VD3: Người tham gia kinh doanh sản xuất, không kinh doanh, sản xuất hàng giả, hàng cấm -Từ những việc làm trên thể hiện công dân tuân theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho nhữngquy
Trang 1MỤC LỤC
Phần 4: Ngày sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng lần đầu 3 Phần 5: Mô tả bản chất của sáng kiến kinh nghiệm 4 – 52
Phần 7: Các điều kiện cần thết để áp dụng sáng kiến 55 Phần 8: Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá
nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có)
55
Phần 9: Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
Phần 10: Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
57 Phần 11: Danh sách các tổ chức, cá nhân tham gia áp dụng sáng kiến
Trang 2Phần 1: LỜI GIỚI THIỆU
Môn Giáo dục công dân là một môn khoa học xã hội, nhằm trang bị cho học sinh kiếnthức cơ bản về pháp luật, kinh tế chính trị - xã hội và các phạm trù đạo đức Có vai trò quantrọng trong việc hình thành các giá trị cơ bản, các kỹ năng, phẩm chất và năng lực mà mỗi côngdân cần phải có
Trên thực tế do sức ép của thi cử và khối lượng lớn kiến thức của các môn học và tư tường còncoi đây là môn phụ trong nhà trường Do vậy môn học ít được quan tâm, chú trọng Năm 2017 lànăm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa môn Giáo dục công dân vào thi trung học phổ thôngQuốc gia với hình thức thi trắc nghiệm khách quan Nội dung thi năm đầu tiên nằm ở toàn bộ ởchương trình lớp 12, hai năm tiếp theo nội dung thi kiến thức lớp 12 (90%), lớp 11 tập trung ở 5bài đầu (10%) Tuy nhiên, vì bộ môn mới đưa vào thi nên ngân hàng câu hỏi còn ít, kinh nghiệm
ôn thi của giáo viên còn hạn chế Việc trao đổi phương pháp ôn thi và xây dựng các chuyên đề
ôn thi chưa được triển khai sâu rộng Các câu hỏi và tình huống đưa vào trong học và ôn thi chỉ
là các tình huống giả thiết, mô phỏng một hoàn cảnh thực tiễn cụ thể, do đó không thu hút được
sự húng thú của người học và độ ghi nhớ kiến thức một cách tốt nhất
Bản thân là giáo viên dạy môn Giáo dục công dân nhiều năm dạy ôn thi, tôi đã rút rađược một số kinh nghiệm về quá trình dạy học, đặc biệt là đối với dạy học về kiến thức phápluật Đối với kiến thức pháp luật vốn dĩ khô khan, một số nội dung dài và khó hiểu, mà bản thângiáo viên lại chỉ thuyết trình hay truyền đạt kiến thức một chiều sẽ làm học sinh chán, gây mệtmỏi trong học Do đó để phát huy sự tích cực của học sinh, năng lực pháp luật cũng như khảnăng hiểu và vận dụng được kiến thức pháp luật vào thực tiễn, tôi đã mạnh dạn làm đề tài dạy
học và ôn thi trung học phổ thông Quốc gia: “Sử dụng các tình huống pháp luật trong dạy bài Thực hiện pháp luật”.
Trong đề thi trung học phổ thông Quốc gia của ba năm vừa qua, phần lớn câu hỏi được
đưa ra ở bài 2 Thực hiện pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân lớp 12 Bởi đây là
phần nội dung quan trọng gắn liền với đời sống thực tiễn pháp luật mà mỗi giáo viên và cả họcsinh cần nắm được Hơn nữa việc sử dụng phương pháp truyền thụ kiến thức theo phương pháptruyền thống, khó nhấn mạnh được nội dung trọng tâm, không mở rộng kiến thức khó liên quanđến bài học Đặc biệt là học sinh không hứng thú với bài dạy
Xu hướng đề của Bộ ra là gộp nhiều vi phạm pháp luật trong một tình huống buộc học sinh phảihiểu và nắm chắc kiến thức mới làm được bài Để giúp học sinh hiểu biết đầy đủ về pháp luật vàvận dụng kiến thức đã học vào giải bài tập trong đề thi đạt kết quả cao, tôi đã nghiên cứu, tìm
hiểu và đã áp dụng nội dung đề tài “Sử dụng tình huống pháp luật trong dạy bài Thực hiện pháp luật”
Trang 3Phần 2: TÊN ĐỀ TÀI
“SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT TRONG DẠY BÀI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT”
Bản thân tác giả
Phần 3: LĨNH VỰC ÁP DỤNG
- Dạy học (môn Giáo dục công dân cho học sinh THPT)
- Vấn đề mà sáng kiến giải quyết: Từ những tình huống vi phạm pháp luật trong thực tiễn, sẽđem lại không khí học tập mới, từ đó nâng cao hứng thú cho học sinh trong việc học Đồng thờinâng cao kỹ năng trả lời câu hỏi trắc nghiệm, khắc phục được các lỗi thường mắc phải Giúp họcsinh vận dụng kiến thức vào việc giải quyết tốt các tình huống thực tiễn, góp phần nâng cao kếtquả học tập cho học sinh
Phầ 4: NGÀY ÁP DỤNG LẦN ĐẦU
Ngày: 10 / 9 / 2017
Trang 4Phần 5: MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
5.1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
a Cơ sở lí luận.
- Để quản lí xã hội, mỗi nhà nước cần phải xây dựng hệ thống quy tắc xử sự chung áp dụng cho
mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội, làm cho mọi hoạt động của cá nhân,
tổ chức diễn ra trong vòng một trật tự ổn định Hệ thống quy tắc xử sự đó là pháp luật
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiệnbằng sức mạnh của nhà nước
- Toàn bộ chương trình giáo dục công dân lớp 12 là kiến thức về pháp luật cơ bản mà mỗi côngdân cần phải biết, hiểu và vận dụng được
- Học về pháp luật vốn dĩ khô khan, khó hiểu, do vậy phương pháp đưa tình huống pháp luậtthực tiễn vào giảng dạy là một trong những cách dạy nhằm tăng hứng thú và hiệu quả cần đạtđược
- Tình huống trong dạy và ôn tập cho học sinh thi trung học phổ thông thường là các tình huốnggiả, mô phỏng thực tiễn chứ chưa áp dụng tình huống thực tiễn (vụ việc pháp luật) vào trong dạy
b Cơ sở thực tiễn
* Thuận lợi:
- Học sinh ngoan có ý thức học, trường có chất lượng đầu vào cao nên khả năng học và nắm bắtnội dung nhanh
- Được nhà trường quan tâm tạo điều kiện để có thời gian ôn tập và giảng dạy cho học sinh
- Nhiều năm thi Trung học phổ thông Quốc gia, môn GDCD của trường đạt điển cao, cụ thể:+ Năm học 2016 – 2017 và năm học 2018 – 2019 đạt điểm cao đứng thư hai của tỉnh
+ Năm học 2018 – 2019 , đạt điểm cao nhất tỉnh
- Đội ngũ giáo viên phụ trách môn có trình độ và kinh nghiệm nhiều năm trong giảng dạy
* Khó khăn:
- Trong phạm vi nhà trường THPT, kiến thức pháp luật truyền dạy cho học sinh chỉ dừng lại ởnhững nội dung kiến thức cơ bản nhất, thiết thực nhất nên không có nhiều các tài liệu hay cácphương tiện hỗ trợ học tập khác
- Nhiều học sinh chưa thực sự đầu tư, chú tâm trong việc học vì còn nghĩ đây chỉ là môn học
“điều kiện” để qua tốt nghiệp
Trang 5- Trình độ chuyên môn của giáo viên không phải là những giáo viên chuyên pháp luật, do vậy
còn khó khăn trong việc giải thích một số kiến thức pháp luật thực tiễn
- Thời gian ôn tập cho thi Trung học phổ thông Quốc gia còn ít, do vậy khó khăn trong việc hệthống các kiến thức trong tâm
5.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Khảo sát học sinh ở lớp 12D1; 12D2; 12D3; 12D4 ở trường THPT Yên Lạc cho thấy %
số học sinh xử lý chưa làm tốt các các câu hỏi trắc nghiệm, các câu hỏi tình huống và các lỗicòn mắc phải như sau:
Giáo viên ở các trường THPT nói chung và trường THPT Yên Lạc nói riêng chưa cónhiều tài liệu tham khảo về pháp luật và tình huống pháp luật
5.3 Nội dung sáng kiến
Đề tài: Sử dụng tình huống pháp luật trong dạy bài Thực hiện pháp luật
Trang 6- Nhà nước ban hành pháp luật để hướng dẫn hành vi, điều chỉnh cách xử sự của mỗi cá nhân, tổ
chức theo quy định của pháp luật, cách thức hoạt động phù hợp với yêu cầu của nhà nước
Các ví dụ
VD1: Khi tham gia giao thông, mọi người đi xe máy, xe đạp, ô tô đều tự giác dừng lại đúng
nơi quy định khi có đèn đỏ, đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, các phương tiện tham gia giao thông
đi đúng làn đường theo quy định
VD2: Cảnh sát giao thông lập biên bản xử phạt người tham gia giao thông vi phạm Việc áp
dụng pháp luật của cảnh sát giao đối với người vi phạm luật giao thông là thực hiện pháp luật
VD3: Người tham gia kinh doanh sản xuất, không kinh doanh, sản xuất hàng giả, hàng cấm
-Từ những việc làm trên thể hiện công dân tuân theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho nhữngquy định đó được thực thi trong đời sống thực tiễn xã hội Điều đó có nghĩa là pháp luật chỉ thực
sự đi vào đời sống nếu mỗi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội cụ thể, tronghoàn cảnh, điều kiện cụ thể đều lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy định của pháp luật
* Kiến thức mở rộng của thực hiện pháp luật
Quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trởthành hành vi hợp pháp của cá nhân, tổ chức Trong đó thực hiện pháp luật là giai đoạn tiếp theosau khi văn bản pháp luật được ban hành và có hiệu lực Nếu như việc xây dựng và ban hànhpháp luật là quá trình đưa đời sống thực tiễn xã hội vào pháp luật, thì việc thực hiện pháp luật làquá trình ngược lại: Đưa pháp luật trở lại đời sống thực tiễn xã hội
Việc công dân sử dụng đúng đắn các quyền của mình làm những gì mà pháp luật cho phép là đã
cụ thể hóa các quyền của mình trong thực tiễn
Trang 7Đối với hình thức sử dụng pháp luật khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác ở chỗ: Chủthể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền pháp luật cho phép theo ý chí củamình.
