1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề ôn thi THPT quốc gia tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh

40 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 504 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của người Mĩ, Bác đã suy rộng ra vấn đề quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI THỰC HIỆN : DƯƠNG KHÁNH TOÀN CHỨC VỤ : TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN ĐƠN VỊ : TRƯỜNG THPT QUANG HÀ ĐỐI TƯỢNG : HỌC SINH LỚP 12

SỐ TIẾT : 6 TIẾT

NĂM 2017

Trang 2

10 Cảm xúc, tâm tư, tình cảm của Bác Hồ ẩn chứa trong tác phẩm 11

1 Dạng đề nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi 12

2 Dạng đề nghị luận về một ý kiến (hoặc nhiều ý kiến) bàn về tác phẩm 22

Trang 3

TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH

A MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU

I NỘI DUNG

- Nắm chắc và phân tích được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuyên

ngôn Độc lập trên cái nhìn nhiều chiều, so sánh với những tác phẩm khác trong chương

trình

- Thấy được giá trị nhiều mặt (lịch sử, tư tưởng, nghệ thuật) và ý nghĩa to lớn của bản

Tuyên ngôn Độc lập, đồng thời cảm nhận được tấm lòng yêu nước nồng nàn và tự hào dân

III PHƯƠNG PHÁP

1 Về phía giáo viên

Để thực hiện chuyên đề đã chọn, chúng tôi đã kết hợp sử dụng kết hợp những phươngpháp sau:

- Hoạt động song phương giữa giáo viên và học sinh trong quá trình tiếp cận, tìm hiểu

và nhận biết những phương diện đặc sắc của văn bản

- Đọc - hiểu văn bản chính luận theo đặc trưng thể loại

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp khảo sát thống kê - phân loại

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh văn học

- Thảo luận nhóm, điều tra thực tiễn, tự liên hệ

- Tổ chức cho HS nghe băng, xem băng hình về chủ đề “Bác Hồ”

=> Mục đích: nhằm hệ thống hóa những đơn vị kiến thức cơ bản cần giảng dạy vàhướng dẫn học sinh Kết hợp sử dụng phương pháp gợi mở, nêu vấn đề, trao đổi thảo luậnnhằm phát triển khả năng tư duy hệ thống, thiết lập hệ thống ý và phát huy khả năng làmviệc nhóm, làm việc độc lập ở học sinh

2 Về phía học sinh

- Yêu cầu học sinh xử lí nguồn tài liệu ở nhà qua hệ thống câu hỏi (Đọc hiểu văn bảntrong sách giáo khoa, đọc sách tham khảo, truy cập internet tìm nguồn tài liệu trựctuyến…)

- Sau khi xử lí nguồn tài liệu, học sinh tích cực, chủ động trả lời các câu hỏi trongphần hướng dẫn học bài, đồng thời thiết lập hệ thống dàn ý dựa trên hệ thống câu hỏi ra vềnhà

Trang 4

- Học sinh cần huy động những năng lực như: năng lực vận dụng tổng hợp, năng lựchợp tác, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức liên môn giải

quyết vấn đề thực tiễn… để hiểu sâu, rộng hơn bài học Tuyên ngôn Độc lập.

IV ĐỐI TƯỢNG, THỜI LƯỢNG GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ

- Học sinh lớp 12: ôn thi THPT Quốc gia và bồi dưỡng học sinh giỏi

- Số tiết: 06 tiết

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

- Tuy nhiên, sau cách mạng tháng Tám tình hình đất nước ta còn nhiều bất ổn, ở trongthế “ngàn cân treo sợi tóc”:

+ Ở biên giới phía Bắc, có 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch lăm le xâm lược nước ta,chúng theo chân bọn Việt quốc, Việt cách

+ Ở phía Nam, tàn quân của Pháp nấp sau quân đội Anh với ý định nhân danh Đồngminh vào tước vũ khí của phát xít Nhật nhưng thực chất là muốn tái chiếm Việt Nam + Về phía Pháp, chúng tuyên bố với thế giới rằng: Đông Dương là thuộc địa củaPháp bị quân Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh, chúng có quyền quay trởlại Việt Nam, bởi chúng cho rằng chúng có công “khai hóa” và “bảo hộ” Đông Dương + Quân Anh núp dưới chiêu bài quân Đồng minh nhảy vào miền Nam Việt Nam

- Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng thù trong giặc ngoài, với tầm nhìn chiến lượccủa một nhà cách mạng đại tài, ngày 26 tháng 8 năm 1945 Bác gấp rút từ Việt Bắc về Hà

Nội Tại số nhà 48, phố Hàng Ngang, Người đã soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

- Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh đã thay

mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc Tuyên ngôn Độc lập trước

toàn thể đồng bào cả nước

=> Như vậy:

- Tuyên ngôn Độc lập ra đời giáng một đòn tâm lý mạnh mẽ vào những thế lực

muốn xâm lược Việt Nam, đồng thời muốn tuyên bố với toàn thể thế giới quyền độc lập tự

do bình đẳng của người dân Việt Nam, khẳng định ý chí sắt đá của toàn thể dân tộc ViệtNam quyết bảo vệ nền độc lập tự do của mình, không cho phép bất kì kẻ thù nào đặt chânlên lãnh địa của dân tộc Việt Nam

- Bản Tuyên ngôn Độc lập được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của dân tộc

Việt Nam, có sự tiếp nối, nâng cao của dòng chảy lịch sử dân tộc trong thời đại mới Bản

Trang 6

trong thời kỳ phong kiến: Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại Cáo của

Nguyễn Trãi mà còn giải quyết thêm một yêu cầu hết sức quan trọng là dân chủ cho nhândân

3 Đối tượng

- Hồ Chí Minh viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới

- Bản Tuyên ngôn Độc lập còn hướng tới bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp, những kẻ

đang có âm mưu xâm lược Việt Nam

4 Giá trị của bản tuyên ngôn

4.1 Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử vô giá.

