1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

RÈN KĨ NĂNG VIẾT văn NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH lớp 9

26 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 210,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với kiểu bài: tự sự , miêu tả, biểu cảm phần nào các em vẫn thể hiện được cảm xúc của mình qua bài viết, nhưng để đánh giá, nhận định một vấn đề trong xã hội, trong cuộc sống thì

Trang 1

MỤC LỤC

22 7.1.1 Nghị luận và văn nghị luận: 6

24 7.2 Thực tế giảng dạy và học tập phân

môn tập làm văn nói chung và kiểu loại văn nghị luận nói riêng

7

27 7.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng viết 8

Trang 2

văn nghị luận cho học sinh lớp 9.

29 7.3.2 Xây dựng cách lập luận cho bài 10

30 7.3.3 Ngôn ngữ trong văn nghị luận 16

41 8 Những thông tin cần được bảo mật 24

42 9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng

Trang 4

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Trong chương trình ngữ văn THCS các em được làm quen với 6 phương thức biểu đạt ( Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính – công vụ) Đối với kiểu bài: tự sự , miêu tả, biểu cảm phần nào các em vẫn thể hiện được cảm xúc của mình qua bài viết, nhưng để đánh giá, nhận định một vấn

đề trong xã hội, trong cuộc sống thì khá nhiều em cón lúng túng, Bởi nghị luận

xã hội là một lĩnh vực rất rộng: Từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn những vấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí… Trong phạm vi tập làm văn ở nhà trường bậc THCS học sinh được làm quenkiểu bài văn nghị luận xã hội

Trong khuôn khổ một bài viết có hạn tôi chỉ dừng lại giới thiệu và minh họa cách tổ chức rèn cho học sinh kĩ năng viết một bài văn nghị luận xã hội

2 Tên sáng kiến:

“RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 9” 3.Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên:Ngô Thị Anh Thơ.

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THCS Vĩnh Ninh.

- Số điện thoại: 0989865336 Emai:phuongthang.vn@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Ngô Thi Anh Thơ.

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng cho chương trình rèn kỹ năng viết

văn nghị luận trong các tiết dạy về văn nghị luận

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 20 tháng

Từ xưa đến nay, văn học luôn có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống

và trong sự phát triển nhân cách của con người, bởi: “Văn học là nhân học”

Trang 5

Trong trường phổ thông, môn Ngữ văn cũng đã được các cấp ngành hết sức chú

ý, nó chiếm một số lượng tiết rất đáng kể so với các môn học khác Đó là mônhọc thuộc nhóm khoa học xã hội có tầm quan trọng trong việc giáo dục quanđiểm, tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh Nó không những tạo tiền đềcho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo mà còn rèncho các em các kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu cónăng lực cảm nhận và bình giá văn học Văn học đồng thời cũng là một môncông cụ có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ môn khác Học tốt môn văn sẽ giúpcác em tiếp nhận các môn khoa học khác một cách tốt hơn

7.1.2 Cơ sở thực tiễn:

Thực tế cho thấy năng lực cảm thụ văn chương, đưa văn chương vào cuộcsống và đặc biệt là cách hành văn (nhất là văn nghị luận) của đại đa số các emcòn rất yếu Mặc dù đã học đến lớp 9 vậy mà có không ít học sinh vẫn còn viếtnhững đoạn văn, bài văn không đâu vào đâu, hết sức ngây ngô, thậm chí ngayđến bài kiểm tra một số em cũng chỉ vẽ vời luơ quơ, viết đối phó để tránh bịđiểm 0 Dường như các em bất lực trước ngòi bút của mình Hầu hết các em chỉ

có thể làm văn bằng cách sao chép bài mẫu hoặc ghi tất cả những lời giảng củagiáo viên chứ không thể viết ra “những điều mình nghĩ, mình cần bày tỏ mộtcách trung thành, chính xác, để làm nổi bật điều muốn nói” Chính điều đó làmcho các em lo sợ, ngại ngùng và ít hào hứng khi học bộ môn Ngữ văn nhất làphân môn tập làm văn

Môn ngữ văn trong nhà trường THCS gồm có ba phân môn chính là: Vănhọc, Tiếng Việt và Tập làm văn Trong thực tế, phân môn Tập làm văn luônđược coi là phân môn khó nhất không chỉ đối với giáo viên mà đối với cả họcsinh

Đứng trước tình trạng đó, tôi và nhiều đồng nghiệp khác đã không khỏibăn khoăn Trong quá trình giảng dạy, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tìm biệnpháp để giúp các em có kĩ năng làm văn nhất là văn nghị luận Chính vì vậy, tôi

đã chọn: “Rèn kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh lớp 9” làm đề tài.