Các ví dụ.
VD1: Công dân đủ 18 tuổi được phép điều khiển xe máy 50cm3 trở lên
VD2: Công dân nam đủ 20 tuổi, nữ đủ 18 tuổi có quyền được kết hôn
VD3: Công dân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được tham gia kinh doanh
+ Đối với các quyền đó công dân có thể thực hiện hoặc không thực hiện tùy theo theo mongmuốn và ý trí của bản thân
* Thi hành pháp luật
- KN: Là các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật
quy định phải làm Thi hành pháp luật là cá nhân, tổ chức chủ động, tích cực thực hiện nghĩa vụdưới hình thức “hành vi hành động” và cũng là những quy phạm mang tính bắt buộc đối với chủthể phải làm
Các ví dụ.
VD1: Trong đợt tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2019 của huyện Yên Lạc, tại xã Bình Định những
thanh niên nhận được lệnh gọi đã tự giác thực hiện khám sức khỏe sơ tuyển nghĩa vụ quân sự
VD2: Người tham gia giao thông tự giác đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe máy, xe mô tô trên
đường
VD3: Người tham gia kinh doanh nộp thuế đúng kỳ hạn theo quy định của pháp luật.
- Trong các trường hợp trên chủ thể đã thực hiện hình thức thi hành pháp luật Ngược lại chủ thểkhông thực hiện nghĩa vụ pháp luật phải làm theo quy định là không thi hành pháp luật
* Tuân thủ pháp luật
- KN: Các cá nhân, tổ chức không làm những điều pháp luật cấm.
+ Thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, được thể hiện dưới dạng “hành vi không hành động”dưới dạng các quy phạm cấm đoán Tức là những quy định buộc chủ thể không được thực hiệnnhững hành vi, việc làm nhất định
Các ví dụ
VD1: Những người sản xuất, kinh doanh không sản xuất, kinh doanh hàng giả.
VD2: Người tham gia giao thông không lái xe đi ngược đường một chiều, không lái xe khi đã
uống rượu bia Gọi là tuân thủ pháp luật
+ Các chủ thể làm những điều mà pháp luật cấm là không tuân thủ pháp luật.
* Áp dụng pháp luật
- KN: Các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết
định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của cánhân, tổ chức
+ Là một hình thức vừa là thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước vừa là một hình thức thựchiện pháp luật và cũng là một giai đoạn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tổchức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định của pháp luật
+ Là một hình thức mà chỉ các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mớithực hiện
Trang 8Các ví dụ
VD1: Cán bộ tư pháp xã tiến hành làm thủ tục đăng kí kết hôn cho các cặp đôi nam, nữ đủ điều
kiện kết hôn Khi thủ tục kết hôn có hiệu lực thì khi đó quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa vợ vàchồng chính thức được bắt đầu (làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng) Khi vợchồng không còn khả năng chung sống với nhau tòa án tiến hành thủ tục li hôn cho hai vợchồng, khi đó quyền và nghĩa vụ vợ, chồng giữa hai người sẽ chấm dứt
+ Trong trường hợp đó cá nhân, tổ chức chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông quahình thức áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước
VD2: Cảnh sát giao thông lập biên bản xử phạt người vi phạm luật giao thông
VD3: Công an tỉnh ký quyết định cấp giấy phép lái xe cho công dân.
+ Các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức không tự phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi nếukhông có các văn bản, quyết định áp dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tình huống 1: Ngày 21 / 2 / 2019, phát hiện nhóm thanh niên nam, nữ điều khiển xe mô tô trên
đường phố, không đội mũ bảo hiểm, dàn hàng ngang, lạng lách, đánh võng Hai đồng chí cảnhsát Nguyễn Quốc Đạt và Thiếu úy Lê Ngọc Tiến, thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyệnHoa Lư, yêu cầu dừng phương tiện, nhưng nhóm thanh niên không chấp hành và có hành độngbấm còi inh ỏi, rú ga thách thức lực lượng làm nhiệm vụ Nhóm thanh niên này sau đó kéo gaphóng vù vù trên đường Trung úy Đạt và Thiếu úy Tiến xác định, nếu không ngăn chặn kịp thờihành vi của các đối thượng sẽ gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông nên
đã quyết định truy bắt bằng được các đối tượng Truy đuổi khoảng 2km, xe của hai chiến sĩCSGT đã đuổi kịp và dừng 1 mô tô vi phạm, trên xe có 2 thanh niên Lúc này, hai thanh niêntrên xe xuống chống đối người làm nhiệm vụ, đồng thời hô hoán, vu vạ “công an đánh người”
Chiến sĩ Đạt và Tiến đã giữ bình tĩnh, đúng tư thế, lễ tiết, tác phong người Công an nhân dântrong khi thi hành nhiệm vụ Hai thanh niên này sau đó đã kêu nhóm bạn đến, có hành vi chốngđối, thách thức các chiến sĩ CSGT để giải cứu bạn Trước thái độ thách thức chửi bới, vu khốngcủa 2 đối tượng vi phạm cùng nhóm bạn đi cùng, hai chiến sĩ CSGT vẫn cương quyết lập biênbản, tạm giữ phương tiện để xử lý theo quy định của pháp luật
Ngày 24 /2/ 2019, Đại tá Đinh Ngọc Khoa, Phó Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình biểudương, đánh giá cao tinh thần, thái độ ý thức, kiên quyết đấu tranh với hành vi vi phạm phápluật vì sự bình yên, an toàn của người dân của cán bộ chiến sỹ lực lượng CSGT Hoa Lư Thaymặt Giám đốc Công an tỉnh, Đại tá Khoa đã trao giấy khen cho Trung úy Đạt và Thiếu úy Tiến
Câu hỏi:
1 Hành vi vi phạm của nhóm thanh niên đã vi phạm các hình thức pháp luật nào?
2 Việc Cảnh sát giao thông lập biên bản, thu giữ phương tiện đã thực hiện hình thức pháp luậtnào?
3 Với mỗi hành vi vi phạm nhóm thanh niên sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lí như thế nào?
Trả lời
1 Trước hết hành vi vi phạm của nhóm đối tượng được xét ở các lỗi vi phạm như sau:
Trang 9- Hành vi không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển mô tô và khi cảnh sát giao thông yêu cầu dừng
xe còn phóng vù ga bỏ chạy là không thi hành pháp luật ( không thực hiện nghĩa vụ mà công
dân phải làm)
- Các hành vi lạng lách, đánh võng, rú ga thách thức, chửu bới, vu khống lực lượng chức năng là
không tuân thủ pháp luật (làm những điều pháp luật cấm).
