1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề cơ bản khi ôn luyện phần truyện ngắn hiện đại

37 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 431 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về giá trị nhân đạo: là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn họcchân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của conngười; sự nâng niu, trân trọng những nét

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN KHI ÔN LUYỆN

PHẦN TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI

MÃ SÁNG KIẾN : 05.51

Vĩnh Phúc, tháng 2 năm 2020

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Truyện ngắn là một trong ba thể loại quan trọng (cùng với thơ và kịch) được đưa vào giảng dạy trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ vănTHPT.

Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng cùng hàng loạt sáchtham khảo khác đều hướng dẫn phương pháp dạy cho từng bài, từng thể loại.Song các tài liệu trên chỉ có tính chất khái quát hoặc tản mạn, chưa tập trung,chưa triển khai hết các góc độ của tác phẩm theo đặc trưng thể loại nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, đồng thời chưa tỉ mỉ trong

việc giải quyết các vấn đề then chốt Trong khi đó truyện ngắn lại là thể loại có

tần số thi cử khá nhiều

Đây là những lí do khiến chúng tôi thực hiện chuyên đề: Một số vấn đề cơ bản khi ôn luyện phần truyện ngắn hiện đại.

Trong chuyên đề này, tôi dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu những vấn

đề cơ bản khi ôn luyện truyện ngắn Sau một thời gian thực hiện tôi đã thu nhậnđược những kết quả tương đối tốt của chuyên đề Đây chính là lí do tôi xin mạomuội trình bày lại những sáng kiến của mình với mong muốn góp thêm một sốkinh nghiệm luyện thi cho đồng nghiệp tỉnh nhà, giúp họ nâng cao hơn nữa chấtlượng mỗi giờ dạy, trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết để các em tựtin bước vào kì thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi

2 Tên sáng kiến: "Một số vấn đề cơ bản khi ôn luyện phần truyện ngắn hiện đại".

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

- Lĩnh vực giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, thi THPT Quốc gia và nghiên cứuNgữ văn

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Năm 2020

5 Mô tả bản chất của sáng kiến

5.1 NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Trang 3

A.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

- Đọc hiểu tác phẩm văn học là một công việc khó khăn bởi phải huy độngvốn kiến thức về nhiều mặt ( lịch sử xã hội, lịch sử văn học, xã hội học, tâm lííhọc…) Nhưng có kiến thức chưa đủ, còn phải có cả khả năng cảm thụ, tức là cần

có sự nhạy bén về tình cảm, cảm xúc trước cái đẹp văn chương Ngoài ra còn phảinắm được phương pháp tiếp cận tác phẩm, khám phá các khía cạnh khác nhaucủa tác phẩm

- Đối với một truyện ngắn, khi khai thác cần chú ý những vấn đề then chốt

sau:

1 Phong cách tác giả

- Phong cách là biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việc đemđến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ từng chưa có về cuộc đời thông quanhững phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân ngườisáng tạo

- Phong cách tác giả không phải qua một tác phẩm là có thể nhận thấy ngay, vì

thế phần tiểu dẫn cho một văn bản văn học trong sách giáo khoa bao giờ cũng

giới thiệu phong cách tác giả của nó Người học khi khai thác tác phẩm cần nắmđược điều này để soi chiếu, đánh giá sâu nội dung, nghệ thuật, vị trí của tác phẩm,nét độc đáo của nó so với những tác phẩm khác

- Bối cảnh truyện bao giờ cũng có yếu tố liên quan đến hoàn cảnh lịch sửcủa đất nước Hiểu được nó, ta sẽ đánh giá chính xác vai trò, vị trí, ý nghĩa của tácphẩm

Trang 4

3 Các yếu tố nội dung tác phẩm

3.1 Chủ đề: Vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản Ví dụ Chí Phèo – Nam

Cao: Sự mâu thuẫn giữa nông dân với cường hào

3.2 Đề tài: Đối tượng để miêu tả, thể hiện trong tác phẩm Nói cách khác nó là

lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể

hiện trong văn bản Ví dụ Tắt đèn – Ngô Tất Tố: Cuộc sống bi thảm của người

dân Việt Nam trước CMT8/1945, trong những ngày sưu thuế

3.3 Nội dung cảm hứng: Niềm hứng khởi của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ

thuật, sự thôi thúc mạnh mẽ từ cả tâm hồn và trí óc khi hướng tới một đối tượngthẩm mỹ nào đó