* Đối với trong nước

+ Tuyên ngôn Độc lập không chỉ báo hiệu sự chấm dứt ách thống trị hàng ngàn năm

phong kiến, ách thống trị ngót trăm năm của thực dân, sự sụp đổ của chế độ phát xít tànbạo mà còn khẳng định sự ra đời của một chế độ hoàn toàn mới: Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, mở ra một kỉ nguyên độc lập cho toàn thể dân tộc, tự do cho những người lao động bị

áp bức

+ Nói cách khác, với Tuyên ngôn Độc lập: thiên trường hận của dân tộc Việt Nam

chấm dứt, thiên trường ca hạnh phúc của dân tộc Việt Nam bắt đầu

* Đối với quốc tế

+ Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định tư thế độc lập và tư cách bình đẳng của nước

Việt Nam mới - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, buộc công luận quốc tế phải chấpnhận

+ Tuyên ngôn Độc lập còn là tiếng súng khởi đầu cổ vũ, báo hiệu sự thức tỉnh của các

dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ tất yếu không gì cưỡng lại được của chủ nghĩa thực dân ởĐông Dương nói riêng và thế giới nói chung

4.2 Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực

* Giá trị nội dung

- Tuyên ngôn Độc lập chan chứa lòng yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc:

+ Bản tuyên ngôn khẳng định, đòi quyền độc lập tự do, dân chủ cho đất nước

+ Là bản cáo trạng đanh thép về tội ác man dợ vô nhân đạo của thực dân Pháp ngótmột thế kỷ áp bức đồng bào ta, đất nước ta

+ Ca ngợi tinh thần nhân ái, đức hòa hiếu của con người Việt Nam

+ Nêu cao ngọn cờ quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc Dù phải hy sinh tất cả tinh thần,lực lượng, tính mạng và của cải cũng nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ

Trang 7

- Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác còn là tác phẩm chứa đựng giá trị nhân văn cao

đẹp, không trực tiếp nói về vấn đề nhân quyền nhưng vấn đề nhân quyền vẫn được đặt ratrong bản tuyên ngôn Ở một đất nước thuộc địa như Việt Nam muốn thực hiện quyền củacon người thì trước hết phải giành quyền độc lập dân tộc Với nhiệt tình đòi tự do độc lậpcho dân tộc Việt Nam, đòi quyền bình đẳng cho các dân tộc trên thế giới, không kể datrắng, da đen hay da vàng là mong ước lớn lao của Hồ Chí Minh Hướng tới một xã hộicông bằng dân chủ, văn minh Đó là chiều sâu tư tưởng nhân văn cao đẹp của Người

* Giá trị nghệ thuật

- Là áng văn chính luận mẫu mực, cô đọng Mỗi câu, mỗi chữ đều hàm chứa suy tư,

cảm xúc của một con người suốt đời đấu tranh vì độc lập dân tộc và tự do của con người,của nhân loại

- Hệ thống luận cứ, luận chứng chân thực và chính xác, giàu sức thuyết phục, đa dạng

về giọng điệu: đanh thép khi đối thoại với quân thù, mềm mỏng khi đối thoại với thế giớitiến bộ và tha thiết khi nói với đồng bào, đồng chí

- Kết cấu chặt chẽ khoa học mà vẫn linh hoạt, nhịp nhàng, phù hợp với cảm xúc đó là

sự kết hợp tuyệt diệu giữa lý trí sáng suốt với tấm lòng yêu nước nồng nàn

+ Đoạn 2: (từ “thế mà” đến “lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”): Tố cáo tội ác của

thực dân Pháp và khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lậpnên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

+ Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự

do của dân tộc

6 Thể loại: Văn chính luận

- Hồ Chí Minh chọn thể loại này vì văn phong phù hợp với tính chất trang trọng, trangnghiêm của bản tuyên ngôn

- Văn chính luận của Hồ Chí Minh luôn gắn lí luận với thực tiễn, lập luận chặt chẽ,logic; lí lẽ mạch lạc, bằng chứng xác đáng; giọng văn hùng hồn, giàu tính luận chiến; chấttrí tuệ uyên thâm và giàu cảm xúc, có sức thuyết phục cao

=> Tuyên ngôn Độc lập mang đầy đủ những đặc điểm này của văn chính luận Hồ Chí

Minh

7 Nội dung tác phẩm

7.1 Phần 1: Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn

- Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyên ngôn

của người Pháp và người Mĩ

+ Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền

bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong nhữngquyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Trang 8

+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cách mạng Pháp 1791: “Người ta sinh ra tự

do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

=> Đó là những danh ngôn, là những chân lý lớn của nhân loại “không ai có thể chốicãi được” Đó lại là tư tưởng lớn của chính tổ tiên người Mĩ, người Pháp, không có lý gìngười Mĩ người Pháp lại dám phản bội lại tổ tiên của mình

- Hồ Chí Minh đã từng nói “Đối với kẻ địch, chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết”

Việc trích dẫn danh ngôn của người Mĩ, người Pháp để mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập

của ta là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo Có thể coi đó là sách lược “gậy ông

đập lưng ông” rất đích đáng của Hồ Chí Minh (dùng chính lý lẽ của đối phương để đập lại

đối phương)

- Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn còn có ý nghĩa Bác đã đặt ba cuộc cách mạng củanhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ

của người Mĩ và người Pháp Điều này bản Tuyên ngôn Độc lập đã nêu rõ ở phần sau:

+ “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nênnước Việt Nam độc lập” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Mĩ

+ “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủng mấy mươi thế kỷ để lập nên nước Việt Namdân chủ cộng hòa” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Pháp

=> Bác coi ba dân tộc ngang bằng nhau vì vậy bản tuyên ngôn cũng có ý nghĩa nhưnhau Như thế niềm tự hào dân tộc được gửi gắm một cách kín đáo

- Từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của người Mĩ, Bác đã suy rộng ra vấn đề quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới

đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

=> Đây là một đóng góp lớn về tư tưởng của Người đối với phong trào giải phóng dântộc trên thế giới sẽ được phát triển mạnh mẽ ở nửa sau của thế kỷ XX

7.2 Phần hai: Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn

a Bác đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với đất nước ta thực chất đây cũng là cuộc tranh luận gầm với những luận điệu của bọn thực dân Pháp

* Pháp kể công “khai hóa” thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã kể tội chúng:

- Về chính trị:

+ Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào

+ Chúng thi hành những luật pháp dã man, chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung,Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, ngăn cản dân tộc ta đoàn kết

+ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng giết những người yêu nướcthương nòi của ta

- Về kinh tế:

+ Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy

+ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu

+ Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng, nhập cảng

+ Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí

+ Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên

+ Chúng bóc lột nhân dân ta một cách vô cùng tàn nhẫn

Trang 9

=> Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp là gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã giếthơn hai triệu đồng bào ta từ Quảng Trị đến Bắc Kì.

* Pháp kể công bảo hộ thì bản tuyên ngôn đã lên án chúng “trong 5 năm chúng đã

bán nước ta hai lần cho Nhật”

* Thực dân Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ:

- “Sự thật là từ mùa thu 1940 nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là

thuộc địa của Pháp nữa”

- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”

* Pháp nhân danh đồng minh tuyên bố đã thắng Nhật vậy chúng có quyền lấy lại

Đông Dương thì bản Tuyên ngôn Độc lập vạch rõ: chúng là kẻ phản bội đồng minh, đã hai lần dâng Đông Dương cho Nhật, bản Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định chỉ có việt minh

(Việt Nam độc lập đồng minh hội) mới thực sự thuộc phe đồng minh vì đã đứng lên đánhNhật giải phóng Đông Dương

* Ngoài ra, bản Tuyên ngôn Độc lập còn lên án tội ác dã man và tư cách đê hèn của

b Tuyên bố:

- Thoát ly hẳn mọi quan hệ với thực dân Pháp

- Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam

- Xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam

Bày tỏ: Quyết tâm chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp Bày tỏ niềm tin với

Đồng minh

=> Tất cả những lý lẽ và bằng chứng trên đã dẫn đến kết luận: “Một dân tộc đã gangóc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồngminh chống phát xít mấy năm nay dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độclập”

7.3 Phần ba: Thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ độc lập tự do đã giành được

- Tiếp tục lời tuyên bố và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độclập và tuyên bố một cách công khai sự thật là đã thành một nước tự do và độc lập”

- Người bày tỏ quyết tâm như một lời kêu gọi: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đemtất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền độc lập và tự do ấy”

8 Nghệ thuật bản tuyên ngôn

* Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực, ngắn gọn, giản dị mà súc

tích, trong sáng mà đanh thép, sắc sảo

- Ngắn gọn, giản dị mà súc tích: thể hiện một nội dung lớn diễn ra trong một thời

gian dài gần một thế kỷ, nhưng tác giả cô đọng lại trong vài ba trang giấy, từ ngữ mà Bác

Trang 10

sử dụng đọc lên là hiểu ngay Đối với những câu dài có cấu trúc phức tạp Bác đã tìm cáchdiễn đạt thật ngắn gọn, các câu ngắn thì lại giàu ý tứ.

- Trong sáng: trong sáng được thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu tuân thủ các nguyên

tắc, chuẩn mực của tiếng Việt Trong sáng về tư tưởng tình cảm, thái độ rõ ràng yêu gétphân minh trên lập trường chính nghĩa

- Đanh thép, sắc sảo: thể hiện tính chiến đấu không khoan nhượng, thái độ dứt khoát,

thể hiện bản lĩnh vững vàng, kiên cường Sắc sảo ở trí tuệ, ở lối lập luận sắc bén

* Bố cục: chặt chẽ sáng rõ, ở mỗi phần đều có luận điểm chính được triển khai bằngcách lập luận độc đáo, lý lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn, cách đặt câu hết sức linhhoạt

* Bút pháp: có sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và cảm xúc khi viết văn nghị luận

Là áng văn chính luận mẫu mực, Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ phong cách nghệ

thuật trong văn chính luận của Bác:

- Lập luận: chặt chẽ, thống nhất từ đầu đến cuối (dựa trên lập trường quyền lợi tối caocủa các dân tộc)

- Lí lẽ: xuất phát từ tình yêu công lí, thái độ tôn trọng sự thật, dựa vào lẽ phải vàchính nghĩa của dân tộc

- Dẫn chứng: xác thực, lấy ra từ sự thật lịch sử

- Ngôn ngữ: đanh thép, hùng hồn, chan chứa tình cảm, cách xưng hô bộc lộ tình cảmgần gũi

- Tình cảm: Lòng yêu nước thương dân nồng nàn, sâu sắc

=> Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vừa có giá trị lịch sử lớn lao, vừa xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” trong thời đại ngày nay.

9 Những ý kiến nhận xét về Tuyên ngôn Độc lập

9.1 Nhà văn Nguyễn Công Hoa n: “Với một nội dung ngắn gọn, súc tích được thểhiện bằng thể văn chính luận mẫu mực, sâu sắc, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo mà vẫn

dung dị, gần gũi, thuyết phục, đi sâu vào lòng người Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí

Minh thực sự là một văn kiện lịch sử vô giá, một bản anh hùng ca cách mạng của dân tộc

ta, đất nước ta”

9.2 Nhà sử học Dương Trung Quốc: “ Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là

tấm giấy khai sinh cho một nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ Cộng hòa và theođuổi mục tiêu Độc lập -Tự do - Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóngnhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lí mang tầm thời đại”

9.3 Giáo sư Trần Trọng Đăng Đàn : “Rất giản dị mà lại rất vững chãi” Giản dị vì

ai cũng hiểu Vững chãi vì không ai bẻ được, vì nó lấy thực tế sôi bỏng của cách mạng làmcốt lõi, vì nó bắt nguồn từ lòng yêu thương kính trọng quần chúng, nhân dân”