2 Phía cảnh sát giao thông:
- Sau khi nhóm thanh niên rú ga bỏ chạy, hai đồng chí đã đuổi theo và kịp thời ngăn chặn Vềgóc độ cá nhân hai đồng chí đã thực hiện nghĩa vụ chủ động làm những gì mà pháp luật quyđịnh phải làm (Thi hành pháp luật)
- Trước thái độ thách thức chửi bới, vu khống của 2 đối tượng vi phạm cùng nhóm bạn đi cùng,hai chiến sĩ CSGT vẫn cương quyết lập biên bản, tạm giữ phương tiện để xử lý theo quy địnhcủa pháp luật Việc cảnh sát giao thông căn cứ quy định của pháp luật tiến hành lập biên bản
người vi phạm phạm là thực hiện hình thức áp dụng pháp luật.
3 Căn cứ theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, đường sắt với hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng
Theo quy định tại Khoản 10 của Điều 6 của Nghị định 46, người điều khiển xe mô tô, xe gắnmáy nếu gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hànhcông vụ khi lạng lách, đánh võng thì có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 14 triệu đồng
Ngoài việc xử phạt tiền, lái xe còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là bị tước quyền
sử dụng Giấy phép lái xe từ 3 tháng đến 5 tháng nếu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần (TheoĐiểm c, Khoản 12, Điều 6)
- Đối với hành vi chửu bới, chống đối, hô hoán vu khống cảnh sát đánh người Căn cứ theo Điều
20, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/1/2013 của Chính phủ Điều luật này xác định: “Hành
vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành côngvụ; có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành côngvụ; xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra,kiểm soát của người thi hành công vụ bị phạt tiền từ 2-3 triệu đồng”
Thi hành pháp luật
Áp dụng pháp luật
Sử dụng pháp luật
Khái niệm Các cá nhân, tổ
chức không làm những điều phápluật cấm
Cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chủ động làm những
gì mà pháp luật quy định phải làm
Các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết định
là các cá nhân, tổchức sử dụng đúng đắn các quyền của mình làm những gì mà pháp luật cho
Trang 10làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thựchiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức.
phép làm
Bản chất
Thực hiện pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng “hành vi không hành động”
Chủ động, tích cực thực hiện pháp luật dưới hình thức “hành
vi hành động”
Là hoạt động thựchiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, là nghĩa vụ mà các
cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩmquyền tiến hành
tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định pháp luật
Mang tính quyền lực nhà nước
Các chủ thể lựa chọn xử sự những điều pháp luật cho phép
Đó có thể là
“hành vi hành động” hoặc
“hành vi không hành động” tùy quy định pháp luật cho phép
Ví dụ
Pháp luật cấm lái
xe sau khi uống rượu, bia Cấm sản xuất, tàng trữ pháo nổ trái phép
Do đó không làm những điều cấm nói trên là tuân thủ pháp luật
Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/
thuế thu nhập doanh nghiệp
Do đó, nếu khôngthuộc trường hợp miễn thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”
Khi A khởi kiện
B ra tòa, tòa án
đó có trách nhiệmxem xét và thụ lý đơn khởi kiện củaA
Theo đó, tòa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật”
Ông Y viết bài tuyên truyền kinh nghiệm phòng chống cháy nổ cho bà con Anh T đủ 18tuổi được điều khiển phương tiện xe máy, xe
mô tô có dung tích 50cm3 trở lên Trong nhữngtrường hợp trên công dân sử dụng pháp luật
Chủ thể thực
Chỉ cá nhân, cán
bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Mọi chủ thể
Hình thức
thể hiện Thường được thể hiện dưới dạng
những quy phạm cấm đoán
Thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc
Tất cả các loại quy phạm vì nhà nước có nghĩa vụ cũng như quyền hạn tổ chức cho
Thường được thểhiện dưới
những quy phạm trao quyền.các quyền của
Trang 11các chủ thể khác thực hiện pháp luật.
Các chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép tùy theo ý chí của mình, phụ thuộc vào sựlựa chọn của mình
- Sơ đồ tư duy các hình thức thực hiện pháp luật:
c Vi phạm pháp luật
* Kiến thức cơ bản
- Vi phạm pháp luật có 3 dấu hiệu cơ bản
Thứ nhất: là hành vi trái pháp luật
- Hành vi trái pháp luật tức là cá nhân, tổ chức xử sự trái với quy định của pháp luật Hành vi
trái pháp luật đó được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động
- Ví dụ về hành vi vi phạm thể hiện bằng hành động là “Lái xe đi ngược đường một chiều”.
- Ví dụ về hành vi vi phạm thể hiện bằng không hành động là “Tội không tố giác tội phạm”.
Thứ hai: Do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
Trang 12Người cú năng lực phỏp lý
đạt đủ độ tuổi nhất đinh
có thể nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình
tự quyết định hành vi của mình độc lập chịu trách nhiệm về hành vi đã làm
Thứ ba: Người vi phạm phỏp luật phải cú lỗi.
Lỗi thể hiện thỏi độ của người biết hành vi của mỡnh là sai, trỏi phỏp luật cú thể gõy hậu quả khụng tốtnhưng vẫn cố ý làm hoặc vụ tỡnh để mặc cho nú xảy ra
- Vớ dụ về lỗi cố ý: cố ý vượt đốn đỏ.
- Vớ dụ về lỗi vụ ý: y tỏ tiờm nhầm thuốc cho bệnh nhõn.
* Kiến thức mở rộng
- Hành vi vi phạm phỏp luật thể hiện bằng khụng hành động
Điều 390 - Bộ luật hỡnh sự 2015 quy đinh về hành vi khụng tố giỏc tội phạm như sau:
“1 Người nào biết rừ một trong cỏc tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đó được thực hiện mà khụng tố giỏc, nếu khụng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thỡ bị phạt cảnh cỏo, phạt cải tạo khụng giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tự từ 06 thỏng đến 03 năm.
2 Người khụng tố giỏc nếu đó cú hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tỏc hại của tội phạm, thỡ cú thể được miễn trỏch nhiệm hỡnh sự hoặc miễn hỡnh phạt.”
Như vậy một hành vi phạm phỏp luật phải được thể hiện ra bằng hành động cụ thể hoặc khụng hànhđộng - khụng làm điều phỏp luật quy định phải làm Trong trường hợp chủ thể mới cú ý định nhưng chưathực hiện ra bằng hành động thỡ khụng bị coi là vi phạm phỏp luật
- Do người cú năng lực trỏch nhiệm phỏp lớ thực hiện
+ Đối với cỏ nhõn năng lực trỏch nhiệm phỏp lý được hiểu là khả năng của người đạt một độ tuổi nhấtđịnh theo quy định của phỏp luật, cú thể nhận thức và điều chỉnh được hành vi của mỡnh, tự quyết địnhcỏch cư xử của mỡnh, do đú phải độc lập chịu trỏch nhiệm về hành vi đó thực hiện
+ Năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự của cỏ nhõn bao gồm năng lực nhận thức hành vi nguy hiểm cho xó hộicủa mỡnh, khả năng điều khiển hành vi đú và khả năng gỏnh lấy hậu quả phỏp lý là trỏch nhiệm hỡnh sự
từ hành vi nguy hiểm gõy ra Như vậy, năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự được hợp thành từ hai yếu tố: Khảnăng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tuổi chịu trỏch nhiệm hỡnh sự
+ Năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự được hỡnh thành trờn hai cơ sở: sự phỏt triển sinh học của cơ thể và đờisống xó hội Bộ luật Hỡnh sự khụng quy định một người như thế nào là thoả món điều kiện về khả năngnhận thức và khả năng điều khiển hành vi mà chỉ đề cập đến trường hợp người mất khả năng nhận thức
và mất khả năng điều khiển hành vi Dấu hiệu để nhận biết một người khụng cú năng lực trỏch nhiệmhỡnh sự ở gúc độ này là: dấu hiệu y học (bệnh lý) và dấu hiệu tõm lý
Điều 13 Bộ luật Hỡnh sự quy định:
“Tỡnh trạng khụng cú năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự
1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xó hội trong khi đang mắc bệnh tõm thần hoặc một bệnh khỏc làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mỡnh, thỡ khụng phải chịu trỏch nhiệm hỡnh sự; đối với người này, phải ỏp dụng biện phỏp bắt buộc chữa bệnh.
Trang 132 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.”
+ Độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lí nhà nước ta quy định như sau:
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, chịu trách nhiệm hànhchính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý,phải chịu trách nhiệm hành chính do cố ý thực hiện vi phạm hành chính
Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà
Bộ luật này có quy định khác.2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,
141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
- Người vi phạm có lỗi - Lỗi thể hiện dưới các hình thức sau:
+ Thứ nhất: Lỗi cố ý trực tiếp; lỗi cố ý trực tiếp được quy định tại Khoản 1 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 “Theo đó người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nếu người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.”
