và Inđônêxia cũng là 40 lần ở một số nước đông dântrên thế giới như Trung Quốc, Hoa Kỳ sự chênh lệch trong thu nhập giữa cácvùng khác nhau cũng không kém phần nghiêm trọng Tuy nhiên, các nước này vẫn
có thể sử dụng một đồng tiền chung do lao động và các dòng vốn ở các nước nàyđược tự do di chuyển, một điều mà ở ASEAN chưa có, và cũng do trong nội bộ
Trang 4một nước dễ thực hiện việc thi hành một chính sách ngân sách và tài chính nhằmgiảm bớt sự mất cân đối giữa các vùng hơn.
Phân tích trên đây cho thấy rằng việc cho phép lao động và các dòng vốnđược tự do di chuyển giữa các nước ASEAN là một điều kiện quan trọng để tiếntới hình thành một liên minh tiền tệ Điều này sẽ cần đến sự phối hợp của tất cảcác nước thành viên Cho tới nay, khu vực đầu tư ASEAN (AIA) là một nỗ lựcđầu tiên nhằm đạt tới mục tiêu này Việc mở cửa thị trường có nghĩa là mọi cảntrở trong chu chuyển vốn giữa các nước thành viên đều được dỡ bỏ và mọi đối xửtrên thị trường vốn giữa các nước thành viên phải được công bằng và bình đẳng.Tuy nhiên, chặng đường từ nay tới khi hoàn thành khu vực đầu tư ASEAN còndài, đòi hỏi những biện pháp và bước đi phù hợp cụ thể Theo nghiên cứu của cácnhà kinh tế, một số bước đi cụ thể hiện nay với các nước thành viên ASEAN, chủyếu là các nước thành viên mới là:
Xây dựng một hệ thống chính sách để cải thiện môi trường đầu tư theo hướngsửa đổi thêm một số quy định để tạo thuận lợi hơn cho việc thu hút đầu tư nướcngoài như các quy định về thủ tục cấp phép, về tỷ lệ góp vốn và việc góp vốntrong các liên doanh, chuyển lợi nhuận về nước và quy định thuê mướn và sử dụnglao động
Thiết lập các chuẩn mực đối xử và bảo hộ có điều kiện các ngành sản xuấttrong nước Các nước thành viên AIA phải thực hiện chính sách bảo hộ có điềukiện, tránh bảo hộ tràn lan, làm mất đi các yếu tố cần thiết thúc đẩy cạnh tranh vàđầu tư Việc bảo hộ cần đạt được những điều kiện như bảo hộ cho một số ngành,lĩnh vực hẹp mà nước đó có khả năng tự lực phát triển; bảo hộ trên cơ sở kết hợpcác điều kiện đầu tư với các ưu đãi đầu tư đối ở những ngành cần thu hút FDI cócông nghệ nguồn để phát triển một số ngành công nghiệp chủ chốt trong nước.Việc bảo hộ phải được quy định cụ thể trong từng trường hợp, từng thời gian cụthể, không bảo hộ vĩnh viễn cho bất kỳ ngành nào, lĩnh vực nào (trừ các lĩnh vực
Trang 5có liên quan đến an ninh, quốc phòng) Bảo hộ chỉ có thể tiến hành trên nguyêntắc có điều kiện vì phần lớn các nước ASEAN đều đang tranh thủ các nguồn lực từbên ngoài, đặc biệt là vốn FDI để thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đạihóa đất nước.