9.4 Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh : “Tài nghệ ở đây là đã dàn dựng một lập luận

chặt chẽ, đưa ra những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được Và đằng sau

lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn,trong sáng, khúc triết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh giành độc lập, tự do, vì nhânquyền, dân quyền của dân tộc, nhân loại”

Trang 11

9.5 Trần Dân Tiên: “Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đổ,

bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù,trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường Bản

Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai

mươi triệu nhân dân Việt Nam”

ngôn Độc lập của Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành

độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổimột ý so với bản tuyên ngôn của Th Jefferson Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiểnnhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọidân tộc sinh ra đều bình đẳng” Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”

10 Cảm xúc, tâm tư, tình cảm của Bác Hồ ẩn chứa trong tác phẩm

- “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời là một trong những niềm xúc động, hạnh phúc lớn lao

nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh như có lần Người từng tâm sự.Phía sau những lập luận chặt chẽ, sắc sảo, đanh thép, đầy tính đối thoại, xác định giá trịpháp lí của chủ quyền dân tộc là dòng cảm xúc, tình cảm của người viết Tuyên ngôn Bởi

lẽ những lời tuyên bố trang trọng trên Quảng trường Ba Đình lịch sử hôm nay cho toàn thểdân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới là kết quả bao nhiêu máu đã đổ của các chiến sĩ trênchiến trường, trong trại tập trung, trên máy chém, bao nhiêu tính mạng đồng bào đã hi sinh.Mỗi dòng chữ là chan chứa niềm tự hào khi so sánh cách mạng dân tộc với những cuộccách mạng lớn trên thế giới Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô biên khi đất nước đãđược tự do, độc lập Mỗi dòng chữ cũng là những đau đớn, nhức nhối khi nhìn lại bao rênxiết lầm than của nhân dân trong suốt hơn 80 năm qua dưới ách thống trị của thực dânPháp và phát xít Nhật

- Tuyên ngôn Độc lập kết tinh quyết tâm, ý chí sắt đá của toàn dân tộc, điệp đi nhấn

lại như một lời thề sắt đá: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lựclượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” Và như vậy, sức thuyếtphục của áng văn chính luận đối với người đọc không chỉ ở hệ thống lập luận sắc sảo, mẫumực của nó mà còn ở tình cảm chan chứa, sâu sắc của tác giả

11 Tổng kết

– Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản ngắn gọn, khúc chiết, khẳng định quyền tự do

bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam, có tính chiến đấu cao đập tan luận điệu của kẻthù xâm lược nước ta

– Tuyên ngôn Độc lập thể hiện tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn của tư tưởng yêu nước

và căm thù giặc sâu sắc của Hồ Chí Minh , xứng đáng là một bản hùng văn của dân tộc ta

II CÁC DẠNG ĐỀ LUYỆN TẬP

1 Dạng đề nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Đề 1: Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ

Trang 12

Chí Minh viết :

“Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền

không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng

ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nàocũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng

nói :

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do

và bình đẳng về quyền lợi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh )

Anh (chị) hãy phân tích giá trị nổi bật của đoạn văn trên ở hai phương diện nộidung tư tưởng và nghệ thuật lập luận

Gợi ý làm bài

1 Mở bài

- Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam,đồng thời là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế Cùng với sự nghiệpcách mạng vĩ đại của mình Người còn để lại một sự nghiệp văn học to lớn

- Bản Tuyên ngôn Độc lập vừa là văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, vừa là một áng

văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn đầy sứcthuyết phục Đoạn đầu của bản tuyên ngôn có giá trị nổi bật về tư tưởng và nghệ thuật lậpluận, tiêu biểu cho phong cách chính luận của Người

2 Thân bài

2.1 Khái quát chung

- Hoàn cảnh ra đời bản tuyên ngôn

- Mục đích viết bản tuyên ngôn

- Giá trị bản tuyên ngôn

=> Tham khảo mục 1,2,4 phần I kiến thức cơ bản

2.2 Nội dung phân tích

2.2.1 Phân tích giá trị nội dung tư tưởng

- Đoạn văn đã chỉ ra và khẳng định: quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền đượcsung sướng , quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc là những quyền thiêng liêng củacon người "không ai có thể xâm phạm được” Nhân quyền là cao cả, thiêng liêng bởi lẽ

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

- Nội dung tư tưởng của đoạn văn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập càng trở lên sâu

sắc hơn khi từ những quyền thiêng liêng của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng lênquyền của các dân tộc : “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nàocũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Tư tưởng vĩ đại ấy không chỉ thể

Trang 13

hiện khát vọng về độc lập tự do của nhân dân mà còn phản ánh khát vọng của các dân tộc

bị áp bức, phản ánh xu thế giải phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai Đó là “cốnghiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh ”

Nguyễn Trãi ghi trong Bình Ngô Đại Cáo.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phê phán bản chất phản động của thực dân Pháp đingược lại tư tưởng tiến bộ của tổ tiên họ đã 80 năm qua khi chúng đến cướp nước ta, ápbức đồng bào ta (sẽ được đề cập đến ở phần hai của bản tuyên ngôn)

2.2.2 Phân tích giá trị nghệ thuật

- Tuyên ngôn Độc lập có kết cấu ba phần rất chặt chẽ: định đề - phản đề - tuyên bố

- Ở phần định đề: Hồ Chí Minh trích dẫn hai đoạn văn tiêu biểu nhất nói về nhân

quyền và dân quyền trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 Mĩ và Pháp là hai quốc gia lớn,

nhân quyền và dân quyền là khát vọng của con người, là chân lí có ý nghĩa phổ quát,

“không ai có thể chối cãi được” Cách trích dẫn của Hồ Chí Minh chuẩn mực theo trình tựthời gian (1776 – 1791), trên hai châu lục khác nhau (châu Mĩ và châu Âu), hai quốc gia

khác nhau (nước Mĩ và nước Pháp) Từ quyền thiêng liêng của con người Hồ Chí Minh

“suy rộng ra” nói đến quyền tự quyết của các dân tộc Từ trích dẫn đi đến khẳng định “Đó

là lẽ phải không ai chối cãi được”