3.4 Giá trị tư tưởng: Tư tưởng là ý nghĩ và quan điểm chung của tác giả với

hiện thực khách quan Trong một tác phẩm truyện, giá trị tư tưởng bao giờ cũngquy về tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân đạo

4 Các yếu tố nghệ thuật chính

Một truyện ngắn, để truyền tải tốt nội dung, người viết luôn phải quan tâmđến các yếu tố nghệ thuật, nghệ thuật có sáng tạo, có độc đáo mới phát huy hếtgiá trị nội dung, mới làm bật lên tư tưởng tình cảm của người cầm bút Người họcbắt buộc phải nắm kĩ các yếu tố nghệ thuật của một tác phẩm truyện Bao gồmcác yếu tố chính sau:

4.1 Nhan đề

Các nhà thơ, nhà văn khi tạo ra tác phẩm đều có ý thức cao trong việcchọn tên gọi cho đứa con tinh thần của mình Nhan đề thường có vai trò thâu tómnội dung tư tưởng của tác phẩm, hơn thế nữa nhiều khi nó chính là một yếu tốnghệ thuật làm nên thành công của tác phẩm

4.2 Cách vào truyện (cách mở đầu)

- Gây ấn tượng và cuốn hút người đọc đầu tiên phải là nhan đề, nhưng sau

nữa phải kể đến là cách vào truyện (cách mở đầu)

- Cách mở đầu của truyện ngắn thao túng toàn bộ định hướng phát triển củamạch truyện, nó chất chứa và châm ngòi cho cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Khai

Trang 5

mở cảm xúc, mạch truyện Một mở đầu hay phải ấn tượng, lạ, trở thành điểm tựacho sự sáng tạo của nhà văn và tạo sức hấp dẫn với người đọc.

4.5 Tình huống truyện

Tình huống truyện là tình thế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong đó sựviệc diễn ra rất đậm đặc, là khoảnh khắc chứa đựng cả đời người Tình huốngtruyện còn được hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vậtkhác, giữa nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống Qua tình huống nhà vănbộc lộ tâm trạng, tính cách, thân phận của nhân vật… Tình huống góp phần thểhiện tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ một cách sâu sắc

4.6 Cách kết thúc truyện

Kết thúc còn gọi là mở nút Một trong những thành phần của cốt truyện,thường tiếp theo ngay sau đỉnh điểm, đảm nhiệm chức năng thể hiện tình trạngcuối cùng của xung đột được miêu tả trong tác phẩm Một kết thúc truyện hay làvừa làm nhiệm vụ kết luận, vừa giải quyết vấn đề mâu thuẫn đường dây, vừa làhình ảnh cuối cùng đọng lại trong tâm trí người đọc, vừa phải gây được ấn tượngsâu sắc Cho nên, nếu tác giả cài được một ý triết lý tích cực rút ra từ nội dungcâu chuyện, truyện sẽ được nâng lên bất ngờ

4.7 Cách sử dụng ngôn ngữ

Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của tác phẩm văn học Ngôn ngữ trong văn họcgiống như màu sắc trong hội họa, âm thanh trong âm nhạc Trong sự lao động củanhà văn có sự lao động về ngôn ngữ, trong sự giày vò của sáng tạo nghệ thuật có

Trang 6

sự giày vò về ngôn từ Thành công của tác phẩm một phần lớn là nhờ khả năngngôn ngữ của tác giả

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

- Gợi ý hướng dẫn giảng dạy theo thể loại từng bài của sách giáo viên

- Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên

- Học sinh phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tìm hiểu,khám phá tác giả, tác phẩm văn học

2 Khó khăn:

- Phương pháp này khó đạt hiệu quả cao nếu học sinh không tích cực chủđộng, chuẩn bị bài trước khi lên lớp

- Năng lực đọc – hiểu của học sinh còn hạn chế, văn hóa đọc chưa tự giác

- Xu thế xã hội, tâm lí học sinh chú trọng các môn khoa học tự nhiên hơn làcác môn khoa học xã hội