Phối hợp chặt chẽ hơn nữa tự do hoá thương mại với tự do hoá đầu tư Tự dohoá thương mại với tự do hoá đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và khăng khít vớinhau Thông thường, việc tự do hóa việc di chuyển hàng hoá giữa các nước diễn ratrước, rồi đến việc tự do hoá di chuyển của các yếu tố sản xuất như vốn, lao động.Quá trình này cũng đang được định hình dần ở các quốc gia ASEAN, bắt đầu là từlịch trình 2003 của AFTA cho đến 2010 của AIA song vẫn chưa có sự gắn kếtmạnh mẽ trong các bước tự do hoá hai lĩnh vực này
Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động, xúc tiến đầu tư ở các nước thànhviên mới Công tác vận động, xúc tiến đầu tư cần được đổi mới về nội dung vàphương thức thực hiện, theo một kế hoạch và chương trình chủ động, có hiệu quả
Cụ thể, các nước đang phát triển trong khu vực cần thực hiện chủ trương đaphương hoá các đối tác đầu tư nước ngoài để tạo thế chủ động trong mọi tìnhhuống Cùng với việc tiếp tục thu hút các nhà đầu tư truyền thống ở châu á vàASEAN vào các dự án mà họ có kinh nghiệm và thế mạnh như chế biến nông sản,sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu , các quốc gia nói trên cần chuyển hướng sangcác đối tác Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ nhằm tranh thủ tiềm lực vốn, công nghệ, kỹthuật hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt chú ý các
dự án lớn, dự án vừa và nhỏ nhưng công nghệ hiện đại Trên cơ sở quy hoạchngành, sản phẩm, lãnh thổ và danh mục dự án kêu gọi đầu tư được phê duyệt, cácngành, các địa phương, các cơ quan liên quan tới đầu tư nước ngoài cần chủ độngtiến hành vận động, xúc tiến đầu tư một cách cụ thể, trực tiếp đối với từng dự án,trực tiếp với từng tập đoàn, công ty và nhà đầu tư có tiềm năng
Trang 6Đến năm 2008, khi khu vực thương mại tự do ASEAN hoàn tất, tất cả cácnước tham gia AFTA sẽ xoá bỏ các loại hàng rào thương mại, tạo lập một "sânchơi bình đẳng" xuyên biên giới cho việc lưu thông hàng hoá, dịch vụ và vốn giữacác nước thành viên, trong khi mỗi nước thành viên vẫn được phép theo đuổinhững chính sách riêng trong nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là chính sách về tàichính, tiền tệ Với mức độ hội nhập này, các nước ASEAN mới chỉ đạt tới trình độ
"những người láng giềng thân thiện", thấp hơn so với cấp độ "một gia đình hạnhphúc mà các nước thành viên Liên minh tiền tệ châu Âu EMU đã đạt được Ngay
cả đến năm 2020, khi khu vực đầu tư tự do AIA được mở cửa với các nhà đầu tưngoài ASEAN thì liên kết kinh tế khu vực ASEAN vẫn còn kém xa liên kết kinh tếkhu vực châu Âu Muốn đạt tới một liên minh tiền tệ như EMU, các nước ASEANcần phải có thêm các giải pháp khác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
1.2 Các giải pháp về tài chính, ngân hàng
1.2.1 Tiếp tục cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng của các nước trong khu vực để tiến tới hội nhập
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã cho thấy rằng khi một nước
có hệ thống tài chính, ngân hàng yếu kém phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn nướcngoài và neo giá vào một đồng tiền nào đó, các vấn đề của hệ thống ngân hàng cóthể biến thành một cuộc khủng hoảng tỷ giá hối đoái Do đó, hệ thống ngân hàngyếu kém có thể làm phương hại đến bất cứ thoả thuận về một đồng tiền chung nào
Hệ thống ngân hàng của các nước ASEAN nói chung hiện nay còn nhiều yếu kém,mặc dù sau cuộc khủng hoảng, các nước đã tiến hành nhiều biện pháp cải cáchđáng kể Vấn đề chủ yếu là nhà nước can thiệp quá sâu vào hệ thống tài chính,ngân hàng, và sau đó lại tự do hoá khi chưa có đủ các điều kiện cần thiết Về vấn
