1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp dạy học liên hệ hiện tượng thực tế phần hóa học vô cơ lớp 9

21 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 222,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyêna Tác giả sáng kiến: Lê Thị Thanh Lan - Ngày th

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Một số giải pháp dạy học liên hệ hiện

tượng thực tế phần hóa học vô cơ lớp 9.

Tác giả: Lê Thị Thanh Lan

Đơn vị công tác:Trường tiểu học và trung học cơ sở Trung Mỹ

Chức vụ: Giáo viên

Trình độ chuyên môn: Đại học

Bình Xuyên, tháng 1 năm 2019

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyêna) Tác giả sáng kiến: Lê Thị Thanh Lan

- Ngày tháng năm sinh: 12/3/1986 Giới tính: Nữ

- Đơn vị công tác: Trường tiểu học và trung học cơ sở Trung Mỹ

- Chức danh: Giáo viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học

b) Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Thị Thanh Lan

c) Tên sáng kiến; lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; cácthông tin cần được bảo mật (nếu có):

- Tên sáng kiến: Một số giải pháp dạy học liên hệ hiện tượng thực tếphần hóa học vô cơ lớp 9

- Lĩnh vực áp dụng: Giảng dạy môn Hóa lớp 9 phần Hóa học vô cơ

- Mô tả sáng kiến:

+ Về nội dung của sáng kiến:

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Hóa học với thực tiễn cuộc sống

a) Tác động của hóa học đến đời sống con người

Hóa học là môn học có rất nhiều ứng dụng thực tế:

- Trong tự nhiên, nhờ có hóa học mà chúng ta có thể khám phá thiên nhiên,nắm được tính chất, quy luật của thiên nhiên và con người ngày càng thànhcông trong ngành khoa học khám phá vũ trụ, trái đất

- Trong đời sống, sản xuất, hóa học được ứng dụng trong việc nghiên cứuthành phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các quytrình sản xuất (sản xuất, chế biến các nguồn nguyên liệu thô thành các nguyênliệu có thể sử dụng trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nông sản, chếtạo ra các đồ dùng, vật dụng hằng ngày)

b) Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học

- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơbản về hóa học

Trang 3

- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài Hóa học là ngành hóa họcthực nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm Chính việctiến hành các thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và

kĩ các kiến thức đã học, qua đó các em hiểu bài hơn

- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn củahóa học trong đời sống: kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự hamhỏi của học sinh

- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sốnghàng ngày một cách đúng đắn Các em sẽ nhận thức được những gì có ích,những gì có hại để điều chỉnh hành vi của mình

1.2 Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy

a) Với người thầy

- Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy Khi mở rộng kiếnthức hóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy

- Mở rộng kiến thức hóa học thực tế rèn luyện một số kỹ năng dạy học :

+ Kỹ năng diễn đạt

+ Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học

+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm

+ Kỹ năng phân bố thời gian

+ Kỹ năng giao tiếp

- Kích thích lòng ham thích học tập của học sinh

- Tạo ra giờ học lý thú bổ ích Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế sẽ có rấtnhiều câu hỏi đặt ra kích thích học sinh tư duy trả lời, bầu không khí của lớp

sẽ trở nên sôi động, tạo điều kiện cho các học sinh còn nhút nhát tham gia vàobài giảng

- Gần gũi với học sinh Khi giáo viên thực hành các kỹ năng nhằm tăng hứngthú học tập cho học sinh, giáo viên sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp với học sinh.Nhờ đó mà sẽ tạo được ấn tượng tốt với học sinh

b) Với học sinh

- Các em trở nên yêu thích môn hóa Khi học sinh được hiểu thấu đáo các vấn

đề hóa học, được tham gia vào các hoạt động thực tế… Các em sẽ có hứngthú với môn học vì các em đã nắm được tầm quan trọng của môn học, từ đónâng cao thành tích học tập

Trang 4

- Nắm được các kiến thức cơ bản của hóa học Các kiến thức hóa học thực tếlấy nền tảng là các kiến thức hóa học mà học sinh đã học ở nhà trường, tácdụng của các kiến thức này là giải thích các bản chất của sự vật, hiện tượng

do đó các em sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc các kiến thức hóa học, các em sẽnắm rõ các kiến thức hơn