- Tiếp cận và khai thác tác phẩm dựa vào đặc trưng thể loại mà kiến thức líluận của học sinh còn hạn chế

III MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản, khám phá tác phẩm đi

từ kiến thức cơ bản đến kiến thức nâng cao

- Hệ thống hóa các mức độ kiến thức kiểm tra, hệ thống câu hỏi, đề kiểmtra về tác phẩm truyện ngắn

Trang 7

- Giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

II CÁC DẠNG ĐỀ VÀ GỢI Ý LỜI GIẢI

- Thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập theo hướng

đánh giá năng lực học sinh ở các mức độ: thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụngcao Cụ thể là tập trung vào đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu vănbản và kĩ năng viết văn bản của học sinh

- Mỗi một văn bản truyện trong chương trình Ngữ văn lớp 11, lớp 12 (theogiới hạn chương trình của bộ GD & ĐT) đều có thể có mặt trong cấu trúc đề thiTHPT Quốc gia (đề thi ra theo hướng mở)

+ Dạng câu hỏi kiểm tra phần đọc hiểu

+ Dạng câu hỏi kiểm tra kĩ năng viết văn bản nghị luận văn học

Như vậy, mỗi một văn bản có thể rơi vào một trong hai dạng câu hỏi của đềthi hoặc cả hai dạng

- Nắm vững kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm , thành thạo các kĩ năng:đọc - hiểu văn bản, kĩ năng làm văn nghị luận học sinh hoàn toàn có thể làm bài

thi tốt

1 Dạng câu hỏi đọc - hiểu (3,0 điểm ).

1.1 Cách thức ôn tập, kiểm tra kĩ năng đọc hiểu:

- Ở phần đọc hiểu về kiến thức lí thuyết chủ yếu là kiến thức tiếng việt:ngữ pháp, cấu trúc câu, phong cách ngôn ngữ, kết cấu đoạn văn, các biện phápnghệ thuật tiêu biểu và hiệu quả của biện pháp nghệ thuật đó trong một đoạn văn,thơ cho sẵn

- Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững các kiến thức líthuyết trên và xây dựng các loại câu hỏi tập trung vào một số khía cạnh sau:

Trang 8

+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa củavăn bản; đặt tên cho văn bản.

+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản.+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và hiệu quả của chúng

1.2 Thực hành.

Đề

: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.

Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chắng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng

Vũ Đại nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “ Chắc nó chừa mình ra!” không ai lên tiếng cả Tức thật! ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn nhưng cũng không ai ra điều.

Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết

mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết…

Gợi ý

1 Nêu xuất xứ và nội dung cơ bản của đoạn trích?

- Đây là đoạn mở đầu truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao

- Đoạn trích miêu tả cảnh Chí Phèo uống rượu say và vừa đi vừa chửi giữa

sự thờ ơ của tất cả mọi người

2 Chỉ rõ những tính chất tiếng chửi của Chí Phèo? Những tiếng chửi ấy cho thấy bi kịch gì của Chí Phèo?

- Những tiếng chửi của Chí Phèo vu vơ, uất ức, hắn chửi từ trời đến đời, từlàng Vũ Đại đến những người không chửi nhau với hắn…hắn chửi tất cả màchẳng chúng vào ai Bởi Chí Phèo không biết ai làm hắn khổ, còn cả làng Vũ Đại

ai cũng nghĩ mình vô can trong bi kịch của Chí

Trang 9

- Những tiếng chửi vu vơ, phấn uất ấy cho thấy Chí mơ hồ cảm nhận bikịch đau khổ của một kẻ lạc loài, một kẻ hoàn toàn bị gạt bỏ ra bên lề cuộc sống

bình dị của dân làng, hòan toàn đứng ngoài xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện Hình như dưới đáy cùng của cơn say triền miên u tối

chí vẫn thèm nghe người ta nói với mình, cũng tức là công nhận sự tồn tại củamình trong cộng đồng loài người, dẫu sự công nhận chỉ bằng tiếng chửi, nhưng cảlàng Vũ Đại, cả xã hội lòai người kiên quyết từ bỏ, tẩy chay Chí