đề cải cách hệ thống tài chính ngân hàng, các nước ASEAN cần đưa ra các quyđịnh đòi hỏi các ngân hàng thận trọng hơn trong việc cho vay vốn, giảm các khoản
nợ khó đòi của ngân hàng, tăng cường hiệu quả của hệ thống giám sát trong lĩnh
Trang 7vực tài chính ngân hàng Đối với việc mở cửa thị trường tài chính, nhà nước luônphải giữ vững vai trò điều tiết của mình, đảm bảo tốc độ mở cửa hợp lý và khảnăng thanh toán các khoản nợ nước ngoài Các nước trong khu vực cũng cần xâydựng thị trường vốn cân bằng hơn, tránh dựa quá nhiều vào cổ phiếu như hiện nay.Riêng về vấn đề tỷ giá hối đoái, cho dù các nước ASEAN áp dụng phương án nàotrong số các phương án đã nêu ở trên hay thậm chí là một phương án nào khác thìviệc cải cách chính sách tỷ giá cũng sẽ đòi hỏi áp dụng chính sách neo giá vào một
rổ tiền tệ thay cho neo giá vào một đồng tiền duy nhất và một biên độ dao độngthay cho chế độ tỷ giá cố định hiện vẫn áp dụng trong khu vực như hiện nay
Do hệ thống ngân hàng của các nước trong khu vực có nhiều vấn đề giốngnhau nên việc cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng có thể nên được phối hợptiến hành giữa các nước Điều này sẽ giúp các nước không những có thể giúp cácnước học tập kinh nghiệm của nhau, tiết kiệm được nguồn lực đầu tư vào quá trìnhcải cách, mà còn là một tiền đề để các nước ASEAN hội nhập trong lĩnh vực tàichính ngân hàng sau này
1.2.2 Phối hợp chính sách tiền tệ giữa các nước ASEAN và thiết lập một thiết chế tiền tệ khu vực
Phối hợp chính sách tiền tệ giữa các nước trong khối là tiền đề để tiến tớixoá bỏ ranh giới giữa các đồng tiền và ranh giới chính sách tiền tệ giữa các quốcgia
Về vấn đề này, như trên đã nêu, khu vực Đông á đã có một bước tiến quantrọng được thực hiện ở Chiang Mai vào ngày 6/5/2000 nhằm xây dựng một thoảthuận tài chính khu vực để bổ sung cho các hạn mức tín dụng quốc tế hiện có.Thêm vào đó, nhằm tăng cường tính ổn định tài chính trong khu vực, các Bộtrưởng tài chính cũng cam kết hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong việc kiểm soát cácdòng vốn và tăng cường cơ chế giám sát khu vực Cơ chế giám sát này nên tập
Trang 8trung vào việc thiết lập một hệ thống cảnh báo để ngăn chặn từ sớm các cuộckhủng hoảng.
Thời gian để cho ra đời một đồng tiền chung ASEAN có thể phải rất lâu, docác quốc gia thành viên có những đặc điểm kinh tế chính trị khác nhau và sự cáchbiệt nhau lớn giữa các nước đang phát triển và các nền kinh tế đã công nghiệp hoá.Tuy nhiên, để hình thành một liên minh tiền tệ ở ASEAN, ngay từ lúc này đãcần phải tiến hành các bước đi đầu tiên, trước hết là xây dựng một khung chínhsách tiền tệ chung, thống nhất Mục đích chính của một chính sách tiền tệ chungtrong khu vực sẽ là duy trì sự ổn định giá cả, vì chỉ khi giá cả được duy trì ổn địnhtrong giới hạn cho phép thì khu vực mới có thể thi hành một chính sách kinh tếchung Chính sách tiền tệ áp dụng cho khu vực phải là một chính sách có khả năngđóng góp vào chính sách kinh tế và giảm được thất nghiệp thông qua mục tiêuchính là ổn định giá cả
Trong môi trường một chính sách tiền tệ thống nhất, sự linh hoạt của thịtrường sẽ góp phần làm giảm sự mất cân đối giữa các quốc gia và khu vực Chínhsách tiền tệ sẽ được thực thi thống nhất trên toàn khu vực đồng tiền chung chứkhông áp dụng riêng cho một quốc gia hay một nhóm các quốc gia nào