Ví dụ:
Ngày 15/10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã hoàn tất kết luận điềutra vụ anh trai thảm sát gia đình em trai khiến 4 người chết, 1 người bị thương tại huyện Đan Phượng,đồng thời đề nghị truy tố bị can Nguyễn Văn Đông (Sinh năm 1966, trú tại xã Hồng Hà, huyện ĐanPhượng, Hà Nội) tội danh giết người Bị can Đông đã trực tiếp cầm dao chém vào những người nhà ôngHải (em trai ông Đông) làm hai vợ chồng ông Hải, con gái và cháu nội ông Hải chết Con dâu ông Hải bịthương nặng cấp cứu kịp thời nên qua khỏi
Trong tình huống, hành vi vi phạm pháp luật của ông Đông thể hiện động cơ giết người rất rõràng Hành vi vi phạm pháp luật của ông Đông thể hiện lỗi cố ý trực tiếp gây hậu quả đặc biệt nghiêmtrọng
+ Thứ hai: Lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vicủa mình là nguy hiểm cho xã hội thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mongmuốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra
Khoản 2 Điều 10 Bộ luật Hình sự: “2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”
VD: Trong vụ án nữ sinh đi giao gà bị sát hại Đối tượng Nguyễn Thị Thu biết rõ các đối tượng Bùi
Văn Công, Vì Văn Toán, Vương Văn Hùng,… bắt, giam giữ và hãm hiếp nữ sinh Cao Mỹ D Nhưng Thu
đã không ngăn cản hay làm gì đó cứu giúp Cao Mỹ D và hậu quả là D bị chết Việc làm của Thu không
Trang 14trực tiếp gây hậu quả, không mong muốn hậu quả xấu sảy ra nhưng đã để mặc cho nó xảy ra Trong tìnhhuống này Thu có lỗi và là lỗi cố ý gián tiếp.
+ Thứ ba: Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể
gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Khoản 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự:
“2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc
dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”
Về mặt lý chí: người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểmcho xã hội
Về ý chí chủ quan: người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng ra “phải thấy trước và có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.
Ở hình thức lỗi vô ý do cẩu thả, người phạm tội không nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội
do hành vi của mình gây ra Người phạm tội không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả từ hành vicủa mình và cũng không nhận thức được hậu quả xảy ra
VD1: Bảo vệ ngủ quên dẫn đến tài sản của công ty bị mất trộm Người đi ngang qua rừng vứt tàn thuốc
lá làm cháy rừng Người phạm tội có thể nhận thức khả năng gây ra hậu quả từ hành vi của mình nhưngkhông nhận thức được hậu quả xảy ra
VD2: Một người băng ngang đường một cách vô thức (không nhìn trước nhìn sau) làm cho hai xe chạy
ngược chiều nhau vì tránh người này mà xảy ra tai nạn làm hai người lái xe tử vong
Lỗi vô ý do cẩu thả còn được xác định với điều kiện là người phạm tội “phải thấy trước” và “có thể thấytrước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra “Phải thấy trước” ở đây là quy định của pháp luật buộc
họ khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đó bắt buộc phải thấy hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội “Cóthể thấy trước” có thể hiều là với độ tuổi, năng lực trách nhiệm pháp lý, trình độ văn hoá, khả năngchuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức xã hội,…của một người bình thường, thì người thựchiện hành vi có thể thấy trước hậu quả của hành vi đó
+ Thứ tư: Lỗi vô ý do quá tự tin.
Khoản 1 Điều 11 Bộ luật Hình sự Lỗi vô ý do quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trướchành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy rahoặc có thể ngăn ngừa được
Dấu hiệu của lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin
Về lí trí: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình,thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra
Tuy nhiên, lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin và lỗi cố ý có sự giống nhau một cách tương đối bởi ngườiphạm tội ở trường hợp vô ý vì quá tự tin thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra nhưngđồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra Như vậy, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội ởđây thực chất chỉ là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội
đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Đối với người phạm tội ở trường hợp vô ý vì quá tự tin khả nănghậu quả xảy ra và khả năng hậu quả không xảy ra đều là khả năng thực tế nhưng người phạm tội tin vàokhả năng hậu quả không xảy ra khi quyết định xử sự
Chính sự tin tưởng này thể hiện người phạm tội đã không nhận thức được một cách đầy đủ tính chấtnguy hiểm cho xã hội của hành vi
Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xãhội Sự không mong muốn này có điểm khác so với sự không mong muốn ở trường hợp cố ý gián tiếp
Trang 15Nếu trường hợp cố ý gián tiếp người phạm tội không mong muốn nhưng đã chấp nhận khả năng hậu quảxảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi thì ở trường hợp lỗi vô ý vì quá tự tin, sự không mong muốnhậu quả của người phạm tội gắn liền với việc người đó đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Người phạmtội với lỗi vô ý vì quá tự tin đã cân nhắc, tính toán và đã cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thểngăn ngừa được Sự cân nhắc, tính toán này có thể dựa vào những căn cứ như tin tưởng vào sự khéo léo,
sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kĩ thuật của mình hoặc tin vào những tình tiết kháchquan bên ngoài khác
VD1: Người lái xe tin rằng mình sẽ vượt qua được đường sắt trước khi tàu đến, và vội vàng cố gắng
vượt nên bị mắc bánh xe vào đường ray
VD2: Người thợ săn tin rằng mình sẽ bắn trúng con thú, không để mũi tên lạc vào người nhưng cuối
cùng mũi tên không trúng vào đích mà lại trúng vào người và gây thương tích… Sự tin tưởng này củangười phạm tội tuy có căn cứ nhưng những căn cứ đó đều không vững chắc Người phạm tội đã đánh giákhông đúng tình hình thực tế Sự tin tưởng của họ là sự tin tưởng quá mức so với thực tế
Từ những dấu hiệu được phân tích trên đây, có thể rút ra kết luận: Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
d Trách nhiệm pháp lý
- Trách nhiệm pháp lý được hiểu là những nghĩa vụ pháp lý được đề cập đến trong một quan hệ phápluật được phát sinh
VD1: Anh A vay tiền của bà B số tiền là 200.000.000 đồng, như vậy khi xác lập giao dịch vay tiền anh
A đã có trách nhiệm dân sự là phải trả tiền cho bà B với thời hạn do hai bên thoả thuận
- KN: Trách nhiệm pháp lí là việc chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được quy định
trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý theo nghĩanày khi họ vi phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luậtquy định
- Trách nhiệm pháp lý được thể hiện trong sơ đồ tư duy sau:
- Từ đó giáo dục ở họ ý thức tôn trọng pháp luật, củng cố niềm tin tính nghiêm minh của phápluật, khuyến khích mọi người tích cực đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật
Trang 16- Mỗi hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử phạt một lần ở tại thời điểm vi phạm (vi phạm nhiềulần thì bị phạt nhiều lần) và có thể phải chịu nhiều trách nhiệm pháp lí về một hành vi vi phạm.
VD2: Hành vi vượt đèn đỏ sẽ bị xử phạt hành chính, nếu đâm vào người khác làm họ bị
thương thì phạt thêm hình phạt dân sự đó là bồi thường
- Ngay sau khi vi phạm đã bị lập biên bản xử phạt mà tiếp tục vi phạm mới thì sẽ áp dụng hìnhthức xử phạt mới cộng lại
Tình huống 2: Cảnh sát giao thông phạt hai bố con bạn A vì cả hai đều lái xe máy đi ngược
đường một chiều Bố bạn A không chịu nộp phạt vì lí do ông không nhận ra biển báo đường mộtchiều, bạn A mới 16 tuổi, còn nhỏ, chỉ biết đi theo ông nên không đáng bị phạt
Câu hỏi:
1 Lí do mà bố bạn A đưa ra có xác đáng không?
2 Cảnh sát giao thông phạt cả hai bố con bạn A có đúng không?
3 Bạn A có phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình không?
4 Họ chưa gây ra tai nạn gì, vậy cảnh sát căn cứ vào đâu để phạt tiền họ?
Trả lời
1 Bạn A mới 16 tuổi chưa đủ tuổi được điều khiển xe máy
Hành vi lái xe máy đi ngược đường một chiều được quy định tại Điểm i khoản 4 Điều 6 Nghịđịnh 46/2016/NĐ – CP
“Phạt tiền từ 300 - 400 nghìn đồng với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và xe gắn máy: Nếu đi ngược chiều trên đường một chiều và
đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều".