3 Anh/ chị có thể giải thích để trả lời giúp Chí Phèo câu hỏi: Ai đẻ ra Chí Phèo ?

- Người mẹ khốn khổ bất hạnh nào đó chỉ đẻ ra một hài nhi bị bỏ rơi trong

lò gạch cũ; những người dân làng Vũ Đại nhân hậu đã cưu mang, nuôi lớn và tạo

ra một anh Chí nghèo khổ nhưng lương thiện

- Nhà văn đã cho thấy, chính xã hội thực dân nửa phong kiến trước 1945 đã

đẻ ra Chí Phèo khi hủy hoại phần thiên lương, tước đoạt vĩnh viễn quyền làmngười của Chí Cụ thể, nhà tù thực dân cùng những thủ đoạn áp bức tàn bạo củabọn cường hào, ác bá ở nông thôn Việt nam trước Cách mạng đã đẩy những ngườinông dân lương thiện như Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo,…vào con đường thahóa lưu manh, đó chính là những kẻ đã đẻ ra Chí Phèo, đã hủy hoại nhân hình đểChí trở thành một con vật lại, hủy hoại nhân tính để Chí trở thành con quỉ dữ

2 Dạng đề nghị luận văn học ( 5,0 điểm )

Để làm tôt các bài văn nghị luận văn học, học sinh cần biết vận dụng những kĩnăng viết văn đã học để tạo lập văn bản văn học theo hướng mở và tích hợp trongmôn và liên môn, tập trung vào một số khía cạnh:

- Tri thức về viết văn bản ( kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản, quá trình viết)

- Các kĩ năng viết (đúng chính tả, ngữ pháp; viết theo phong cách ngôn ngữviết, sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong bài viết; lập dàn ý và phát triển ý; bộc lộquan điểm, tư duy của mình)

- Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng.( vận dụngvào thực tiễn học tập và đời sống )

2.1 Giá trị nội dung của tác phẩm.

Trang 10

2.1.1 Giá trị hiện thực của tác phẩm.

Đề : Giá trị hiện thực trong truyện ngắn "Chí Phèo"của Nam Cao và

"Hai đứa trẻ"của Thạch Lam.

- Hiện thực cuộc sống con người giai đoạn 1930 - 1945 đã được khắc họavới những nét tiêu biểu và chân thực trong hai tác phẩm của Thạch Lam và NamCao

2 Giá trị hiện thực trong truyện ngắn "Chí Phèo" và "Hai đứa trẻ"

2.1 Giống nhau: Đều phản ánh hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến giai

đoạn 1930-1945

- Hiện thực của những con người nghèo khổ:

+ Chí Phèo: không có miếng ăn, không tấc đất cắm dùi

+ Hai đứa trẻ: cảnh chợ tàn với cuộc sống cơ cực của con người

- Hiện thực cuộc sống quẩn quanh không lối thoát

- Chí Phèo:

+ Bị đẩy đến bước đường cùng

+ Hình ảnh chiếc lò gạch cũ bỏ hoang (ở đầu và cuối tác phẩm)

- Hai đứa trẻ:

+ Không gian phố huyện chiều tàn

+ Nhịp sống của con người nhàm tẻ, quẩn quanh

- Hiện thực về những con người với những phẩm chất tốt đẹp

+ Giàu tình yêu thương

+ Khát vọng sống mãnh liệt

2.2 Khác nhau.

- Chí Phèo:

Trang 11

+ Xã hội nông thôn nổi bật lên với mâu thuẫn giai cấp.

+ Con người bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa

- Hiện thực phản ánh sinh động, chân thực, mang tính khái quát

- Nghệ thuật khắc họa nhân vật: mang đặc điểm nhân vật của chủ nghĩahiện thực và nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn

2.1.2 Giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Đề : Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Gợi ý

1 Giới thiệu chung.

- Về giá trị nhân đạo: là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn họcchân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của conngười; sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tinvào khả năng vươn dậy của nó

- Về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim

Lân và của văn học Việt Nam sau 1945 Truyện được in trong tập “Con chó xấuxí” (1962) Tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc Thông quatình huống truyện độc đáo, tác giả cho ta thấy cuộc sống tối tăm cũng như khátvọng sống mãnh liệt, ý thức về nhân phẩm rất cao của những người lao độngtrong nạn đói năm 1945