- Hình thành kỹ năng tư duy, sử dụng sách… Các kiến thức mới luôn thúc đẩyhọc sinh tìm tòi phát hiện kiến thức trong sách báo

- Phát huy tính tích cực sáng tạo trong học tập

1.3 Liên hệ thực tế là một biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh

Cái mới luôn là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất Việc liên hệ thực

tế sẽ thúc đẩy học sinh tìm tòi khám phá trong học tập Hiểu và giải thíchđược các hiện tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập Cáckiến thức hóa học sẽ thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ học và ham thíchhọc hỏi, tìm kiếm sách vở, rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các

em sẽ thấy được những lý thú của các kiến thức đã học, tăng thêm lòng yêuthích môn học

Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tậpcủa học sinh Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạtkết quả, giáo viên giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú họctập cho học sinh thì chưa thành công Do đó đòi hỏi người giáo viên phải hội

tụ kiến thức và tất cả các yếu tố phục vụ cho công việc dạy học Kỹ năng tạohứng thú là kỹ năng quan trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiênngười giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, phải luôn cung cấp cho học sinhlượng kiến thứcđủ, đúng, mới, thiết thực

Với giáo viên bộ môn Hóa học, kiến thức hóa học thực tế sẽ đáp ứngmặt thiết thực của kiến thức

và giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm

Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả nhữngquan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khilượng kiến thức không đồng nhất

Trang 5

Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong những môn học khó,nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ họctrò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiệntượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt

với giá trị thực tiễn của hoá học.

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt

ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạtcùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không

ít Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảmnhận, truyền thụ tri thức một chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn họcsinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học

3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC LIÊN HỆ HIÊN TƯỢNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9.

Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra 4 giải pháp, cụ thể:

Giải pháp 1 Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới

Vai trò : Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, tạo sự chú ýquan tâm của học sinh trong quá trình học tập

Phương pháp: Giáo viên liên hệ các hiện tượng thực tế quen thuộc trong đờisống hoặc đưa ra các đoạn video có hiện tượng thực tế, đặt câu hỏi cho họcsinh và giải thích qua các hiện tượng

Một số ví dụ:

Ví dụ 1: Trước khi vào giảng dạy: Tiết 27 Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim

loại không bị ăn mòn giáo viên có thể nêu vấn đề vào bài với câu hỏi sau: Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần

đồ vật không dùng được ?

Giải thích:

Đây thực chất là sự oxi hóa ngoài không khí Khi ta để 1 vật dụng bằngkim loại quá lâu ngoài không khí, không khí thì bao gồm khá nhiều khí, baogồm cả độ ẩm( hơi nước), sự ẩm ướt ngoài không khí sẽ oxi hóa các cấu trúckim loại của vật dụng đó, lâu ngày sẽ tạo nên 1 lớp gỉ sét màu vàng nâu

Ví dụ 2: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt,

nước vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người và động vật Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2 ngày ?

Giải thích: Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:

Trang 6

CaO + H2O  Ca(OH)2 Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đemtheo cả những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng Do nhiệt tỏa

ra nhiều nên nhiệt độ của hố vôi rất cao Do đó người và động vật cần tránh

xa hố vôi để tránh rơi xuống hố vôi tôi sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng

Giải pháp 2: Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học

Vai trò: Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinhhiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giảitỏa tính tò mò của học sinh

Phương pháp: Khi giảng dạy các phần cụ thể có liên hệ thực tế giáo viên đặtcác câu hỏi và giải thích dựa vào nội dung bài học

Một số ví dụ:

Ví dụ 1: Khi dạy tiết 16 : Phân bón hóa học, giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao

không nên trộn phân đạm với nước vôi trong Ca(OH) 2 để bón cho cây trồng?