=> Cách lập luận rất chặt chẽ, đanh thép, giàu sức thuyết phục khi Hồ Chí Minh đã

dẫn chứng chính xác, từ ý tưởng lời văn hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ và Pháp để

tạo cơ sở pháp lí, dùng lời nói của đối phương để so sánh, phản bác âm mưu và hành độngtrái với công lí của chúng, dùng nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”

- Nghệ thuật trích dẫn của Hồ Chí Minh đã chỉ ra về độc lập tự do của nhân dân ta, cangợi tầm vóc vĩ đại của cuộc cách mạng tháng Tám Người vừa tranh thủ được sự đồngtình ủng hộ của các dân tộc trên thế giới, đồng thời ngầm cảnh báo những âm mưu đen tốicủa thực dân Pháp và bọn đế quốc rằng chúng xâm lược nước ta là chính chúng đã chà đạplên nhân quyền và quyền tự quyết của các dân tộc

- Lập luận của đoạn văn chặt chẽ, đặc sắc Lời văn mạnh mẽ, trong sáng dễ hiểu làmtăng thêm sức thuyết phục bằng lí lẽ của đoạn văn Từ đoạn văn mở đầu - định đề màchuyển sang phản đề, Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt thâm độc của thực dânPháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”trong suốt hơn tám mươi năm trời, gây ra bao nhiêu tội ác ghê tởm về chính trị, về kinh tế.Cách lập luận như thế là chặt chẽ và hùng hồn

3 Kết bài

Trang 14

- Tóm lại, phân tích đoạn văn trên ta thấy được giá trị nổi bật về nội dung tư tưởng vànghệ thuật lập luận khéo léo của Hồ Chí Minh Đây là một trong những đoạn văn chínhluận mẫu mực, ngắn gọn, súc tích, vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị văn chương bềnvững.

- Với những giá trị đó, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định một chân lí lớn về dân tộc

“Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng cảm hứng trang trọng, giọng văn tha thiết hùngtráng Chính Hồ Chí Minh cũng “thấy sung sướng” trong cả cuộc đời viết văn làm báo củamình

Đề 2: Phân tích đoạn cuối bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ chí Minh: “Nước

Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Gợi ý trả lời

1 Mở bài

Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực, là bản khai

sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do của dân

tộc Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố :

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do,độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng vàcủa cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” Đây là một lời tuyên bố đanh thép và hùnghồn, đã kết tinh một cách sáng ngời những tư tưởng nhân văn và khát vọng độc lập, tự docủa dân tộc

2 Thân bài

2.1 Khái quát chung

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, là bản khai sinh

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước, của khát vọng tự

do, hòa bình và tự chủ

- Ngày 2.9.1945, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn này trước hàng chục vạn đồngbào thủ đô, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc

2.2 Nội dung phân tích

a Hồ Chủ Tịch khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng độc lập tự do và độc lập” Khẳng định như vậy vì điều đó phù hợp với đạo lí và pháp lí.

- Đất nước và con người Việt Nam cũng như tất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọingười “đều sinh ra có quyền bình đẳng … có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu

cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mĩ) Mặt khác, “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập” bởi lẽ “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của

Pháp 1791) Cách lập luận mở đầu của Bác bằng cách lấy hai bản tuyên ngôn của Mĩ vàPháp đã tạo ra tiền đề để khẳng định độc lập, tự do của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp vớiquyền bình đẳng quốc tế

- Từ nhân quyền đặt ra trong bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, Hồ Chủ tịch đã “Suyrộng ra”, nói đến quyền tự quyết của mọi dân tộc “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh

Trang 15

ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Lẽ phải

ấy “không ai chối cãi được” và vô cùng thiêng liêng Có thể nói, sau hơn 80 năm bị bọnthực dân Pháp thống trị, lời tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập”bộc lộ niềm tự hào dân tộc và khát vọng độc lập tự do của đất nước và con người ViệtNam

b Cách mạng tháng Tám thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

“và sự thật đã trở thành nước tự do độc lập” Đó là một thực tế lịch sử không ai chối cãi

được

- Hồ Chí Minh đã vạch trần những tội ác dã man về chính trị, về kinh kế của thực dânPháp đối với dân tộc ta trong gần một trăm năm qua Chúng áp bức bóc lột dân ta đến tậnxương tủy “khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta tiêu điều xơ xác” Thực dânPháp đã tước đoạt tự do, dìm dân ta vào máu và nước mắt trong đêm trường nô lệ: “chúnglập ra nhiều nhà tù hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước

thương nòi của ta, chúng tắm những cuộc khởi của ta trong bể máu”…Chúng thủ tiêu mọi

quyền lợi kinh tế của dân tộc “cướp không hầm mỏ, nguyên liệu, độc quyền in giấy bạc,

bóc lột công nhân ta một cách tàn nhẫn” Mang tiếng là bảo hộ ta nhưng thực tế thực dân Pháp chỉ “trong vòng 5 năm 1940 – 1945 chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật” Pháp và

Nhật đã gây ra nạn đói năm ất Dậu 1945 khiến “hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói” KhiNhật đảo chính Pháp, trước khi thua chạy (ngày 9/3/1945) thực dân Pháp “còn nhẫn tâmgiết chết số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”