Tuy nhiên, do các trạng thái chu kỳ giữa các nước thành viên sẽ không hoàntoàn cùng pha ở thời kỳ đầu của giai đoạn thực hiện chính sách tiền tệ chung nênnhững khác biệt giữa các quốc gia sẽ được khắc phục sau một thời gian nhất định.Những sự mất cân đối giữa các quốc gia thường được xử lý thông qua yếu tố tỷgiá Trong môi trường đồng tiền chung Châu Âu mà đặc trưng là một chính sáchtiền tệ thống nhất với mục đích là duy trì sự ổn định giá cả trong toàn khu vựcđồng Euro thì yêu cầu điều chỉnh là chính sách ngân sách, mặt bằng giá quốc gia,chính sách tiền lương và việc huy động sức lao động và tư bản
Một điều quan trọng là cần phải có một tổ chức chỉ đạo, hoạch định và điềuhành chính sách tiền tệ chung Đó phải là một Ngân hàng Trung ương, tương tự
Trang 9như Ngân hàng trung ương Châu Âu, gồm ngân hàng trung ương ASEAN và ngânhàng trung ương quốc gia của các nước thành viên tham gia đồng tiền chung khuvực Một nhiệm vụ quan trọng khác không thể thiếu khi hoạch định chính sáchtiền tệ chung là quy định mức dự trữ tối thiểu đối với các tổ chức tín dụng trongkhu vực đồng tiền chung nhằm ổn định lãi suất thị trường và kiểm soát lượng cungtiền
Bước đầu để tiến tới một ngân hàng trung ương khu vực như trên sẽ là pháttriển Sáng kiến Chiang Mai thành một thoả thuận tài chính khu vực và hình thànhmột quỹ tiền tệ cho ASEAN theo đó, các nước sẽ đóng góp một tỷ lệ nào đó dự trữngoại tệ của mình vào một quỹ chung Tỷ lệ này sẽ được quyết định dựa trên tổnghợp các biến số kinh tế vĩ mô như GDP trên đầu người, quy mô so sánh của cácnền kinh tế, tỷ trọng thương mại trong khu vực,
Mô hình cho một quỹ tiền tệ như vậy sẽ là Quỹ hợp tác tiền tệ châu Âu(EMFC), tiền thân của Viện tiền tệ châu Âu và Ngân hàng trung ương châu Âu.Các nước thành viên sẽ có thể nhận được các khoản tín dụng từ quỹ chung này,dựa trên tỷ lệ đóng góp của mình và với những điều kiện đã được tất cả các bênthống nhất Một dấu hiệu thực tế đáng mừng là ASEAN đã quyết định sẽ thành lậpNgân hàng ASEAN Trước mắt, ngân hàng mới chỉ có vai trò giúp đỡ ngườinghèo ở các nước ASEAN với các khoản vay nhỏ, nhưng đây cũng là một tín hiệucho thấy rằng các thiết chế khu vực đang dần hình thành ở ASEAN
Trang 10Quá trình hội nhập cũng cần phải có một lịch trình cụ thể, có tính đến trình
độ phát triển khác nhau của tất cả các nước thành viên tương lai, được tất cả cácbên chấp thuận và cam kết thực hiện Để đẩy nhanh quá trình hội nhập, một thoảthuận đa phương về các tiêu chí và lịch trình gia nhập như vậy có thể quy địnhmột mốc thời gian gia nhập sớm hơn cho các nước phát triển hơn Các nước khác
sẽ tham gia vào một thời điểm muộn hơn sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã
đề ra
1.3.2 Chuẩn bị cho giai đoạn chuyển đổi và đưa đồng tiền chung vào lưu thông
Giải pháp này có thể là quá sớm ở thời điểm hiện tại Tuy nhiên, nếu muốnhình thành một liên minh tiền tệ thành công, một điều quan trọng là phải chuẩn bịcho sự ra đời của một đồng tiền chung cùng với tất cả những vấn đề phức tạp cóthể xảy ra trong giai đoạn chuyển đổi Các nước EMU đã phải có một thời kỳ 3năm đồng tiền chung tồn tại song song với các đồng tiền quốc gia để chuẩn bị cácđiều kiện về cơ sở vật chất, về luật pháp, thể chế và để phổ biến rộng rãi về đồngtiền chung cho dân chúng Một liên minh tiền tệ ở ASEAN nếu muốn thành côngcũng không thể bỏ qua những vấn đề như vậy
III.2 Các vấn đề của Việt Nam trong tiến trình hội nhập ASEAN hướng tới hình thành một đồng tiền chung.