2 Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt”của Kim Lân

- Tác phẩm bộc lộ niềm xót xa, thương cảm với cuộc sống bi đát của ngườidân nghèo trong nạn đói Qua đó tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân, phát xítđối với nhân dân ta (phân tích dẫn chứng để chứng minh)

Trang 12

+ Tác phẩm đi sâu khám phá và nâng niu trân trọng khát vọng hạnh phúc,khát vọng sống của con người:

+ Những khao khát hạnh phúc ở Tràng: cái tặc lưỡi có phần liều lĩnh, cảmgiác mới mẻ “mơn man khắp da thịt”, êm ái lửng lơ sau đêm tân hôn…

+ Ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật vợ nhặt: chấp nhận theokhông Tràng, bỏ qua ý thức về danh dự

+ Ý thức vun đắp cuộc sống của các nhân vật: mẹ chồng nàng dâu quét dọnnhà cửa, bà cụ Tứ bàn về việc đan phên, nuôi gà…

+ Niềm hi vọng đổi đời của các nhân vật: hình ảnh lá cờ và đoàn người đói

đi phá kho thóc của Nhật…

- Tác phẩm thể hiện lòng tin sâu sắc vào phẩm giá, lòng nhân hậu của conngười:

+ Tràng: Sự thông cảm, lòng thương người, sự hào phóng, chu đáo, tìnhnghĩa, thái độ, trách nhiệm

+ Sự biến đổi của người vợ nhặt sau khi theo Tràng về nhà: Vẻ chao chát,chỏng lỏn, đanh đá đã biến mất Thay vào đó là sự hiền hậu, đúng mực, ý tứ, đảmđang, hiếu thảo

+ Tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ: Thương con, cảm thông với tình cảnhcủa nàng dâu, trăn trở về bổn phận làm mẹ, cố tạo niềm vui trong gia đình giữacảnh sống thê thảm

Trang 13

Giữa cuộc đời cũng như trong nghệ thuật, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ có

lí tưởng thẩm mĩ và phong cách độc đáo Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà vănNguyễn Minh Châu đã từng nói : Nguyễn là “một định nghĩa về người nghệ sĩ”

Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với “Vang bóng một thời” –

tập truyện được xuất bản năm 1940, viết về những vẻ đẹp của “một thời” đã qua

nay chỉ còn “vang bóng” Trong tập truyện này, Chữ người tử tù được xem là một

trong những tác phẩm xuất sắc nhất, kết tinh phong cách sáng tác và tài năng nghệthuật của nhà văn Trong thiên truyện “gần đạt đến sự toàn thiện, toàn mĩ” này,Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao, với sự kếthợp nhuần nhuyễn của tài hoa, khí phách và thiên lương

B Thân bài:

● Nguyên mẫu của hình tượng nhân vật Huấn Cao

Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu

là Cao Bá Quát (1808-1855) Trong lịch sử nước ta, Cao Bá Quát không chỉ nổidanh là “văn hay chữ tốt” như đương thời truyền tụng “Thần Siêu, thánh Quát”màcòn nổi tiếng là người cương trực, quý trọng tài năng, có bản lĩnh, sống có lý tưởng

và dám đương đầu với cường quyền

Tuy nhiên, Cao Bá Quát chỉ là một điểm tựa, một “chất liệu văn học” đểNguyễn Tuân xây dựng nên nhân vật của mình Phần hư cấu, sáng tạo của nhà vănvẫn là chủ yếu bởi Huấn Cao đã xuất hiện trong tác phẩm theo đúng lý tưởng thẩm

mĩ và quan niệm nghệ thuật của tác giả

● Huấn Cao trước hết là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư

pháp, người kết tinh vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc và tấm lòng yêu nước mang màu sắc riêng của nhà văn

Trong truyện Chữ người tử tù, Huấn Cao nổi lên là một nghệ sĩ tài hoa hiếm

có trong nghệ thuật thư pháp

+ Ngay từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, thông qua một đối thoại ngắn giữa quảnngục và thầy thơ lại, nhà văn đã “gieo” trên trang văn một lời giới thiệu không thể

thuyết phục hơn về tài năng của con người này Đó là “cái người mà vùng tỉnh Sơn

ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” Đây không phải là lời ngợi khen