- Như vậy căn cứ quy định của Nghị định 46 của Chính phủ thì hành vi lái xe máy đi ngược
đường một chiều của hai bố con bạn A là hành vi vi phạm pháp luật và được thể hiện bằng hành động cụ thể
- Lỗi vi phạm của hai bố con bạn A là lỗi vi phạm do cố ý Do vậy lí do mà bố bạn A đưa ra làkhông xác đáng ⇒ Cảnh sát giao thông phạt hai bố con bạn A là đúng theo quy định của phápluật
2 Người đủ từ 14 đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm hành chính do cố ý.Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra
Do đó bạn A đủ 16 tuổi và phải chịu trách nhiệm pháp lí về hành vi vi phạm hành chính do mìnhgây ra
3 Hành vi đi ngược đường một chiều của hai bố con chưa gây ra tai nạn nhưng đó là hành vi viphạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước, phải chấp hành nghiêm chỉnhquyết định xử phạt hành chính của cảnh sát giao thông
Cụ thể là họ phải gánh chịu thiệt hại về vật chất, nộp tiền phạt
Việc cảnh sát lập biên bản xử phạt kịp thời, đã chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật ngăn chặnkhông để họ tiếp tục vi phạm hoặc gây tai nạn
Trang 17Cảnh sát căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định xử phạt đối người có hành vi viphạm.
Tình huống 3: Ngày 20/ 5 2018, chị Th trên đường đón con đi học về, chị nhìn gương hậu thấy
cảnh sát giao thông phía sau Lúc ấy chị Th không đội mũ bảo hiểm Do đường đông và tắc nênkhi chị Th chạy xe được 1 km và đến điểm dừng chị Th xuống xe (trong thời gian trước khixuống xe, chị Th vừa đi vừa với mũ bảo hiểm và đội lên đầu) Khi xuống xe có nhiều người dânnhìn thấy chị Th có đội mũ bình thường Khoảng 3 phút sau, cảnh sát giao thông đuổi theo mớiđến được chỗ chị Th Khi ấy chị Th lại cởi mũ, tháo quai bỏ xuống xe rồi
Câu hỏi:
1 Trường hợp chị Th có bị coi là vi phạm pháp luật không?
2 Cảnh sát giao thông có được phép bắt và lập biên bản chị Th không?
3 Chị Th chưa gây ra tai nạn gì, cảnh sát giao thông nhân danh ai và căn cứ vào đâu để phạt tiềnchị?
Trả lời
1 Tại thời điểm chị Th điều khiển xe máy là không đội mũ bảo hiểm, đã bị công an giao thôngphát hiện Do vậy, dù sau đó, tại thời điểm công an dừng xe để xử lý, chị đã đội mũ bảo hiểm thìchị vẫn bị xử phạt về hành vi không đội mũ bảo hiểm trước đó Pháp luật giao thông quy địnhngười tham giao thông khi đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm, đây là quy định bắt buộc cho tất cảmọi người ai cũng phải thực hiện Trong tình huống chị Th không đội mũ bảo hiểm ngay từ khibắt đầu điều khiển xe, mà chỉ khi gặp công an giao thông mới đội mũ bảo hiểm
2 Vì vậy, trong trường hợp này, cảnh sát giao thông hoàn toàn có quyền bắt và lập biên bản xửphạt vi phạm hành chính đối với chị Th
3 Mặc dù chị Th chưa gây ra tai nạn gì nhưng cảnh sát giao thông nhân danh pháp luật, căn cứvào quy định của pháp luật để xử phạt hành chính đối với hành vi không đội mũ bảo hiểm khi
đi xe máy
Tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP như sau:
“Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô
tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm hoặc đội muc không cài quai, cài quai không đúng cách.”
Trang 18nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó
và mong muốn hậu
quả xảy ra
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưngvẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Lỗi vô ý do quá
tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được
xã hội
Phải thấy trước hậu quả nhưng lại không thấy trước được hậu quả đó
Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả nguy hạicho xã hội mà hành vi của mình có thể gây
ra Nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra
ra, tuy nhiên để thực hiện mục đíchnày, người phạm tội để mặc hậu quả nguy hiểm cho
xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra
Người phạm tội khi thực hiện hành
vi đáng ra phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội sẽ xảy ra
Người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin đã cânnhắc, tính toán
và đã cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được
Trang 19Ví dụ
Nguyễn Viết Quyết, sinh năm
1994, tại thành phốVinh , tỉnh Nghệ
An đã bóp cổ người vợ sắp cưới của mình là chị
Ng T Ph T cho đến chết Lý do, Quyết xem được tin nhắn với lời lẽ ngọt ngào từ một thanh niên tên D nhắn đến điện thoại của vợ mình
Anh B thợ trở tôn lợp nhà, do vô tình
đã để tấm tôn quyệt vào cháu bé
T đang đi xe đạp
Hậu quả là cháu T
bị tôn cứa vào cổ đứt mạnh máu dẫn đến tử vong Trongtrường hợp trên lỗi
cố ý gián tiếp
Anh A là kế toán doanh nghiệp, khi nhập dữ liệu, anh
A đã sơ ý bỏ sót một số 0 trong số tiền cần chuyển cho đối tác, hành
vi của anh A đã khiến công ty thiệt hại về tài sản
Chị H bán sữa
đã hết hạn sử dụng cho người dùng, chị nghĩ rằng sữa mới hếthạn một vài ngày uống sẽ không ảnh hưởng gì Nhưng
sự tự tin, sự tính toán của chị H vượt quá thực tế
đã dẫn đến người sử dụng sữa bị ngộ độc, ảnh hưởng sức khỏe
e Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
Trên thực tế, các loại vi phạm pháp luật xảy ra khá đa dạng Căn cứ vào đối tượng bị xâm phạm,mức độ và tính chất nguy hiểm do hành vi gây ra cho xã hội, vi phạm pháp luật được chia thànhbốn loại vi phạm pháp luật và tương ứng với mỗi loại vi phạm là loại trách nhiệm pháp lí
* Vi phạm hình sự
Kiến thức cơ bản
- KN: Vi phạm hình sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm được quy định tại bộ
luật hình sự
- Tính chất: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
- Hành vi phạm tội được coi là tội phạm khi có đủ các dấu hiệu vi phạm và bị truy tố tráchnhiệm hình sự
Kiến thức mở rộng
+ Tội phạm: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong bộ luật hình sự
+ Phạm tội: Là một người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng có phải là tội phạm haykhông thì cần phải căn cứ vào độ tuổi và năng lực trách nhiệm pháp lí Giả sử cháu B phạm tộigiết người khi mới 13 tuổi, không thể trở thành tội phạm mặc dù đó là hành vi phạm tội (tội giếtngười)
- Tội phạm chia làm 4 loại:
Tội phạm ít nghiêm trọng: Là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội
VD1: Tội giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng, … trái pháp luật “Quy định
tại Điểm a, khoản 1 Điều 176 – Bộ luật Hình sự”.
VD2: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp “Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 171
Bộ luật Hình sự” Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến ba năm tù.
Tội phạm nghiêm trọng: Là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội
Trang 20VD1: Tội mua bán phụ nữ “Quy định tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Hình sự”
VD2: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản “ Quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự”.
VD3: Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em “Quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ
luật Hình sự”… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến bảy năm tù.
Tội phạm rất nghiêm trọng: Là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội
VD1: Tội vô ý làm chết người “Quy định tại khoản 2 Điều 98 Bộ luật Hình sự”
VD2: Tội hiếp dâm “Quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật Hình sự”,
VD3: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
“Quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự”… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với
loại tội này là đến mười lăm năm tù
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội.
VD1: Tội giết người “Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự”.
VD2: Tội cướp tài sản “Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự”.