-Trong tiến trình hội nhập ASEAN, hướng tới việc hình thành một đồng tiềnchung, Việt nam cần phải :
-Chủ động xây dựng một chiến lược hội nhập phù hợp
Chiến lược hội nhập là định hướng chính sách tổng thể lâu dài cho quá trìnhhội nhập của một quốc gia vào các thể chế kinh tế toàn cầu và khu vực Chiếnlược này bao gồm những nội dung liên quan đến mục tiêu, phương châm, bước đi
và biện pháp theo đuổi
Trước hết, cần xác định mục tiêu lâu dài và mục tiêu từng giai đoạn của quátrình hội nhập Những mục tiêu này không thể tách rời những mục tiêu chiến lược
Trang 11của đường lối chính trị-kinh tế của đất nước và phải nhằm phục vụ những mục tiêuchiến lược đó.
Chiến lược hội nhập cần đề ra những phương châm và bước đi thích hợp củaquá trình hội nhập đối với từng giai đoạn Một nguyên tắc quan trọng là các bước
đi của quá trình hội nhập phải đồng bộ và phù hợp với tiến trình cải cách, điềuchỉnh toàn diện bên trong, đảm bảo hai tiến trình này không trái ngược, triệt tiêuhiệu quả của nhau mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau Các bộ phận của chiến lược hộinhập là chính sách thương mại, chính sách đầu tư, sản xuất kinh doanh, lưu thôngphân phối, chính sách tài chính, chính sách trợ cấp, chính sách giá cả, quy định vềquyền sở hữu trí tuệ, chính sách xuất nhập cảnh và lưu trú, các thủ tục hành chính,
hệ thống tư pháp…phải vận hành ăn khớp, thống nhất vì mục tiêu, phương châmchung, có tính toán kỹ các hậu quả kinh tế-xã hội có thể xảy đến khi thực hiện tiếnhành hội nhập
Trang 12thích nhiều cách khác nhau, trong các hiệp định quốc tế và các quy tắc toàn cầuhóa.
Muốn vậy, cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau:
2.1 Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại
Chính sách thương mại của Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm bất cập,không phù hợp với thông lệ quốc tế và còn thiếu nhiều quy định được các nướcthừa nhận và sử dụng rộng rãi Để quá trình tham gia AFTA của Việt Nam hướngtới hình thành đồng tiền chung, thu được lợi ích lớn nhất, hạn chế những tác độngtiêu cực của tự do hoá thương mại khu vực, việc điều chỉnh và hoàn thiện chínhsách thương mại cần phải theo hướng thông thoáng, có tính ổn định và phù hợpvới thông lệ trong buôn bán khu vực và quốc tế đồng thời tạo điều kiện thuận lợicho tất cả các thành phần kinh tế nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Việc điều chỉnh chính sách thương mại cần tuân theo những nguyên tắc sau:
- Điều chỉnh chính sách thương mại phải đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội,nghĩa là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, phục vụcho quá trình phát triển kinh tế không gây nên những bất ổn, biến động mạnh, ảnhhưởng đến đời sống của nhân dân
- Tuân thủ các quy định không những của Hiệp định CEPT mà cả các Hiệpđịnh và Thoả thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và hướng tới những quy địnhcủa WTO
Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại của Việt Nam cần tập trungvào các vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, chính sách thương mại cần chú trọng hơn tới mục tiêu nâng cao
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, hay nói cách khác là bên cạnh tốc độ tăngtrưởng cần chú ý hơn tới chất lượng tăng trưởng Cho tới nay, xuất nhập khẩuthường được bàn đến trên phương diện lượng (tốc độ tăng trưởng, kim ngạch xuấtkhẩu, ) trong khi các vấn đề mang tính quyết định như hiệu quả và sức cạnh tranh
Trang 13mới được đề cập một cách rất chung, chưa được chi tiết hoá biện pháp cụ thể Cácbiện pháp và công cụ chính sách thời gian tới, đặc biệt là các biện pháp khuyếnkhích xuất khẩu cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả cũng nhưsức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.