- Tiếp đến, Người nói lên niềm tự hào mãnh liệt về sự thắng lợi của cuộc cách mạngtháng Tám long trời lở đất đã làm nên lịch sử nước nhà Cách mạng tháng Tám bùng nổ vàthắng lợi, “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” NướcViệt Nam dân chủ cộng hòa ra đời khi ba kẻ thù bị lật đổ, thất bại: “Pháp chạy, Nhật hàng,vua Bảo Đại thoái vị” Chỉ một câu thôi mà Người đã tổng kết được cả một quá trình vươnlên kì vĩ của dân tộc Việt Nam: Ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dân “Pháp chạy” Ta đã đậptan xiềng xích của Nhật “Nhật hàng” Ta đã làm sụp đổ chế độ phong kiến tồn tại hàngngàn đời nay “Vua Bảo Đại thoái vị” Đó là lẽ phải, là sự thật lịch sử không ai chối cãiđược Như vậy, Độc lập và Tự do là thành quả đấu tranh và cách mạng bền bỉ, gan góc, lâudài của dân tộc ta: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, mộtdân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải

được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” Cách lập luận ấy đã làm “đẹp mặt, đẹp lòng”

với các nước Đồng minh, đồng thời cách lập luận đó đã cho ta thấy thái độ nhục nhã củathực dân Pháp khi “phản bội lại Đồng minh” bán nước ta hai lần cho Nhật

- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử, nên Hồ Chí Minhmới tuyên bố một cách đanh thép, hùng hồn: “Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân vớiPháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam” Cách nói “xóa bỏhết”, “xóa bỏ tất cả” là cách nói thể hiện sự dứt khoát chối bỏ sự có mặt của người Pháptrên đất nước ta Từ nay, nước ta là một nước độc lập

c Độc lập tự do là khát vọng, là ý chí của đất nước và con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam

Trang 16

- Lời tuyên bố vang lên như một lời thề thiêng liêng làm chấn động lòng người: “Toànthể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữvững quyền tự do, độc lập ấy” Lời tuyên bố hùng hồn, chắc nịch như một lời thề vangvọng khắp núi sông.

- Cụm từ “toàn thể dân tộc Việt Nam” nói lên sức mạnh đại đoàn kết, triệu triệu conngười Việt Nam kết thành một khối mà không thể một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuấtphục được Các yếu tố như “tinh thần”, “lực lượng”, “tính mạng”, “của cải” “Tự do hay làchết”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành lại nền độc lập!” Quyết tâm

ấy được Hồ Chí Minh tuyên bố đanh thép hùng hồn Triệu triệu con người Việt Nam

“quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độclập ấy”

- Lời tuyên bố của Hồ Chí Minh là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với thực dân Phápđang âm mưu tái chiếm Việt Nam một lần nữa, đồng thời kêu gọi toàn thể dân tộc ViệtNam sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc Ba mươi năm kháng chiếnchống Pháp và Mĩ, nhân dân ta đã thể hiện một cách hùng hồn lời tuyên bố mạnh mẽ ấy.Đó là khát vọng, là ý chí sắt đá về độc lập, tự do của dân tộc ta, của nhân dân ta Một lầnnữa, Người lại tuyên bố “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,

nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19.12.1946).

- Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc ta đã trải qua rất đáng tự hào: Cách

mạng tháng Tám ; chiến thắng Điện Biên oai hùng; Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng,Non sông liền một dải, Bắc Nam sum họp một nhà …Đó là chiến thắng tất yếu của cuộcchiến tranh vệ quốc vĩ đại của một dân tộc Việt Nam bé nhỏ nhưng có sức vươn lên kì vĩ:

“Ta như thuở xưa thần phù ĐồngVụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân Sức nhân dân khỏe như ngựa sắtChí căm hờn rèn thép thành roiLửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”

2.3 Nghệ thuật

- Tuyên ngôn Độc lập có nghệ thuật lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác

thực, giàu sức thuyết phục Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm Giọng văn linh hoạt

Tuyên ngôn Độc lập của Bác đã trở thành một áng văn chính luận mẫu mực nổi tiếng.

Đằng sau đó là một tầm tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh, Người đã tổng kết được mộtcách giản dị mà súc tích những kinh nghiệm đấu tranh của nhiều thế kỷ giành độc lập dântộc, dân quyền, nhân quyền của dân tộc ta và nhân loại

Trang 17

- Đọc đoạn văn cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, chúng ta càng thấm thía tự hào về độc

lập, tự do mà dân tộc ta đã giành được bằng xương máu của bao thế hệ, của bao anh hùngliệt sĩ đã ngã xuống cho chúng ta được tự do như ngày hôm nay

ĐỀ 3: Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.

Gợi ý trả lời

1) Mở bài

- Tác giả: (như đề 1)

- Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực của dân tộc Việt Nam

trong thời đại mới Tác phẩm không chỉ kết tinh tâm hồn Bác, điểm hội tụ những nét đẹptinh tuý của dân tộc, những tình cảm thiết tha và sâu lắng của thời đại mà hơn hết còn tiêubiểu cho phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh nói chung, rất độc đáo và đặc sắc

2) Thân bài

2.1 Phần 1: Hồ Chí Minh đưa ra chân lí của thời đại về quyền con người và quyền độc lập của các dân tộc trên thế giới (Cơ sở pháp lí)

2.1.1 Để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ta là đúng và phù hợp với công

luận quốc tế, mở đầu bản tuyên ngôn ta thấy cách đặt vấn đề của Hồ Chí Minh bất ngờ, độcđáo, thú vị Người không ôn lại những trang sử chói lọi của dân tộc, không dùng những mĩ

từ, những quan điểm riêng tư của bản thân mà lại trích những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1976), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1979): “Người

ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

- Cách trích dẫn cho thấy Bác sắc sảo trí tuệ trong cuộc đối thoại lịch sử

- Cách trích dẫn còn rất chuẩn mực khoa học theo trình tự thời gian, trên cả hai châulục Châu Âu, châu Mĩ, là tiếng nói của những nước hùng mạnh, danh tiếng nhất

- Những lời dẫn ở hai bản tuyên ngôn có sự tương đồng về chiều sâu tư tưởng, đề caoNhân quyền và Dân quyền Đó là thành quả của hai cuộc cách mạng vĩ đại thuộc về người