VD3: Tội cố ý lây truyền HIV cho người khác “Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 Bộluật
Hình sự”… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là trên mười lăm năm tù, tù
chung thân hoặc tử hình
- Trách nhiệm hình sự: Người vi phạm hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự như: Tử hình, tùtrung thân, tù không giam giữ, phạt tiền, Ngoài ra các chủ thể vi phạm còn phải chịu nhữnghình phạt bổ sung nếu có
- Việc áp dụng trách nhiệm hình sự dựa trên một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Nguyên tắc pháp chế: Chỉ có Bộ luật Hình sự mới có thể quy định hành vi nào là tội
phạm và hình phạt tương ứng “ chỉ người nào phạm tội được quy định trong bộ luật Hình sựmới phải chịu trách nhiệm hình sự”
+ Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật thể hiện ở việc xử lý không
trừ ai, không phân biệt địa vị xã hội hễ phạm tội thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân: chỉ truy cứu trách nhiệm cá nhân chứ không truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với một tập thể hay pháp nhân
Thể hiện rất rõ trong chế định “đồng phạm” với việc xem xét vai trò, trách nhiệm của nhữngngười đồng phạm
+ Nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi: hiểu là lỗi cố ý sẽ nặng hơn lỗi
vô ý Và hành vi không có lỗi thì không phải là tội phạm Ví dụ làm chết người trong trường hợpphòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ
+ Nguyên tắc nhân đạo: Áp dụng hình phạt với trẻ vị thành niên, phụ nữ mang thai, nuôi
con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, người thành khẩn
Tình huống 4: Sáng 9-10 - 2028, Công an quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đã bắt nhóm
thanh thiếu niên gồm 8 đối tượng là hung thủ gây án, chém người trọng thương gồm: NguyễnNgọc Hoàng, sinh năm 2001; Phạm Quốc Huy, sinh năm 2001; Bùi Quang Trực, sinh năm 2004;Nguyễn Huỳnh Đức Việt, sinh năm 2001; Nguyễn Thanh Hoài Minh; Nguyễn Văn Quân, sinhnăm 2003; Tôn Thất Hưng sinh năm 2003; Hồ Quang Minh, sinh năm 2003
Nạn nhân được xác định là Nguyễn Minh Trí sinh năm 2003, trú đường Lê Độ, thành phố ĐàNẵng bị chém nhập viện, đa chấn thương
Trang 21Cả nhóm khi đang ngồi chơi trước cổng công an Phường Hải Châu II thì bị nhóm Dương TiếnTài đuổi đánh nhưng bỏ chạy được
Sau đó Thất Hưng và Quang Minh gọi điện thoại cho Phạm Quốc Huy để kể về sự việc trên vànhờ Huy cùng bạn bè đến đánh trả thù Lúc này, Huy đang ngồi chơi với Ngọc Hoàng, VănQuân, Quang Trực, Đức Việt Cả nhóm nhất trí rồi đến khu vực đường 60 phường Hòa Minh,quận Liên Chiểu để lấy kiếm Nhật, mác, mã tấu,… được cất giấu sẵn Khoảng 23 giờ 30 cùngngày, nhóm của Huy và Hoàng điều khiển xe máy mang theo hung khí, gặp nhóm của Tài tạiđường Ích Khiêm gồm 6 người, trong đó có Nguyễn Minh Trí
Cả hai nhóm lập tức xuống xe chém nhau một lúc thì nhóm của Tài lên xe bỏ chạy, riêng Tríchạy không kịp nên bị bỏ lại Lúc này, Hoàng và Huy cầm theo kiếm, mã tấu đuổi theo, chémtrúng chân và lưng của Trí
Khi thấy Trí đã nằm sấp trước cửa nhà số 248 Ích Khiêm, Hoàng tiếp tục dùng kiếm Nhật đứngbên cạnh chém nhiều nhát và đâm 1 nhát vào bụng Trí Huy cũng dùng mác chém thẳng vào đầulàm vỡ mũ bảo hiểm Trí đang mang
Thấy Trí nằm bất động và ra máu nhiều, Huy và Hoàng lên xe của đồng bọn đang đứng chờ sẵn
bỏ chạy Xong việc Hoàng mang số hung khí đến vứt tại bãi đá dưới chân cầu Thuận Phước,thành phố Đà Nẵng
Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận Thanh Khê cho biết nạn nhân bị chấn thương phức tạp, vỡxương sọ vùng đầu, đồng thời có nhiều vết đâm, chém tại khuỷu tay, bụng, đầu gối, cổ chân.Câu hỏi:
1 Hành vi của hai nhóm trên vi phạm pháp luật nào?
2 Những ai phải chịu trách nhiệm pháp lí?
Trả lời
1 Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau
“1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm (Trích Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Trang 22Như vậy với hành vi sử dụng hung khí truy sát người gây thương tích nặng, tính chất có
tổ chức phải chịu trách nhiệm hình sự
2 Thời điểm gây ra vụ việc các đối tượng:
Hoàng, Huy, Việt đều 17 tuổi
Quân, Hưng, Quang Minh đều 15 tuổi
Hoài Minh, Trực đều 16 tuổi
Theo quy định của bộ Luật hình sự về độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí
Điều 12 Bộ luật Hình sự: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
“2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây (Trích điều 12 Bộ luật Hình sự)”.
Như vậy theo quy định của Bộ luật Hình sự, các đối tượng kể trên đều đủ tuổi phải chịutrách nhiệm pháp lí hình sự
Tuy nhiên tại thời điểm vi phạm các đối tượng đều chưa đủ tuổi 18 tuổi Việc xử lí ngườichưa thành niên phạm tội được áp dụng theo nguyên tắc lấy giáo dục là chính nhằm giúp họ sửachữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
* Tích hợp kiến thức phòng chống tham nhũng
- Tham nhũng là gì? Là hành vi trái đạo đức, trái pháp luật gây ra những hậu quả hết sức
nghiêm trọng Để phòng chống tham nhũng, Nhà nước ta cần đưa ra những biện pháp mang tính đồng bộ và những văn bản quy định rõ ràng hơn về vấn đề này Những văn bản này cần chỉ
rõ những dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng để từ đó có căn cứ xác định một cách cụ thể, rõ ràng từ đó giải quyết các vụ án tham nhũng một cách tốt nhất.
- Nguyên nhân: Một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tham nhũng là nhu cầu về lợi
ích Khi lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức có quyền thì khả năng phátsinh hành vi tham nhũng là rất lớn
- Ví dụ: Một trong những vụ án tham nhũng nghiêm trọng nhất trong thời gian gần đây là vụ án
của Trịnh Xuân Thanh và Đinh La Thăng Theo kết quả điều tra, Trịnh Xuân Thanh cùng cấpdưới đã thống nhất đề ra chủ trương và chỉ đạo Lương Văn Hòa (nguyên Trưởng ban điều hành
dự án Vũng Áng- Quảng Trạch) lập khống hồ sơ, chứng từ thi công 4 hạng mục phục vụ thicông dự án để chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng do PVC có trách nhiệm quản lý Hành vi này có dấuhiệu tham nhũng hết sức rõ ràng, họ lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản và vụlợi cho bản thân
Đây là một vụ án tham nhũng vô cùng nghiêm trọng và điển hình gây thiệt hại nặng nềcho nền kinh tế của đất nước, làm mất lòng tin của dân chúng đối với cán bộ nhà nước
- Biểu hiện của tham nhũng
Theo Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, hành vi tham nhũng có nhữngbiểu hiện sau:
+ Tham ô tài sản
+ Nhận hối lộ
+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Trang 23+ Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
+ Giả mạo trong công tác vì vụ lợi
+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyếtcông việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi
+ Nhũng nhiễu vì vụ lợi
+ Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi;cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử,thi hành án vì vụ lợi
- Trong những hành vi tham nhũng nêu trên, có rất nhiều hành vi đã được quy định trong Bộ luậthình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2010), bao gồmnhư: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ,công vụ vì vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Tác hại của tham nhũng
+ Về chính trị: Có thể khẳng định tham nhũng chính là trở lực vô cùng lớn đối với quá trình đổimới đất nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, ngăn cản đất nướctiến lên chủ nghĩa xã hội Không có gì đáng sợ hơn sự mất lòng tin từ dân chúng, một đất nướcchỉ có thể phát triển, có thể trở nên giàu mạnh khi có sự chung tay góp sức của toàn thể dân tộc.+ Về kinh tế: Trong những năm vừa qua, tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội và gây ra nhiều hậu quả không mong muốn Đặc biệt, tác của tham nhũng trong vấn
đề kinh tế là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi này gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiềnbạc, công sức và thời gian của nhân dân Làm chậm nhịp độ phát triển kinh tế, phát vỡ nhữngchiến lược cũng như những kế hoạch phát triển, gây thiệt hại to lớn về vật chất cho cả nhà nước
+ Hậu quả về văn hóa, xã hội: Tham nhũng là tác nhân làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội,làm phá hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Không những thế, tham nhũng gây ranghèo khổ cho một bộ phận không nhỏ những người lao động chân chính, làm tha hóa biến chất
bộ máy quan chức trong lĩnh vực công
Tình huống 5: Vụ án Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm, phạm tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “Tham ô tài sản” xảy ra tại Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam – PVC và Công ty Cổ phần Bất động sản Điện lực dầu khí Việt Nam – PVP Land.