Thứ hai, chính sách thương mại còn cần khai thác triệt để thế mạnh của
chính sách kinh tế nhiều thành phần để tăng cường tính năng động và khả năngthích ứng nhanh Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế làchuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực Dưới sức ép cạnh tranh một ngành sảnxuất không hiệu quả có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác cóhiệu quả hơn Quá trình này sẽ diễn ra một cách suôn sẻ hơn, với chi phí thấp hơnnếu nền kinh tế có được tính năng động và khả năng thích ứng cần thiết Đối vớinước ta, hai đặc tính này sẽ được tăng cường nếu khai thác được hết thế mạnh củachính sách kinh tế nhiều thành phần Chính sách thương mại một mặt cần thúc đẩyviệc nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp quốc doanh, mặt khác cần khuyếnkhích sự phát triển của các thành phần khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, trong
đó đặc biệt chú trọng tới các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để tận dụng triệt đểtiềm năng và khả năng thích ứng nhanh của họ
Thứ ba, chính sách thương mại cũng cần hướng tới một sự thay đổi căn bản
về đối tượng và phương thức quản lý nhập khẩu Hiện nay để điều tiết hàng hoáxuất nhập khẩu, chúng ta còn dùng nhiều biện pháp phi thuế quan Các công cụnày đều là đối tượng phải bãi bỏ trong tiến trình hội nhập
Tiến trình loại bỏ các hàng rào phi thuế cần được tiến hành kết hợp chặt chẽvới việc cắt giảm thuế quan Chính phủ và các Bộ ngành cần xem xét loại bỏnhững biện pháp không cần thiết, đơn giản hoá các biện pháp còn lại, tạo điều kiệncho hoạt động xuất nhập khẩu Trước hết, chúng ta nên bắt đầu bằng các biện phápquản lý hành chính, tiếp đến là các biện pháp phi thuế quan phổ thông như giấy
Trang 14mại tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành chức năng cải tiến các thủ tục cấpgiấy phép, bãi bỏ cơ chế "xin - cho", tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp Việt Nam xuất nhập khẩu.
Việt Nam cần tự do hoá hoàn toàn quyền kinh doanh xuất nhập khẩu để tất cảcác mặt hàng không phải chịu hạn chế định lượng (trừ các mặt hàng vì lý do sứckhoẻ, an ninh, môi trường) và được nhập khẩu tự do với mức thuế suất thích hợp.Đối với những mặt hàng cần được bảo hộ để duy trì sự tồn tại và phát triển của cácngành sản xuất trong nước cũng cần loại bỏ dần các quy định về giấy phép nhậpkhẩu và hạn ngạch, chuyển sang bảo hộ bằng thuế quan cao trong thời gian đầusau đó, cắt giảm dần thuế quan để tránh tư tưởng trông chờ vào bảo hộ của cácdoanh nghiệp và thực hiện các cam kết theo CEPT Đồng thời trong khuôn khổAFTA, Việt Nam cùng với các nước ASEAN sẽ ký các Hiệp định thừa nhận cáctiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, chất lượng của nhau, xoá bỏ những rào cản
kỹ thuật trong thương mại nội bộ khối
Đồng thời, Việt Nam cần bổ sung, hoàn thiện chính sách thương mại bằngcác công cụ quản lý xuất nhập khẩu tiên tiến như hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệtđối, thuế chống phá giá, thuế chống trợ cấp, phí môi trường và các biện phápchống chuyển giá đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trongnước, bảo đảm thương mại công bằng và bảo vệ môi trường Đây là công cụ đượccác nước dùng phổ biến và không bị loại bỏ trong quá trình thực hiệnCEPT/AFTA Như vậy, chính sách thương mại của Việt Nam cần phải loại bỏ cácquy định không phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời bổ sung những công cụquản lý tiên tiến được các nước thừa nhận và áp dụng
2.2 Sửa đổi và hoàn thiện hệ thống thuế
Một trong những yêu cầu của quá trình thực hiện CEPT/AFTA hướng tớihình thành đồng tiền chung là phải điều chỉnh hệ thống thuế, mà quan trọng nhất