Mĩ và người Pháp, đánh dấu buổi bình minh mới của nhân loại, lật đổ chế độ phong kiến

và chủ nghĩa thực dân, thiết lập chế độ cộng hòa dân chủ cho con người

2.1.2 Cách viết mở đầu như vậy là khéo léo và kiên quyết

- Khéo léo vì Bác rất trân trọng tư tưởng tiến bộ của người Pháp và người Mĩ Vớicách viết này Người thể hiện thái độ trân trọng đối với kẻ thù

- Kiên quyết vì Tuyên ngôn Độc lập một mặt khẳng định quyền độc lập tự do của dân

tộc Việt Nam dựa trên những chân lí mà người Mĩ, người Pháp đưa ra Đồng thời ngầmcảnh báo nếu thực dân Pháp tấn công Việt Nam một lần nữa thì chính họ đã phản bội lại tổtiên của mình, làm dơ bẩn lá cờ nhân đạo thiêng liêng mà những cuộc cách mạng vĩ đại củadân tộc họ đã giành được

- Cách viết thể hiện lập luận sắc sảo Hồ Chí Minh thực hiện chiến thuật “gậy ông đậplưng ông” vì thế Chế Lan Viên viết: “Những câu tuyên ngôn trích trên kia vừa là quả táođối với chúng ta vừa là quả lựu đạn đối với kẻ thù”

- Trích dẫn lời tuyên ngôn của Pháp và Mĩ, Bác muốn đặt ba bản tuyên ngôn ngangbằng nhau, từ đó gián tiếp khẳng định thành quả to lớn của cuộc cách mạng tháng Tám, thếđứng của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do

Trang 18

- Trong lịch sử cuộc đấu tranh phát triển thuộc địa Bắc Mĩ nhằm thoát khỏi chế độthống trị của thực dân Anh, với cách mạng tháng Tám 1945 Bác nêu rõ: “Dân ta đánh đổxiềng xích thực dân 100 năm nay để gây dựng nước Việt Nam độc lập”.

- Nếu cuộc cách mạng Nhân quyền và Dân quyền ở Pháp mà lật đổ chế độ chuyên chếphong kiến quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa thì với cách lậpluận này, Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng tháng Tám của Việt Nam đã giải quyếtđúng đắn những nhiệm vụ mà cách mạng Pháp, Mĩ đạt được Vì thế nếu người Pháp, Mĩđược độc lập tự do thì lẽ gì điều đó không là hiện thực của người Việt Nam

- Trích dẫn lời tuyên ngôn của Pháp, Mĩ còn thể hiện niềm tự hào dân tộc của Bác,Người nêu rõ thế đứng của dân tộc Việt Nam sánh ngang cường quốc Pháp, Mĩ Điều này

khiến người đọc nhớ tới những câu văn hào hùng trong “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn

Trãi:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lậpCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”

2.1.3 Bác trích dẫn hai bản tuyên ngôn rất sáng tạo linh hoạt thể hiện ở lời suy

rộng ra của Người : “suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đềusinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Từ quyền của con người trong tuyên ngôn của Mĩ, Pháp Bác suy ra thành quyền của

các dân tộc trên thế giới Nhà văn hóa Cu Ba trong cuốn Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới viết: “Cống hiến lớn nhất của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền

lợi con người thành quyền lợi dân tộc Như vậy, tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyếtđịnh lấy vận mệnh của mình” Lời “suy rộng ra” này là đóng góp quan trọng đối với phongtrào phát triển của các nước bị áp bức trên thế giới, nó không chỉ đòi quyền độc lập, tự docho dân tộc Việt Nam mà còn là tiếng súng khởi đầu, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dựbáo thời kỳ bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trêntoàn thế giới vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX

2.1.4 Nhận xét chung

Với lời lẽ giản dị, cách viết cô đọng, lập luận chặt chẽ, hai câu trích dẫn bổ sung chonhau, kết hợp với một lời bình luận sáng tạo đầy chất trí tuệ, cùng câu kết thúc: “Đó là lẽphải không ai chối cãi được” phần mở đầu đã đặt nền móng, cơ sở pháp lí thuyết phục hấpdẫn

2.2 Phần 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn

2.2.1 Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp

- Câu văn mở đầu: “Thế mà hơn 80 năm nay thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do

bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta” chỉ bằng một câu văn chuyển tiếp

mà đã mở ra một nội dung hoàn toàn đối lập với những gì là văn minh nhân đạo mà kẻ thù

nêu ở hai bản tuyên ngôn của chúng Từ câu văn này Bản án chế độ thực dân Pháp từng

được Hồ Chí Minh đưa ra cách đấy hai mươi năm nay lại được tóm tắt và đưa ra trướccông luận thế giới một lần nữa

- Đứng trên lập trường dân tộc nếu Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo trước đây đã

tố cáo tội ác xâm lược của giặc Minh với luận điệu xảo trá “Phù Trần diệt Hồ”:

“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Trang 19

Để trong nước lòng dân oán hậnQuân cuồng minh thừa cơ gây hoạnBọn gian tà bán nước cầu vinh”.

Thì nay bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh cũng đứng trên lập trường dân tộc tố

cáo thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bứcđồng bào ta Đây là hành động phi nhân nghĩa, vô nhân đạo

- Hơn thế, thực dân Pháp tuyên bố với thế giới chúng đến Đông Dương là để khai hóa

và bảo hộ Thực dân Pháp muốn kể công nhưng qua bản tuyên ngôn Bác cho thấy chúng cónhiều tội lớn “trời không dung đất không tha” Đứng trên lập trường nhân bản Hồ Chí

Minh đã tố cáo tội ác man dợ này của thực dân Pháp, với những tội ác về chính trị: “Chúng

tuyệt đối không cho dân ta chút tự do nào Chúng thi hành những luật pháp dã man…Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sáchngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược” Bên cạnh đó

là những tội ác về kinh tế: “Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy Chúng độc quyền in giấybạc, xuất cảng, nhập cảng Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí Chúng không cho cácnhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”

- Nhận xét nghệ thuật lập luận:

+ Sức mạnh của văn chính luận là cách lập luận bởi thế nó thường nghiêng về lí lẽ, lí

trí trở nên khô cứng giáo điều Thế nhưng ở Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã viết

những câu văn có sức thuyết phục cao, lay động mạnh mẽ người đọc Bản cáo trạng về tội

ác của Pháp được thiết lập bằng những lý lẽ, dẫn chứng sát thực, những sự thật mà thựcdân Pháp không thể chối cãi

+ Văn chính luận Hồ Chí Minh còn giàu hình ảnh, sử dụng điệp từ, điệp ngữ hết sứcđiêu luyện tài tình Từ “chúng” được nhắc đi nhắc lại kết hợp với những động từ mạnh

“cướp”, “đâm” … có tác dụng nêu bật tội ác tày trời của quân cướp nước Người đọc nghenhư được xem những thước phim thời sự ghi lại tình cảnh thê thảm của người dân ViệtNam và cũng giúp nhận rõ bộ mặt quỷ dữ của quân cướp nước

+ Câu văn sinh động hiệu quả bởi các thủ pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hóaliên tưởng … đặc biệt câu văn “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu” đượcBác viết tràn đầy xúc động chan chứa xót thương cùng lòng căm thù giặc sâu sắc gợi ngườiđọc liên tưởng tới tội ác một thời của giặc Minh:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

+ Kiểu điệp câu: 14 câu câu nào cũng có chữ “chúng” mở đầu nặng như búa tạ (Chế

Lan Viên) Cách viết làm cho đoạn văn thêm nhức nhối, làm cháy ngọn lửa căm hờn, sứcmạnh cụ thể hóa, hình tượng hóa tội ác của giặc

2.2.2 Hồ Chí Minh hùng biện về quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và khẳng định Pháp không có quyền trở lại Việt Nam

* Pháp không được quay trở lại Đông Dương và Việt Nam

- Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sự thật từ mùa thu 1940 nước ta đã là thuộc địa của Nhật chứkhông phải của Pháp”

Trang 20

- Hơn thế, Pháp là kẻ đớn hèn đi ngược lại thế giới tiến bộ, không đủ tư cách để khaihóa bảo hộ Việt Nam: Quỳ gối đầu hàng mở cửa nước ta rước Nhật, liên kết với Nhật bóclột nhân dân ta gây ra nạn đói khủng khiếp 1945 khiến hơn hai triệu đồng bào ta chết đói;nhiều lần Việt minh kêu gọi Pháp liên minh chống Nhật nhưng chúng đã hèn nhát từ chối,trong năm năm bán nước ta hai lần cho Nhật; thậm chí chúng còn giết tù chính trị của takhi rút chạy.

- Với những lập luận và dẫn chứng xác đáng này, đặt trong bối cảnh thời đại khi Pháptuyên bố với thế giới rằng: Chúng có công “khai hóa” và “bảo hộ” Việt Nam thì nhữngluận chứng ấy có sức mạnh to lớn, trở thành bức rào cản không cho Pháp quay trở lại ViệtNam Đây cũng là lời cảnh tỉnh nhân dân tiến bộ thế giới về bộ mặt xảo trá đê hèn của thựcdân Pháp

* Bác khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ tư cách để độc lập

- Hồ Chí Minh chỉ rõ nếu thực dân Pháp hai lần phản bội đồng minh thì dân tộc ViệtNam anh dũng đứng về phe đồng minh chống phát xít

- Nếu thực dân Pháp đê hèn giết tù chính trị thì dân tộc Việt Nam lại đối xử độ lượngnhân ái Sau biến động 9/3 Việt Minh giúp người Pháp chạy qua biên thùy, cứu nhiềungười Pháp khỏi nhà giam của Nhật, bảo vệ tính mạng tài sản của họ, các từ “đã giúp”,“đãcứu”, “đã bảo vệ” biểu hiện ba tình trạng khốn quẫn của kẻ thù và biểu hiện tấm lòng nhânđạo của người Việt như ông cha ta đã từng đúc kết:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo”

Quan trọng nhất là dân tộc Việt Nam tiến hành cách mạng tháng Tám thành công lật

đổ ba tầng xiếng xích Câu văn “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn ngọn,súc tính nhưng đủ sức diễn tả ách thống trị nghìn năm phong kiến, trăm năm Pháp thuộc vàchế độ phát xít bạo tàn Đây là cách nói hình ảnh sinh động thể hiện sức mạnh vũ bão củacách mạng tháng Tám, thế oai hùng của dân tộc Việt Nam sải những bước dài vào kỷnguyên độc lập, tự do

* Nghệ thuật lập luận:

- Dùng những từ “sự thật”, điệp ngữ “sự thật là” làm tăng tính thuyết phục chân thựcmột mặt phủ nhận quyền của thực dân Pháp đối với Việt Nam, mặt khác buộc công luậnthế giới chấp nhận quyền độc lập tự quyết của Việt Nam

- Hồ Chí Minh sử dụng những ngôn từ giản dị nhưng chọn lọc: “quỳ gối”, “rước” …chỉ rõ bản chất đớn hèn của thực dân Pháp, chặn đứng âm mưu dã tâm của chúng

- Giọng điệu đanh thép sắc sảo mang tầm vóc của một trí tuệ lớn

2.2.3 Lời tuyên bố tuyệt giao với Pháp

- Yêu cầu đồng minh công nhận tư cách độc lập của Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳnvới Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước, mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam

- Những cụm từ: “thoát ly hẳn”; “xóa bỏ hết”; “ xóa bỏ tất cả” … theo chiều tăng tiếnmang nghĩa phủ nhận mạnh mẽ mọi mối quan hệ, ràng buộc nhà Nguyễn bù nhìn đã ký vớiPháp nay không còn giá trị nữa Lời tuyên bố tuyệt giao được Bác viết với giọng điệu dứtkhoát, đó là tiếng nói không khoan nhượng, kiên quyết chống âm mưu của bọn thực dânPháp

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w