Trang 14

của một người mà là lời của người dân cả một tỉnh, tức là tài năng của ông Huấn

từ lâu đã được công chúng rộng rãi thừa nhận

+ Tuy nhiên, với riêng ngục quan, tên tuổi và tài nghệ của “người đứng đầubọn phản nghịch” ấy còn nhiều hơn thế Không biết từ nguồn nào và từ bao giờ,

viên quan coi ngục này đã biết “cái tài viết chữ tốt” của Huấn Cao: “Chữ của ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm” Và cũng đã từ rất lâu rồi, nhưng chưa bao giờ có dịp được nói ra, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết… Có được chữ của ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”

+ Về phía chủ quan, mong muốn ấy của quản ngục xuất phát từ thú chơi chữcủa ông ta Nhưng về phía khách quan, chữ của Huấn Cao phải đẹp lắm, quý lắm,

phải là “báu vật” hiếm có trên đời mới có thể khiến viên quan coi ngục lần đầu tiên có cái nhìn “hiền lành” và tỏ rõ thái độ “kiêng nể” với sáu người tù mà thực chất chỉ là Huấn Cao Đặc biệt, quản ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà

cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành động phạm pháp, thậm chí bị quy vàotội đồng lõa với tội phạm Với tội danh này, nặng thì bị xử tử giống như nhữngphạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia bại sản Điều ấy, một người đạidiện cho pháp luật như quản ngục không thể không hiểu Nhưng cái gì đã khiếnngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự nghiệp, thậm chí cả tính mạngcủa mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy là chữ của Huấn Cao– một “vật báu trên đời” và vì thế với những người có thú chơi chữ như quản ngụcthì được treo chữ của ông Huấn là một trong những sự mãn nguyện lớn nhất trongcuộc đời

=> Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân đã thành công khi miêu tả tài viết chữcủa Huấn Cao Cái giỏi của nhà văn là không có một từ nào miêu tả cụ thể vềnhững chữ mà Huấn Cao đã viết, kể cả ở cảnh cho chữ cuối cùng, thế mà ấn tượng

về tài năng của Huấn Cao, về người tử tù có phẩm chất nghệ sĩ, có tài nghệ hơnngười vẫn đậm sâu trong lòng bạn đọc Giống như thủ pháp “vẽ mây nảy trăng”thường thấy trong thơ, phương thức miêu tả gián tiếp của nhà văn đã có được hiệuquả nghệ thuật rõ nét trong trường hợp này

Trang 15

+ Với những gì đã viết về Huấn Cao, nhất là qua thái độ, lời nói của nhânvật quản ngục, thơ lại, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm thái độ say mê, cảm phụccủa mình đối với những người như ông Huấn Đó là người “kết tinh” và tỏa sángmột trong những vẻ đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc Vẻ đẹp ấy, ở thời đạiNguyễn Tuân, lại đang có nguy cơ mai một, rất dễ thuộc về “một thời” đã qua naychỉ còn “vang bóng” Do đó, sáng tạo hình tượng Huấn Cao có thể xem là mộtphương thức nghệ thuật đắc dụng để nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến,trân trọng của mình đối với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất nước Đâychính là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước mang nét đặc trưng riêng của nhà văn.Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh – chuyên gianghiên cứu về Nguyễn Tuân đã từng đánh giá khái quát : “Nguyễn Tuân là một tríthức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của ông có màu sắcriêng : gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc”.

● Huấn Cao còn là người nghệ sĩ có cái “thiên lương” trong sáng, có

cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa

Trong cuộc sống và nhất là trong nghệ thuật, tài năng không phải là thứ màtạo hóa hay xã hội muốn có hoặc có thể ban phát cho tất thảy mọi người Người cótài năng, năng khiếu nghệ thuật vốn đã không nhiều trong cuộc sống thì người vừa

có tài vừa có tâm lại càng hiếm nữa Mấy trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du đã

viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Chính cái “tâm” sẽ làm cho cái tài được cất cánh cao hơn nữa, tỏa sáng hơn nữa Trong Chữ người tử tù, Huấn Cao đâu chỉ

có tài viết chữ mà còn có đạo đức và văn hóa của một người nghệ sĩ thư pháp, mộtnhân cách cao thượng trong đời sống