Giải thích: Vì đạm bị mất bị mất mát do phản ứng:

Đạm 1 lá: (NH4)2SO4 + Ca(OH)2 → 2NH3 ↑ + CaSO4 ↓ + 2H2O Đạm 2 lá: 2NH4NO3 + Ca(OH)2 → 2NH3 ↑ + Ca(NO3)2 + H2O Đạm ure: CO(NH2)2 + 2H2O → (NH4)2CO3

(NH4)2CO3 + Ca(OH)2 → CaCO3 + 2NH3 ↑ + 2H2O

Như vậy, không thể bón phân đạm và vôi cùng lúc

Ví dụ 2: Khi dạy phần cacbon monooxit tiết 36: Các oxit của Cacbon, giáo

viên đặt câu hỏi: Tại sao không nên đốt lò than, củi trong phòng kín?

Giải thích: Khi đốt lò than, củi nên để nơi thông thoáng gió, nếu đốt trong

phòng kín thì sẽ sinh ra khí CO và CO2 đồng thời lấy đi khí O2 Khí CO2không duy trì sự sống còn khí CO khí rất độc Con người nếu hít phải khí CO

sẽ rất nguy hiểm có thể dẫn suy hô hấp, tử vong

Ví dụ 3: Khi dạy phần cacbon dioxit tiết 36: Các oxit của Cacbon, giáo viên

đặt câu hỏi: Nước đá khô là gì và có công dụng như thế nào ?

Giải thích: Nước đá khô (hay còn gọi là tuyết cacbonic) được điều chế

từ khí CO2 Đây là tác nhân lạnh ở thể rắn cung cấp hơi lạnh bằng cách biếnđổi trạng thái: đá khô thăng hoa thành hơi, không qua trạng thái lỏng Nước

đá khô không độc hại, được ứng dụng thích hợp để bảo quản những sản phẩm

Trang 7

kỵ ẩm và dùng làm đông lạnh thực phẩm Dùng đá khô để làm lạnh và bảoquản gián tiếp các sản phẩm có bao gói nhưng cũng có thể dùng làm lạnh vàbảo quản trực tiếp Chính tác nhân làm lạnh này đã làm ức chế sự sống của

vi sinh vật, giữ được vị ngọt, màu sắc hoa quả Đồng thời hạn chế được tổnhao khối lượng tự nhiên của sản phẩm do sự bay hơi từ bề mặt sản phẩm vàcác quá trình lên men, phân hủy

Ví dụ 4 :Khi dạy phần muối cacbonat tiết 37: Axit cacbonic và muối

cacbonat, giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao muối NaHCO 3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?

Giải thích: Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là

người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng

để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạdày nhờ phản ứng:

NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H2O

Ví dụ 5: Khi dạy phần tính chất vật lí của cacbon tiết 35: Cacbon, giáo viên

đặt câu hỏi: Vì sao khi cơm bị khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi ?

Giải thích: Do than củi xốp có tính hấp phụ nên hấp phụ mùi khét của cơm

làm cho cơm đỡ mùi khê

Ví dụ 6: Khi dạy phần cacbon monooxit tiết 36: Các oxit của Cacbon, giáo

viên đặt câu hỏi: Vì sao khi mở bình nước ngọt có gas lại có nhiều bọt khí thoát ra?

Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy, điểm khác chủ yếu là có

thêm khí cacbonic CO2 Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áplực lớn để ép CO2 hòa tan vào nước Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thìthu được nước ngọt

Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO2 lập tức bay vàokhông khí Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi

Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh Khi ta uốngnước ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO2 Ở trong dạdày nhiệt độ cao nên CO2 nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờvậy nó mang đi bớt một nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảmgiác mát mẻ, dễ chịu Ngoài ra CO2 có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày,tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu hóa

Ví dụ 7: Khi dạy phần cacbon monooxit tiết 36: Các oxit của Cacbon, giáo

viên đặt câu hỏi: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại mạnh:

K, Na, Mg,… bằng khí CO 2

Trang 8

Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong

Ví dụ 8: Khi dạy phần silic đioxit tiết 38: silic và công nghiệp silicat, giáo

viên đặt câu hỏi:Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?

Giải thích: Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc

biệt là ăn mòn thủy tinh Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxitSiO2 nên khi cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra:

SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

SiF4 tan tốt trong nước nên thủy tinh bị ăn mòn

Ví dụ 9: Khi dạy phần silic đioxit tiết 38: silic và công nghiệp silicat, giáo

viên đặt câu hỏi:Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh?

Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy,

nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi,rồi nhỏ dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bịcào đi

SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bộtCaF2 Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc,sau đócho thêm H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc Sau mộtthời gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp

CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ (dùng tấm kính che lại) Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

Ví dụ 10: Khi dạy phần muối cacbonat tiết 37: Axit cacbonic và muối

cacbonat, giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lâu ngày thấy xuất hiện lớp cặn ở đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào?

Trang 9

Giải thích: Trong tự nhiên, nước ở một số vùng có chứa Ca(HCO3)2 vàMg(HCO3)2 Khi nấu nước lâu ngày thì xảy ra phương trình hóa học:

Ca(HCO3)2 → t 0 CaCO3↓ + CO2↑ + H2O

Mg(HCO3)2 → t 0 MgCO3↓ + CO2↑ + H2O

Do CaCO3 và MgCO3 là chất kết tủa nên lâu ngày sẽ đóng cặn Để tẩylớp cặn này thì dùng dung dịch CH3COOH 5% (giấm ăn) cho vào ấmđun sôi để nguội khoảng một đêm rồi rửa sạch

Ví dụ 11:Khi dạy tiết 7: Tính chất hóa học của axit, giáo viên đặt câu hỏi: Vì

sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì nước rau đổi màu ?

Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho

màu của dung dịch thay đổi khi độ pH của dung dịch thay đổi Trong raumuống (và vài loại rau khác) có chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7% axitxitric Vắt chanh vào nước rau làm dung dịch có tính axit, do đó làm thay đổimàu của nước rau Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh là chứachất kiềm

Ví dụ 12: Khi dạy tiết 6 : Một số axit quan trọng, giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?

Giải thích: Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn.

Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước Nếu cho nước vàoaxit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ caolàm cho nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm

Trái lại khi cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit

sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống

đáy nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy nhiệt lượngsinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làmcho nước sôi lên một cách quá nhanh

Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là

“ phải rót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh.

Bởi vì thủy tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha

Ví dụ 13: Khi dạy tiết 11: Tính chất hóa học của bazơ, giáo viên đặt câu hỏi:

Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?

Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số côn trùng khác) có

axit hữu cơ tên là axit formic (HCOOH) Vôi là chất bazơ nên trung hòa axitlàm ta đỡ đau

Giải pháp 3 Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học.

Trang 10

Vai trò: Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiếnthức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiệntượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?

Phương pháp: Giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng bài học vào giải thích một

số hiện tượng gặp trong thực tế

Một số ví dụ:

Ví dụ 1: Sau khi học xong tiết 11: Tính chất hóa học của bazơ, giáo viên đặt

câu hỏi cho học sinh thảo luận: Tại sao sau khi ăn quả thì không nên đánh răng ngay?

Giải thích: Các nhà khoa học khuyến cáo: Ai ăn quả thì phải một giờ

sau mới được đánh răng Tại sao vậy? Vì chất chua (axit hữu cơ) trong tráicây sẽ kết hợp với những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chải

sẽ tấn công các kẽ răng và gây tổn thương lợi (nướu) Bởi vậy phải đợi đếnkhi lượng nước bọt trung hòa axit trong trái cây, nhất là táo, cam, nho,chanh, ta mới đánh răng

Ví dụ 2: Sau khi học xong tiết 13: Một số bazơ quan trọng, giáo viên đặt câu

hỏi cho học sinh: pH và sự sâu răng liên quan với nhau như thế nào? Tại sao đành răng với kem đánh răng lại chống sâu răng? Tại sao những người ăn trầu thường có hàm răng chắc khỏe?

Giải thích : Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm Lớp men

Lượng axit trong miệng tăng, pH giảm, tạo điều kiện cho sâu răng pháttriển

Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường, đánhrăng sau khi ăn Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF2, vìtạo ra hợp chất Ca5(PO4)3 F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH

Trước đây, ở nước ta một số người có thói quen ăn trầu là tốt cho việctạo men răng , vì trong miếng trầu có vôi tôi Ca(OH)2 làm giảm nồng độ axit

Ví dụ 3: Sau khi học xong tiết 7: Một số axit quan trọng , giáo viên đặt câu

hỏi cho học sinh: Hiện tượng mưa axit là gì? Tác hại như thế nào?

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w