Cùng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đinh La Thăng, bị cáo Trịnh Xuân Thanh, nguyên
Trang 24Chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng Giám đốc Công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PVC) và đồng phạm đã
có hành vi “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và
“tham ô tài sản”, xảy ra tại PVC và Công ty cổ phần Bất động sản Điện lực dầu khí Việt Nam (PVPland) Cụ thể, Trịnh Xuân Thanh đã chỉ đạo cấp dưới ký hợp đồng trái phép, để nhận tạm ứng tiền
từ PVN và sử dụng hơn 1.115 tỷ đồng trong số tiền tạm ứng này vào mục đích khác, không đưa vào Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền gần 120 tỷ đồng Ngoài ra, Trịnh Xuân Thanh đã chỉ đạo lập khống hồ sơ, rút 13 tỷ đồng từ Ban điều hành Dự án Vũng Áng – Quảng Trạch để chia nhau sử dụng cá nhân
Tại Công ty cổ phần Xuyên Thái Bình Dương, nhưng Trịnh Xuân Thanh cùng đồng phạm đã thôngđồng với các đối tượng liên quan, ký và thanh toán hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của PVP landtại Công ty Xuyên Thái Bình Dương thấp hơn mức gía đã thỏa thuận đặt cọc, tạo chênh lệch cổ phần trị giá 87 tỷ đồng (trong đó có tài sản Nhà nước) Giá trị tài sản các đối tượng chiếm đoạt là
49 tỷ đồng, trong đó Trịnh Xuân Thanh đã chiếm đoạt 14 tỷ đồng
Tháng 01/2018, TAND Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm đã tuyên phạt Trịnh Xuân Thanh 14 năm
tù về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, tù chung thân về tội “Tham ô tài sản”, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội, bị cáo Trịnh Xuân Thanh phải chấp hành hình phạt là tù chung thân (Trách nhiệm hình sự)
Về trách nhiệm dân sự, HĐXX TAND Thành phố Hà Nội tuyên buộc các bị cáo phải liên dới bồi thường số tiền thất thoát; riêng Trịnh Xuân Thanh phải bồi thường số tiền gần 35 tỷ đồng; kiến nghị cơ quan chức năng tiếp tục duy trì lệnh kê biên tài sản, bao gồm: Biệt thự, căn hộ, và phong tỏa tài khoản, sổ tiết kiệm của vợ chồng Trịnh Xuân Thanh để đảm bảo thi hành bản án (Trách nhiệm dân sự)
* Vi phạm hành chính
- Kiến thức cơ bản
+ KN: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản
lý nhà nước
+ Tính chất: Nguy hiểm cho xã hội nhưng thấp hơn tội phạm
VD1: Sản xuất hàng giả là vi phạm hành chính nhưng với số lượng lới có giá trị bằng 30 triệu
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã vi phạm nhiều lần thì truy cứu hình sự
VD2: Người điều khiển phương tiện giao thông sau khi uống rượu bia vi phạm hành chính,
nhưng hành vi đó gây tai nạn chết người hoặc tổn hại sức khỏe của người đó là vi phạm hình sự+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 điều khiển xe có giới, xe máy điện, phạt cảnh cáo
+ Người đủ 16 đến dưới 18 điều khiển xe trên 50cm3 phạt 60 đến 80 nghìn (bằng ½ số tiền phạtngười vi phạm từ 18 tuổi trở lên)
+ Người vi pham hành chính phải chịu trách nhiệm hành chính:
+ Trách nhiệm pháp lí:
+ Người đủ 14 đến dưới 16 phải chịu trách nhiệm hành chính về hành vi vi phạm do cố ý
+ Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra
- Kiến thức mở rộng: Các hình thức xử phạt hành chính:
Trang 25+ Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặcđình chỉ hoạt động có thời hạn
+ Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính + Nguyên tắc áp dụng các hình thức xử phạt hành chính như sau:
+ Cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính
+ Tước giấy phép, tịch thu tang vật và trục xuất có thể là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức
Tình huống 6: Công an thành phố Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) cho biết, đêm 15/10 và sáng ngày16/10, lực lượng Công an thành phố cùng các đơn vị nghiệp vụ đã tổ chức ngăn chặn việc đua xetrái phép; đồng thời bao vây, truy bắt trên 20 đối tượng đua xe máy với tốc độ cao, nẹt pô, lạnglách đánh võng, bấm còi inh ỏi, … tại thành phố Vĩnh Yên
Theo đó, vụ việc xảy ra ngay sau trận đấu giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Indonesia tạiVòng loại thứ hai World Cup 2022 khu vực châu Á
Trước tình hình trên, Công an thành phố Vĩnh Yên cùng các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh VĩnhPhúc đã bố trí thành nhiều nhóm, tổ công tác, tổ chức bao vây theo kế hoạch
Đến 23h30’ cùng ngày, lực lượng chức năng đã bắt giữ trên 20 đối tượng đua xe máy trái phép;thu giữ 20 phương tiện đưa về trụ sở để điều tra, xử lý, đảm bảo giao thông an toàn trên địa bànthành phố Vĩnh Yên
Câu hỏi:
1 Hành vi đua xe trái phép của nhóm đối tượng vi phạm pháp luật nào?
2 Nhóm đối tượng phải chịu những trách nhiệm pháp lí cụ thể nào?
Trang 26Trả lời
1 Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008 nghiêm cấm các hành vi:
6 Đua xe, cổ vũ đua xe, đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng
Như vậy, người tham gia giao thông không được đua xe, cổ vũ đua xe, tổ chức đua xe trái phép
2 Xử phạt hành chính hành vi đua xe trái phép:
Trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo điều 34, Nghị định 46/2016/NĐ - CP
Điều 34 Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép
1 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sauđây:
a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánhvõng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;
b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua tráiphép trên đường giao thông
2 Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xemáy điện trái phép
3 Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép
4 Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm còn bị ápdụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu phương tiện (trừ súc vậtkéo, cưỡi);
b) Thực hiện hành vi quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phéplái xe từ 03 tháng đến 05 tháng và tịch thu phương tiện
Như vậy: Theo quy định của pháp luật, người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện bị phạttiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng
Ngoài việc bị phạt tiền với lỗi đua xe trái phép, người tham gia đua xe trái phép còn bị tướcquyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 3 tháng đến 5 tháng và tịch thu phương tiện
Bên cạnh đó, người tham gia đua xe trai phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội
"Đua xe trái phép" và tội "tội tổ chức đua xe trái phép" của Bộ luật hình sự 2015 nếu hành vitrên đủ điều kiện để cấu thành các tội theo quy định
* Vi phạm dân sự
- Kiến thức cơ bản
+ KN: Là hành vi xâm phạm vào quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ
hợp đồng), quan hệ nhân thân (liên quan đến các quyền nhân thân không thể chuyển giao chongười khác như: quyền họ tên, quyền khai sinh, bí mật đời tư, quyền xác đinh lại giới tính).+ Quan hệ về tài sản: Vi phạm hợp đồng lao động, hợp đồng mua - bán hàng hóa, quan hệ về sởhữu tài sản (thuê, mướn, cho vay, thừa kế, vi phạm bản quyền)
Trang 27+ Quan hệ nhân thân: Vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền họ tên, giới tính, bí mật đời tư Công dân đủ 6 tuổi đến dưới 18 tham gia dân sự phải có người giám hộ Quyền và nghĩa vụ haytrách nhiệm dân sự phát sinh người giám hộ xác lập và thực hiện.
- Kiến thức mở rộng
+ Hành vi dân sự là hành vi của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác trong các quan hệ tàisản và các quan hệ nhân thân phi tài sản có liên quan đến quan hệ tài sản nhằm làm phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Điều 302 Bộ luật Dân sự Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự
1 Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Như vậy, trách nhiệm pháp lý dân sự phát sinh khi có nghĩa vụ dân sự mà không thực hiện hay thực hiện không đúng Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự).
+ Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự do người của pháp nhân gây ra.