Đạo đức của Huấn Cao thể hiện trước tiên ở lòng tự trọng, ở chỗ biết giữ

lấy cái tài, biết trân trọng tài năng đích thực của mình và biết dùng nó đúng lúc

đúng chỗ Con người ấy “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” Cả đời Huấn Cao cho đến trước khi cho chữ viên quản ngục mới chỉ “viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường” cho “ba người bạn thân”.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Huấn Cao cũng giữ trọn “thiên lương” của mình Khichưa hiểu con người của quản ngục, Huấn Cao không hề tỏ ra sợ hãi, càng không

Trang 16

vì cái “uy vũ” đó để phải quỳ xuống viết chữ Ông cũng không tỏ ra mềm lòng,thỏa hiệp, nhún mình viết câu đối trước sự “biệt đãi” của ngục quan Ngay cả khi

đã hiểu rõ con người của quản ngục và đã cho chữ viên quan này thì điều mà Huấn

Cao khuyên bảo, mong muốn ở ngục quan là “giữ thiên lương cho lành vững”, đừng để “nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi” Đó đích thực là một tâm hồn

trong sáng, cao đẹp, một biểu tượng của “thiên lương” lành vững mà thời đại nàocũng cần

Cái tâm của Huấn Cao không chỉ hiện ra ở đạo đức của người nghệ sĩ mà

còn bộc lộ ở cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa.

+ Đọc tác phẩm, ai cũng thấy Huấn Cao đã phản ứng dữ dội như thế nàotrước hành động muốn “biệt đãi” ông của quản ngục Nhưng đấy là khi ông chưathực sự hiểu được bản chất của con người này

+ Đến khi đã hiểu được con người bên trong của ngục quan, khi đã “cảm” được “cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quan coi ngục thì Huấn Cao đã

nhanh chóng bỏ qua những nghi kị trước đó, vui vẻ tự nguyện cho chữ Lời của

Huấn Cao: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” đã bộc lộ lẽ

sống của ông : sống là phải xứng đáng với những tấm lòng tri kỉ, phụ tấm lòng caođẹp của người khác là không thể tha thứ Rõ ràng, đối với những người biết quýtrọng cái tài, cái đẹp trên đời, Huấn Cao đâu có nề hà, đã không biết thì thôi chứbiết thì nhất định không “phụ tấm lòng trong thiên hạ” Đấy chính là lẽ sống caođẹp, là cách xử thể tràn đầy tinh thần văn hóa ở Huấn Cao, cũng là bài học về đạo

lý, lẽ sống cho mỗi người trên đời Xem ra, chuyện xin chữ - cho chữ ở đây khôngcòn là thú chơi nữa mà là chuyện của lẽ sống và đạo đức của con người trong cuộcsống

● Huấn Cao là người anh hùng dũng liệt, có bản lĩnh, lý tưởng, có khí

phách hiên ngang, bất khuất

+ Không giống như nhiều nhân vật tài hoa, tài tử khác trong Vang bóng một thời, Huấn Cao có hai con người trong một con người : con người tài hoa nghệ sĩ

với cái tâm trong sáng và con nguời anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang.Đấy là một người dám chống lại triều đình mục ruỗng mà ông căm ghét Thái độ

Trang 17

này không thay đổi kể cả khi ông nhận được thông báo sẽ bị giải vào Kinh để chịu

án tử hình Là kẻ chiến bại nhưng Huấn Cao không hề đánh mất khí phách củamình

+ Ngay từ đầu tác phẩm, điều đó đã được thể hiện qua hành động “rỗ gông”

Huấn Cao đã bất chấp lời doạ dẫm của tên lính áp giải, “lạnh lùng chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái” Cũng chính con người ấy đã “thản nhiên nhận rượu thịt” coi như “việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”, thậm chí còn “cố ý làm ra khinh bạc đến điều” đối với viên quản ngục mà không hề sợ “một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục” Ngay cả khi được tin “ngày mai, tinh mơ” sẽ

“về kinh chịu án tử hình”, Huấn Cao cũng chỉ “lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười”

Rõ ràng, Huấn Cao có phong độ của một trang anh hùng dũng liệt, có khí pháchhiên ngang của kẻ “chọc trời quấy nước” trên đầu “chẳng còn biết có ai nữa” (nhưchính quản ngục đã phải thừa nhận), có cái khí khái của đấng nam nhi coi cái chết

“nhẹ tựa hồng mao”

● Hình tượng Huấn Cao tỏa sáng trong cảnh cho chữ

+ Huấn Cao đúng là một nhân vật đặc biệt của Nguyễn Tuân Ở con người

này có sự hội tụ của ba phẩm chất, cũng là ba vẻ đẹp đáng trân trọng của conngười : “tài” – “tâm” – “dũng” Ba vẻ đẹp ấy hòa quyện với nhau và tỏa sáng rực

rỡ trong cái đêm Huấn Cao cho chữ quản ngục

+ Điểm hội tụ của tài năng nghệ sĩ và khí phách nghĩa sĩ của Huấn Cao

trước hết là ở tư thế Tuy “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng Huấn Cao vẫn

có cái tư thế của một người nghệ sĩ thư pháp Con người ấy đang dồn tinh lực để

viết nên những “dòng chữ cuối cùng” cho đời – những dòng chữ “nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người” Tương phản với hình ảnh Huấn Cao là

hình ảnh của ngục quan và thơ lại - những kẻ đại diện cho uy quyền, pháp luậtđương thời, nắm trong tay quyền sinh, quyền sát nhưng lại đang “khúm núm”,

“run run” trước từng nét chữ của Huấn Cao Chính sự tương phản này đã gián tiếpkhắc họa cái hiên ngang, khí phách của người tử tù Đồng thời cho thấy trongkhoảnh khắc này, tại chính gian nhà ngục này không phải cái ác, cái xấu đang làm

Trang 18

chủ mà chính là cái đẹp, cái tài của người nghệ sĩ đang tỏa sáng, hùng tâm, trángchí của người anh hùng đang được tôn vinh

=> Như mọi dòng sông đều chảy về biển, ở Huấn Cao, nơi hội lưu của thiên

lương trong sáng và nhân cách con người viết hoa – CON NGƯỜI dừng lại ở một

lời khuyên chí tình dành cho quản ngục : “Ở đây lẫn lộn Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà

ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi” Lời khuyên này giống như một di huấn – di huấn của người nghệ

sĩ truyền lại cho đời và hậu thế : muốn chơi chữ thì trước hết phải giữ lấy “thiênlương” Chữ nghĩa và “thiên lương” không thể chung sống với cái ác, cái xấu,đừng để những cái cao quý ấy bị hoen ố, bị mất đi ở chốn ngục tù đen tối tàn bạo

● Nghệ thuật

Như ta đã biết, xây dựng hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã dựa vàonguyên mẫu là Chu thần Cao Bá Quát Trong thực tế lịch sử, “thánh Quát” đã bỏmình nơi chiến địa trong cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến Nhưngvới Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã “kéo dài cuộc đời Cao Bá Quát” bằng cuộc gặp gỡthú vị giữa người tử tù có tài viết chữ đẹp với viên quản ngục – kẻ đại diện phápluật đương thời nhưng khát khao ánh sáng chữ nghĩa Sáng tạo này là chỗ nhà văngửi gắm lí tưởng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật của mình

Đọc truyện Chữ người tử tù, có thể thấy Nguyễn Tuân đã sử dụng bút pháp

lãng mạn, lí tưởng hóa để miêu tả hình tượng Huấn Cao Đó là người có vẻ đẹp

toàn diện : vẻ đẹp của tài năng – vẻ đẹp của tâm hồn – vẻ đẹp của khí phách Vẻđẹp ấy hiện lên lồng lộng trên nền tăm tối của ngục tù và trong sự kính nể, tônvinh của những kẻ đại diện cho luật pháp đương thời Hình ảnh Huấn Cao gắn liềnvới cái đẹp, với ánh sáng và cái thiện Những cái đó cũng bật nổi trong ưu thế và

sự lấn át cái xấu, bóng tối và cái ác Đó là những biểu hiện khác nhau của thủ pháptương phản – thủ pháp đã được sử dụng rất hiệu quả trong tác phẩm

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w