7 2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này tôi không có tham vọng gì hơn ngoài mục đích cungcấp cho học sinh lớp 9 nói riêng và học sinh THCS nói chung những kĩ năng khilàm văn nghị luận để các em cải thiện được kĩ năng viết văn nghị luận của mìnhnói riêng và để học tốt bộ môn Ngữ văn nói chung

7.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Do thời gian và điều kiện của bản thân trong phạm vi giải pháp tôi chỉ tậptrung đề cập đến

- Một số dạng bài văn nghị luận trong chương trình ngữ văn lớp 9

- Cụ thể: dạng bài nghị luận xa hội:

+ Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống

Trang 6

+ Nghị luạn về một vấn đề tư tưởng đạo lí

7.4 Bản chất của đề tài:

Qua chuyên đề giúp học sinh nắm được kĩ năng làm một bài văn nghị luậnnói chung và các dạng bài nghị luận trong chương trình lớp 9 nói riêng

7.5 Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc và nghiên cứu tài liệu

- Thảo luận nghiên cứu qua tổ chuyên môn

- Học hỏi qua đồng nghiệp và những người có kinh nghiệm

7.6.Giới hạn đề tài:

Đây không phải là sáng kiến mới mà cũng đã có nhiều đồng chí đề cậpđến vấn đề này Tuy nhiên từ kinh nghiệm thực tế giảng dạy ở trường và một sốnăm dạy lớp 9 tôi nhận thấy khi học và viết bài các dạng bài nghị luận của các

em nhất là bài nghị luận xã hội còn yếu nên tôi chon chuyên đề này áp dụngtrong trường THCS Vĩnh Ninh

7.7 Phạm vi nghiên cứu

- Văn nghị luận ở trường THCS

- Các dạng văn nghị luận ở lớp 9

- Tập trung vào dạng bài nghị luận xã hội

PHẦN II NỘI DUNG

7.1 Một số hiểu biết chung

7.1.1 Nghị luận và văn nghị luận:

- Nghị luận: bàn bạc, lí giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó

- Văn nghị luận là loại văn dùng để bàn bạc về một vấn đề, một hiện tượng, một nhận định hoặc về một giá trị của một tác phẩm văn học Có nhiều cách bàn bạc, có khi dùng những bằng chứng để người ta tin tưởng hơn (chứng minh), có khi giảng giải, đưa ra những bằng chứng để người ta hiểu cặn kẽ hơn (giải thích), cũng có khi phải phát biểu ý kiến của mình (bình luận) hoặc chỉ ra những giá trị của một tác phẩm văn học (phân tích tác phẩm), hoặc chỉ ra những giá trị của một hình tượng nhân vật trong tác phẩm (phân tích nhân vật), hoặc giảng giải để bình giá một tác phẩm thơ hoặc văn xuôi (bình giảng) Dù là chứngminh, giải thích hay bình luận, phân tích tác phẩm, bình giảng tác phẩm thì người viết văn nghị luận vẫn phải có những hiểu biết đầy đủ về vấn đề sẽ trình bày, phải có lập trường quan điểm đúng đắn và phải lựa chọn một phương pháp trình bày, lập luận khoa học, phải dùng những lí lẽ, những dẫn chứng và cách trình bày những lí lẽ, dẫn chứng này theo một cách thức nhất định

7.1.2 Đặc điểm

Trang 7

- Văn nghi luận không làm nhiệm vụ mô tả đời sống xã hội hay nội tâm con người như văn sáng tác mà nhằm nhận biết và phân tích đời sống bằng tư duy logic nên nó phải tuân thủ chặt chẽ tư duy logic.

- Những quy tắc này biểu hiện ở hình thức cả bài, bao giờ cũng phải có:

Nêu vấn đề (mở bài), giải quyết vấn đề (thân bài), kết thúc vấn đề (kết bài),

biểu hiện ở kết cấu từng đoạn văn, có mở đoạn, triển khai đoạn, sơ kết đoạn,

biểu hiện ở mục đích bài viết: làm cho người đọc hiểu đến tin rồi tiến đến xây dựng một thái độ đúng và hướng dẫn những hành động khác.

Phân loại văn nghị luận:

Nhìn từ nội dung đề tài ta có thể chia văn nghị luận thành hai loại lớn:

- Nghị luận văn học:

Là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương- nghệ thuật, phân tích, bình luận về vẻ đẹp của tác phẩm văn học, trao đổi về một vấn đề lí luận văn họchoặc làm sáng tỏ một nhận định văn học

- Nghị luận xã hội:

Theo từ điển Hán Việt, " nghị luận" là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa phải trái, bàn bạc mở rộng vấn đề Còn " xã hội " là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ Từ đó có thể hiểu nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh, một tư tưởng đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hình tượng tích cực hoặc tiêu cực đến con người và những mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội

Nói chung cả hai loại đều nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc về chính trị, đạo đức, lối sống bằng một ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặtchẽ, giàu sức thuyết phục

7.2 Thực tế giảng dạy và học tập phân môn tập làm văn nói

chung và kiểu loại văn nghị luận nói riêng.

7.2.1 Đối với giáo viên:

Như đã nói, Tập làm văn là phân môn khó dạy nhất trong số các phânmôn của bộ môn Ngữ văn Mặt khác, số tiết quy định cho việc dạy lí thuyết vàthực hành lại hết sức khiêm tốn, vì vậy giáo viên ít có thời gian để uốn nắn,điều chỉnh những lệch lạc sai sót trong cách viết của học sinh Đa số giáo viêntận tụy với nghề, luôn chăm lo quan tâm đến học sinh, mặc dù vậy vẫn còn một

số hạn chế như: do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy, áp dụngcông nghệ thông tin vào trong bài dạy còn hạn chế; một số giáo viên còn thực sựchưa tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch cảm xúc, chưa khơi gợiđược hứng thú của học sinh trong tiết học

7.2.2 Đối với học sinh:

Trang 8

Phần lớn các em có tâm lí chán học , lười học, không có thói quen đọcsách văn học, kể cả những văn bản trong sách giáo khoa, chứ chưa nói đến việcsoạn bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp Hiện nay, sách những bài văn mẫu trànngập thị trường khiến cho các em không cần phải động não nhưng vẫn có thểviết bài một cách tương đối Lâu dần khả năng cảm thụ và sáng tạo bị thui chột,khiến các em hoàn toàn bị phụ thuộc, thành thử không có văn mẫu không làmđược bài.

Mặt khác đời sống tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trínhư : xem ti vi, chơi game ngày càng nhiều khiến cho một số em chưa có ý thứchọc bị lôi cuốn, thành ra sao nhãng việc học

Nói chung còn vô vàn những thiếu sót ở phía các em, nhưng nhìn chunglại chủ yếu là do các em chưa nắm được phương pháp, từ đó không hình thànhcho mình kĩ năng làm văn (đặc biệt là đối với văn nghị luận)

7.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh lớp 9.

Mặc dù các em đã học từ lớp 7, thế nhưng để học sinh hiểu kĩ hơn về thểvăn nghị luận, tôi thường khắc sâu cho các em thấy rõ những đặc trưng cơ bảncủa văn nghị luận đó là:

Văn nghị luận là một loại văn bản mà ở đó người nói, người viết trình bày,phát biểu ý kiến, quan niệm, suy nghĩ, tư tưởng, thái độ của mình trước một vấn

đề nào đó trong cuộc sống cũng như trong văn học Đó là một thể văn dùng lí lẽ

để phân tích, giải quyết vấn đề nhằm xác lập cho người nghe, người đọc một tưtưởng, một quan điểm nào đó

Trong bài văn nghị luận, vấn đề nghị luận là tư tưởng cốt lõi, là chủ đề(hay nói cách khác nó là nội dung chính ) của cả bài Muốn triển khai làm rõ vấn

đề nghị luận thì bắt buộc phải có hệ thống luận điểm Vì vậy, luận điểm được coi

là linh hồn của bài văn Luận điểm thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, lập trường,chủ trương, đánh giá của người viết với vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ.Luận điểm thường được thể hiện dưới hình thức một câu văn ngắn gọn, là nhữngphán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định Tuy nhiên có luận điểm chưaphải là yếu tố quyết định để có bài văn nghị luận hay mà điều quan trọng là luậnđiểm đó như thế nào, có đúng đắn, mới mẻ, độc đáo không? Vậy làm thế nào để

có một luận điểm đúng đắn, mới mẻ và độc đáo? Luận điểm mới mẻ không tựnhiên mà có, người viết thường xuất phát từ thực tế cuộc sống thực tế và từ khotàng tư tưởng đạo lí của dân tộc và nhân loại

Có luận điểm mới mẻ, sáng tạo là hết sức quan trọng, nhưng để bài vănthuyết phục cao thì riêng luận điểm chưa đủ Ở đây cần phải biết đến vai trò củalập luận Phải biết lập luận, tức là phải biết trình bày và triển khai các luận điểm;biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, biết dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏnhững điều muốn nói, để người đọc hiểu, tin và tán đồng với mình Luận điểm lànội dung còn lập luận là hình thức diễn đạt nội dung ấy; lập luận là cách nói

Trang 9

Trong SGK Ngữ văn 9 tập 2, để dạy học sinh cách làm bài nghị luận cócác bài cụ thể sau:

- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

- Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Mặc dù đã có những hướng dẫn cụ thể nhưng các bài này còn mang tínhkhái quát, mô hình tổng thể, chưa đề cập nhiều đến việc nhận diện đề, xây dựnglập luận, ngôn ngữ trong văn nghị luận, mặc dù những điều này các em đã học ởcác lớp dưới, cho nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong viết bài

Trong một số năm học gần đây bản thân tôi được phân công giảng dạymôn Ngữ văn khối 9 Khi dạy văn nghị luận, tôi đã cố gắng truyền đạt tất cảnhững kiến thức cơ bản để hướng dẫn học sinh viết một bài văn nghị luận nhưSGK Ngữ văn 9 tập 2, song tôi nhận thấy hiệu quả viết văn nghị luận các emchưa cao, phần lớn lỗi các em còn mắc phải trong bài làm là ở khâu nhận diện

đề, xây dựng lập luận, ngôn ngữ cho bài văn Vì vậy trong quá trình giảng dạy,tôi đã cố gắng lồng ghép, cung cấp tốt cho các em những điều này để giúp các

em rèn luyện kĩ năng viết văn của mình một cách tốt hơn

7.3.1 Nhận diện đề.

Trước khi làm bất cứ một bài văn nghị luận nào, điều đầu tiên hết sứcquan trọng đối với người viết là việc nhận diện đề Bởi mỗi đề văn nghị luậnthường có những đặc điểm riêng về mặt nội dung và hình thức, không đề nàohoàn toàn giống đề nào Vì vậy trong quá trình làm bài văn nghị luận, việc tìmhiểu đề để nắm vững yêu cầu của đề về cả hai phương diện: cách thức nghị luận

và nội dung nghị luận là công việc quan trọng có ý nghĩa quyết định trước tiênđối với sự thành bại của mỗi bài văn Tìm hiểu kĩ đề tránh được tình trạng lạc

đề, xa đề, thừa ý, thiếu ý… trong bài làm

Vì thế nhận diện đề là khâu hết sức quan trọng trong quy trình làm văn.Nếu nhận diện sai, bài làm sẽ sai Đối với học sinh những lỗi sai về nhận diện

đề thường là:

- Lạc đề: Là xác định sai nội dung, phương pháp, giới hạn…

- Lệch đề: Là chưa xác định được đâu là nội dung chính, lẽ ra nội dungchính cần phải làm nhiều thì lại nói qua loa, đại khái, phần phụ trở thành phầnchính, thao tác chính lại trở thành thao tác phụ, cuối cùng viết không đúng trọngtâm…

- Lậu đề: Là còn viết thiếu ý, bỏ sót ý hoặc thiếu một yêu cầu nào đó củađề

Khi hướng dẫn học sinh cách làm các bài văn nghị luận cụ thể, giáo viêncần dạy tốt phần tìm hiểu đề Giúp các em hiểu tìm hiểu đề là tìm hiểu về nộidung, thể loại, giới hạn của đề, … Nói một cách khác giáo viên cần giúp cho học

Trang 10

sinh xác định được: vấn đề nghị luận, và những yêu cầu cụ thể mà người soạn đềđòi hỏi người viết phải giải quyết khi bàn luận vấn đề đó.

Trước hết, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa của từng

từ ngữ quan trọng, vai trò của các vế, các câu, phân tích quan hệ ngữ pháp vàquan hệ logic – ngữ nghĩa của chúng – tức là phải khám phá cho được nhữngđiều còn ẩn kín trong các bộ phận của đề bài: từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từnghĩa trực tiếp đến nghĩa sâu sa, nghĩa trong văn cảnh và các sắc thái tinh viphong phú của chúng

Thông thường khi hướng dẫn học sinh nhận diện đề, tôi thường địnhhướng cho học sinh trả lời các câu hỏi dưới đây:

- Viết điều gì? Tức là cần xác định được nội dung bài viết, được vấn đề

nghị luận Yêu cầu về nội dung thường khó phát hiện hơn cả và là yêu cầu quantrọng nhất Song song với đó cần phải xác định: phạm vi nghị luận, mức độ nghịluận… ( để tránh dàn trải, làm mờ nhạt nội dung chính)

- Viết cho ai? Tức là phải xác định được đối tượng nghị luận (thầøy cô, bèbạn, hay tất cả mọi người) Việc xác định đúng đối tượng nghị luận và hiểu biết

sâu sắc về đối tượng đó luôn tạo hiệu quả cho bài nghị luận

- Viết như thế nào? Tức là cần phải xác định được phương pháp nghị luận,

chủ yếu là tìm hiểu xem đề thuộc kiểu nào? (giải thích, chứng minh, bình luận,hỗn hợp…), để tránh tình trạng đề yêu cầu một đằng thì viết một nẻo Bên cạnh

đó, cũng cần xác định xem bài sẽ phải viết theo hướng nào, cần phải có nhữngluận điểm nào, hệ thống luận cứ và dẫn chứng ra sao?

- Viết để làm gì? Đây là câu hỏi nhằm xác định mục đích viết Trên cơ sở

đó, các em sẽ đưa ra những luận điểm, và lựa chọn dẫn chứng sao cho phù hợpvới mục đích của mình

7.3.2 Xây dựng cách lập luận cho bài

Văn nghị luận là tiếng nói của trí tuệ, của lí trí, nó thuyết phục ngườiđọc, người nghe chủ yếu bằng nội dung luận thuyết, chất liệu và sức mạnh chủyếu của nó là lí lẽ, là lập luận Nói như vậy, để làm một bài văn nghị luận, mớichỉ có ý thôi thì chưa đủ mà cần phải có lí nữa, vì đích đến của một bài văn nghịluận đối với người đọc, người nghe chính là tính thuyết phục Vậy để bài văn có

lí, thì cần phải có lập luận Lập luận chính là trình bày hệ thống lí lẽ và dẫnchứng của mình một cách chặt chẽ, rành mạch theo một trình tự hợp lí đúng vớiquy luật logic nhằm khẳng định hay bênh vực một ý kiến, làm sáng tỏ một vấn

đề Vì vậy khi dạy cho học sinh cách làm bài văn nghị luận người giáo viên cầncho học sinh hiểu rõ và biết cách xây dựng lập luận

7.3.2. 1 Xây dựng luận cứ

Luận cứ là các lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh cho kết luận Khi xâydựng một lập luận, điều quan trọng là phải tìm được các luận cứ có tính thuyếtphục cao Vì vậy, tôi thường hướng dẫn học sinh tìm luận cứ bằng cách đưa racác lí lẽ và đưa ra các dẫn chứng như sau:

Trang 11

7.3.2.1.1.Sử dụng dẫn chứng từ thực tế.

Dẫn chứng từ thực tế có thể là người thật, việc thật, diễn ra trong cuộcsống hiện tại, trong lịch sử, cũng có thể là những câu thơ, các sự kiện rút ra từtác phẩm văn học Những dẫn chứng từ thực tế có tác động trực tiếp vào giácquan người đọc, cách dẫn chứng này đơn giản, không cần tra cứu nhiều, điềunày rất thích hợp với khả năng nghị luận của đại bộ phận học sinh lớp 9 nhất làđối tượng học sinh từ yếu đến khá Tuy nhiên để luận cứ có tính thuyết phục cao,tôi thường lưu ý với các em khi lấy dẫn chứng từ thực tế thì cần phải chọnnhững dẫn chứng tiêu biểu, đúng bản chất của đối tượng, phù hợp với kết luậncần hướng tới Những dẫn chứng này phải được nhiều người biết và phải có ýnghĩa Đặc biệt trong bài văn nghị luận xã hội, dẫn chứng từ thực tế thườngđược sử dụng nhiều và đóng vai trò hết sức quan trọng

Chẳng hạn: Với đề bài “Đất nước ta có nhiều tấm gương học sinh nghèovượt khó, học giỏi Em hãy trình bày một số tấm gương đó và nêu suy nghĩ của

mình”.

Tôi đã gợi ý để học sinh lấy một số dẫn chứng từ tế, lịch sử như sau:

Mạc Đĩnh Chi con nhà nghèo, ban ngày còn phải làm kiếm sống, chỉ tối đến mới

có thời gian học tập Nhưng không có tiền mua dầu thắp đèn, cậu bé họ Mạcphải bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng rồi soi lên trang sách mà đọc chữ Với ngọnđèn đom đóm ấy, cậu bé miệt mài học tập và đến khoa thi năm 1304 cậu thi đỗTrạng nguyên rồi trở thành một vị quan có tài năng lớn trong triều Trần

Hoặc: Nguyễn Hiền nhà nghèo, phải xin đi làm chú tiểu trong chùa nhưngrất thông minh và ham họ Được thầy dạy cho học chữ, Nguyễn Hiền tiến bộ rấtnhanh Không có giấy, cậu lấy lá viết chữ, rồi lấy que xâu thành từng xâu ghimxuống đất Mỗi xâu là một bài Thế mà, Nguyễn Hiền đã đậu Trạng nguyên khimới 12 tuổi

Hay với đề: Suy nghĩ về đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn”

Tôi cũng đã gợi ý để học sinh lấy dẫn chứng từ thực tế, văn học như sau:Triết lí sống “Uống nước nhớ nguồn” đã hóa thân thành những tập tục đẹp

đẽ của người Việt Nam Biết ơn các vua Hùng dựng nước,

dân ta có ngày giỗ tổ Hùng Vương Biết ơn các thương binh, liệt sĩ đã

đổ xương máu để giữ hòa bình, chúng ta có ngày 27 – 7 Triết lí sống “Uốngnước nhớ nguồn” đã trở thành bản lĩnh sống, là một nét nhân cách đẹp đẽ.Nguyễn Trãi ăn lộc vua nhưng lại tâm niệm đền ơn kẻ cấy cày Trần Đăng Khoabiết từ những khó nhọc của cha mẹ để thấy rõ hơn trách nhiệm của mình:

Áo mẹ mưa bạc màuĐầu mẹ nắng cháy tóc

Mẹ ngày đêm khó nhọcCon chưa ngoan chưa ngoan

( Khi mẹ vắng nhà.)

Trang 12

Trong thực tế, không phải không có những kẻ vô ơn, thậm chí quay lưngphản bội lại những người có công lao với mình Đó là những kẻ ích kỉ, giả dốinhư nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích Thạch Sanh Những kẻ vô ơn ấy bị

xã hội khinh ghét và sớm muộn cũng phải trả giá cho sự vô ơn của mình

Với kiểu bài nghị luận văn học, tôi cũng hết sức lưu ý với các em, muốnbài viết có tính thuyết phục cao thì khi trích dẫn chứng, cần phải trích một cáchchính xác và phải đặt dẫn chứng vào trong đóng mở ngoặc kép Do vậy khi dạygiảng văn, tôi thường yêu cầu và kiểm tra rất chặt chẽ về việc học thuộc các văn

bản thơ và các chi tiết tiêu biểu đặc sắc trong các tác phẩm truyện

7.3.2.1.2 Sử dụng các con số thống kê.

Con số thống kê chính là dẫn chứng thực tế được nâng lên mức độ kháiquát, tổng hợp thành số liệu cụ thể nên chúng có giá trị thuyết phục cao về mặt lítrí Đây là kiểu dẫn chứng khá thích hợp cho dạng văn nghị luận về một sự việc,hiện tượng đời sống

Chẳng hạn: Để chứng minh thuốc lá ảnh hưởng sức khỏe và đời sống conngười, tôi đưa ra những số liệu thống kê để các em tham khảo như sau:

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế kỉ 20, đã có khoảng 100 triệungười trên thế giới chết do thuốc lá WHO cũng dự báo, theo đà sử dụng thuốc

lá như hiện nay, thì sau năm 2020, mỗi người tử vong do nghiện thuốc lá trêntoàn cầu sẽ có khoảng 8 triệu người, trong đó 70% thuộc các nước đang pháttriển…

7.3.2.1.3 Sử dụng các phương tiện lập luận

Trong lập luận, một mặt luận cứ, kết luận phải được trình bày rõ ràng,tách bạch nhau, nhưng mặt khác, chúng phải được liên kết với nhau một cáchchặt chẽ để tạo nên một chỉnh thể Vì vậy, các phương tiện liên kết lập luận giữmột vai trò hết sức quan trọng Các phương tiện liên kết trong văn bản nghị luậnthường là các từ ngữ hoặc cũng có thể là các câu văn có tác dụng liên kết

Đối với học sinh lớp 9, các em đã được học về liên kết nội dung và liênkết hình thức trong một đoạn văn, bài văn nhưng hầu hết bài viết của các emphần lớn còn rời rạc, chưa có một sự liên kết chặt chẽ, sự kết dính thật sư, bởicác em chưa biết cách sử dụng các phương tiện lập luận Để giúp các em viếtvăn nghị luận tốt hơn, GV cần thiết cung cấp cho các em những phương tiện liênkết cơ bản để giúp cho các em viết bài tốt hơn cụ thể như sau:

- Về mặt nội dung, các phương tiện liên kết được sử dụng để chỉ các mốiquan hệ sau đây giữa các luận cứ:

+ Ý nghĩa trình tự: trước tiên, trước hết, sau đó, tiếp theo, một là, hai là,

ba là, …

+ Ý nghĩa tương đồng: ngoài ra, bên cạnh đó, vả lại, hơn nữa, một mặt,mặt khác, …

Trang 13

+ Ý nghĩa tương phản (đối lập) : nhưng, song, tuy vậy, tuy nhiên, ngượclại, thế mà, có điều, …

+ Ý nghĩa nhân quả: bởi vậy, vì vậy, như vậy, do đó, …

- Về mặt chức năng, các phương tiện liên kết có thể đảm nhiệm các chứcnăng sau:

+ Dẫn nhập luận cứ: vì, bởi vì, do vì, …

+ Dẫn nhập kết luận: nên, cho nên, vì vậy, do đó, do vậy, …

+ Nối kết giữa các luận cứ: ngoài ra, bên cạnh đó, vả lại, nhưng, hơn thếnữa, thêm vào đó, …

7.3.2.2.Một số cách lập luận cơ bản.

7.3.2.2.1 Lập luận suy lí (suy luận).

Là kiểu lập luận suy từ lí lẽ này đến lí lẽ khác (trong đó lí lẽ sau là hệ quảcủa lí lẽ trước) để dẫn dắt đến lí lẽ cuối cùng (luận điểm chính)

Ví dụ:

Các tác phẩm văn học có giá trị đều có tính nhân văn “Truyện Kiều” củaNguyễn Du là một tác phẩm có giá trị Bởi vậy, “Truyện Kiều” có tính nhân văn,không ai có thể phủ nhận được

7.3.2.2.2. Lập luận diễn dịch.

Là lập luận trong đó câu khẳng định nhiệm vụ chung ( luận điểm chính)đứng ở đầu đoạn văn Những câu còn lại đứng sau mang ý nghĩa cụ thể cónhiệm vụ giải thích, minh họa cho câu khẳng định nhiệm vụ chung

Ví dụ:

Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương Em thương bác đẩy xe bò “mồ hôiướt lưng, căng sợi dây thừng” chở vôi cát về xây trường học, và mời bác về nhàmình… Em thương thầy giáo một hôm trời mưa đường trơn bị ngã, cho nên dânlàng bèn đắp lại đường

7.3 2.2.3 Lập luận quy nạp.

Là lập luận trong đó câu khẳng định nhiệm vụ chung (luận điểm chính)đứng ở cuối đoạn văn Những câu đứng trước mang ý nghĩa cụ thể, có nhiệm vụgiải thích minh họa cho câu khẳng định nhiệm vụ chung

Ví dụ:

Chí Phèo bị vu oan, bị lừa lọc và bị xô đẩy đến đường cùng tuyệt vọng.Chí Phèo trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại và chỉ hung hãn trong nhữngcơn say triền miên Chỉ khi tỉnh rượu, Chí mới hiểu rằng mình là kẻ cô đơn, yếuđuối Chính sự cô đơn và nỗi tuyệt vọng đã hủy hoại ước mơ hoàn lương của

Chí Phèo Vì vậy, Chí Phèo phải chết!

7.3.2.2.4 Lập luận Tổng – Phân – Hợp.

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:44

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w