VD1: Ông H hợp đồng với công ty xây dựng để xây nhà ở trong thời hạn 6 tháng Tuy nhiên,
đội xây dựng của Công ty do thiếu trách nhiệm nên hơn 6 tháng chưa xây xong Họ đã vi phạmnghĩa vụ về thời hạn hoàn thành công việc Vi phạm đó gây thiệt hại làm ông H không có nhà ởnhư dự định và phải tiếp tục thuê nhà ở Công ty phải bồi thường số tiền phát sinh này cho ông
H đó là trách nhiệm dân sự
VD2: Công ty A ký kết hợp đồng mua bán 1 tấn gạo với công ty B Theo thỏa thuận bên A có
trách nhiệm giao hàng cho bên B vào ngày 10/10/2014 Đến ngày giao hàng mà A không manghàng đến, do điều kiện sản xuất nên bên B phải mua hàng của bên C Như vây bên A có tráchnhiệm phải trả số tiền chênh lệch giữa giá trị hàng hóa mà B mua của C so với giá thị trường.+ Trách nhiệm dân sự: Bồi thường những thiệt hại về sức khỏe, về kinh tế, tiếp nhận trở lại làmviệc (nếu là hợp đồng lao động)
+ Các quan hệ về tài sản bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
Quyền chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc giántiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản
VD: Nắm giữ, chiếm giữ ngôi nhà thuộc tài sản của mình, chiếc xe của mình, tập thơ bài văn domình sáng tác
Quyền sử dụng: Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từtài sản Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của pháp luật
VD: Ngồi nhà của mình dùng để ở hoặc cho thuê, chiếc xe đó dùng để chở hàng làm phươngtiện đi lại
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêudùng hoặc tiêu hủy tài sản
VD: Ngôi nhà mảnh đất đó của mình không dùng đến, bán cho người khác, chiếc xe đó khôngdùng bán hoặc tặng cho người khác
Trong đó quyền định đoạt đối với tài sản là quan trọng nhất, bởi vì chỉ có chủ sở hữu đốivới tài sản mới có quyền định đoạt đối với tài sản
Trang 28VD: Người đi thuê nhà của người khác để ở chỉ được quyền chiếm hữu và sử dụng trong thờigian thuê chứ không có quyền định đoạt đối với tài sản đó.
+ Các quyền về nhân thân
Là các quyền dân sự gắn với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừtrường hợp luật khác có liên quan có quy định khác Quyền nhân thân bao gồm:
Quyền nhân thân phi tài sản: quyền có họ tên, quyền được khai sinh, khai tử
Quyền nhân thân phát sinh tài sản: Quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ
Như vậy, hành vi xâm phạm các quan hệ về nhân thân là những hành vi tranh chấp quyềntác giả, quyền đối với tác phẩm, xâm phạm đến hình ảnh, danh dự nhân phẩm, họ tên, giới tínhquyền sống, quyền báo tử, quyền lưu giữ phôi thai
Tình huống 7: Chị Y làm việc cho đến ngày công ty cho nghỉ việc là được 15 tháng Hợp đồng
lao động của chị Y được ký vào ngày 2/5/2014 và có thời hạn đến ngày 31/05/2016 Trong hợpđồng lao động có ghi rõ “Người lao động làm việc tại công ty sau 6 tháng sẽ được đóng Bảohiểm xã hội tại công ty” Nhưng đến tận ngày chị Y nghỉ việc là ngày 18/07/2015 vẫn chưa đượcđóng Bảo hiểm Trước khi nghỉ việc chị Y đã bàn giao công việc cho người sau như yêu cầu củacông ty và đã hoàn thành đủ Cho đến hôm nay là 21/09/2015 hơn 2 tháng, công ty vẫn chưathanh toán phần lương còn lại cho chị Y là: 15 ngày công, mức lương hiện tại được hưởng là 5triệu đồng/1 tháng Công ty cứ đưa hết lý do này nọ và hẹn hết lần này lần khác nhưng vẫnkhông giải quyết
Điều này có nghĩa là kể từ khi bạn ký kết hợp đồng không xác định thời hạn thì chị thuộcđối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm, và công ty phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm cho chị từ
Trang 29ngày 2/5/2014 chứ không phải 6 tháng sau mới được đóng bảo hiểm Quy định của công ty nhưvậy là trái với quy định của Luật bảo hiểm xã hội
Công ty bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điều 26 Nghị định CP
95/2013/NĐ-2 Công ty cho nghỉ việc không báo trước, không có quyết định nghỉ việc trong khi hợp đồng laođộng vẫn còn thời hạn Vậy thì công ty phải chịu trách nhiệm gì và xử phạt thế nào?
Vì hợp đồng lao động của chị là hợp đồng xác định thời hạn nên khi cho nghỉ việc công ty phảibáo trước cho trong thời gian ít nhất 30 ngày Công ty phải thực hiện nghĩa vụ theo điều 42 – Bộluật Lao động 2012
Do công ty cho nghỉ việc mà không thông báo trước nên việc làm của công ty là đơn phươngchấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Theo quy định tại điều 41 Bộ luật lao động 2012 Bộluật Lao động 2012 quy định
3 Công ty không thanh toán nốt tiền lương còn lại cho chị Y thì công ty phải chịu trách nhiệm
và xử phạt thế nào?
Trong trường hợp này, chị Y chưa được công ty đóng bảo hiểm xã hội, nếu chị khôngmuốn quay lại làm việc hoặc công ty cũng không muốn nhận lại chị thì công ty phải thanh toántiền lương trả trong những ngày chị không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lươngtheo hợp đồng lao động và phải trả trợ cấp thôi việc Khoản tiền trợ cấp thôi việc được quy địnhtại điều 48 Bộ luật Lao động 2012
Trong trường hợp công ty chị không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như trên, chị có quyềnkhởi kiện công ty ra tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp về lao động
* Vi phạm kỷ luật
- Vi phạm kỉ luật là hành vi xâm phạm quan hệ lao động công vụ nhà nước do pháp luật lao
động và pháp luật hành chính bảo vệ
VD1: Trong lao động công nhân vi phạm giờ làm, nghỉ việc không lí do, học sinh đánh nhau.
- Vi phạm kỷ luật chịu trách nhiệm kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, thôi chức vụ, xuống chức, hạbậc lương, chuyển công tác khác
+ Quan hệ lao động: là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sau khigiao kết hợp đồng lao động Hành vi đó có thể là vi phạm nội dung hợp đồng lao động, vi phạmnội quy lao động
+ Công vụ nhà nước: áp dụng trong trường hợp cán bộ công chức nhà nước vi phạm phápluật, vi phạm quy chế ngành, nội quy cơ quan, trường học, đơn vị
Như vậy một người lao động tự do, làm công ăn lương hoặc không phải cán bộ công chứcnhà nước thì không bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật
Tình huống 8: Chị T là thủ quỹ của Công ty V Ngày 04/02/2003, chị T lập phiếu chi giả để chiếm
đoạt của Công ty 40 triệu đồng Đến ngày 03/4/2003, Giám đốc Công ty ra quyết định uỷ quyền cho Phó Giám đốc tiến hành việc xét và xử lý kỷ luật đối với chị T Ngày 07/4/2003, Phó Giám đốc
Trang 30tổ chức họp và sau đó ra quyết định sa thải chị T Sau khi bị sa thải, chị T khởi kiện cho rằng việc
xử lý kỷ luật sa thải đối với chị là không đúng
Câu hỏi:
1 Việc làm của chị T sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lí như thế nào?
2 Ai sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc?
Trả lời
1 Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật lao động, hình thức kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trongtrường hợp:
Điều 126 Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợpsau đây:
1 Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuýtrong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gâythiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động
Trong tình huống, chị T lập phiếu chi giả để chiếm đoạt của Công ty 40 triệu đồng làhành vi tham ô thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ
2 Về thẩm quyền xử lý kỷ luật sa thải: Theo quy định hiện hành pháp luật lao động tại khoản 4Điều 1 Nghị định số 33/2003/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/CP thì thẩm quyền xử lý
kỷ luật lao động như sau: “Người có thẩm quyền xử lý vi phạm kỷ luật lao động, kể cả tạm đìnhchỉ công việc… là người sử dụng lao động; người được người sử dụng lao động uỷ quyền thì chỉđược xử lý kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách Các hình thức kỷ luật khác chỉ được uỷquyền khi người sử dụng lao động đi vắng và phải bàn giao bằng văn bản”
Do vậy trong tình huống giám đốc công ty là người sử dụng lao động đã ra quyết định ủyquyền cho phó giám đốc xử lí kỷ luật đối với chị T là hoàn toàn đúng đắn
Tình huống 9: Anh T sinh năm 1989 hiện là công nhân tông ty xây dựng Công việc chính của
anh T là lái máy xúc Trong quá trình làm việc anh T gây tai nạn giao thông làm chết 1 người
- Anh T lái ô tô 9.5 tạ chở gạch trên đường đang thi công ở công trường thì xẩy ra tai nạn (anh Tkhông có bằng lái ô tô)
- Trong quá trình tham gia giao thông anh T không sử dụng chất kích thích, không nghe điệnthoại Anh T lái xe theo sự sắp xếp của chỉ huy công trường
- Sau khi xẩy ra tai nạn anh T đã gọi điện và đưa người đi cấp cứu sau đó đến trình báo với cơquan công an Anh T bù thiệt hại cho gia đình nạn nhân và gia đình nạn nhân cũng đã có đơn xinmiễn truy cứu trách nhiệm hình sự với anh
- Thân nhân gia đình anh T tốt, anh T gây tai nạn lần đầu và không có tiền án, tiền sự
Câu hỏi: