PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNGTRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP HÒA B BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: Xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai nhằm rèn tư duy cho học sinh lớp 4
Trang 1PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP HÒA B
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai nhằm rèn
tư duy cho học sinh lớp 4.
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Hường
Tam Dương, năm 2019
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu.
Cùng với tất cả các môn học khác trong chiến lược phát triển giáo dục toàn diện, có thể nói, toán học đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó rèn luyện cho các em không phải đơn thuần là tính toán, mà điều chủ yếu là năng lực tư duy Bởi chính nhờ tư duy sắc bén mà các em mới có thể nhạy bén hơn nhiều trong các môn học khác, rèn luyện toán học không có nghĩa đơn giản là kì vọng các
em trở thành những nhà toán học mà chính là rèn luyện tư duy để các em trở nên linh hoạt hơn khi tiếp cận những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày
Dạy học toán cho trẻ không chỉ nhằm cung cấp các kiến thức và kĩ năng cần thiết, mà một điều quan trọng có ý nghĩa trong suốt cuộc đời các em sau này đó
là dạy các em “ biết học toán” Nói cách khác có nghĩa là bồi dưỡng cho các em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống
Để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, góp phần bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh tiểu học, chúng tôi tiến hành xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai xoay quanh mảng kiến thức số học và hình học góp phần nâng cao hiệu quả của việc học tập, trong qúa trình giảng dạy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai nhằm rèn luyện
tư duy cho học sinh lớp 4 ”
Năm học 2018 - 2019, tôi đã được phân công giảng dạy học sinh lớp 4B Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành dạy kiến thức cơ bản cho học sinh, bên cạnh đó tôi bồi dưỡng kiến thức nâng cao song song cho các em, qua một vài tuần kiểm tra kiến thức của lớp tôi thấy rằng đa phần năng lực tư duy của các em còn hạn chế , làm bài tập còn dựa trên mẫu có sẵn khi làm bài tập nâng cao, chưa tự mình khám phá những điều mới lạ trong kiến thức Do đó kết quả chưa cao, vì vậy tôi thấy rằng cần phải rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh là rất cấp thiết
Bản thân là giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy lớp 4, có kinh nghiệm trong công tác dạy lớp 4 nhiều năm Xác định đúng các yêu cầu về kiến thức kĩ năng cho trình độ chung của lớp, cho học sinh khá giỏi Nắm được tâm lí và khả năng nhận thức của trẻ theo từng giai đoạn có quy luật riêng.Vì vậy, hơn ai hết người giáo viên tiểu học phải hiểu trẻ em với đầy đủ ý nghĩa của nó mới có thể tiến hành dạy toán thành công
Trong quá trình dạy học cần phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học Khi xác định các yêu cầu về kiến thức kĩ năng cho trình độ chung của lớp, giáo viên cần luôn chú ý đến các câu hỏi nâng cao, vừa tạo ra sức hứng thú, kích thích sự tìm tòi, đòi hỏi một sự cố gắng phấn đấu cao hơn cho mỗi học sinh Hơn thế khả năng nhận thức của trẻ đang được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn
có quy luật riêng Vì vậy, hơn ai hết người giáo viên tiểu học phải hiểu trẻ em với đầy đủ ý nghĩa của nó mới có thể tiến hành dạy toán thành công
Trang 3
Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm là:
- Tìm hiểu một số vấn đề về tư duy của học sinh tiểu học nói chung và tư duy của học sinh khá giỏi nói riêng
- Xác định căn cứ để xây dựng hệ thống các bài tập
- Xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm dúng sai nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh lớp 4 trình độ khá giỏi
- Phát triển óc tư duy cho học sinh
- Nâng cao chất lượng dạy học môn toán
Do điều kiện thời gian có hạn nên việc tiến hành nghiên cứu chỉ bó hẹp trong phạm vi lớp 4B trường Tiểu học Hợp Hòa B - Tam Dương
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm dạy học
2 Tên sáng kiến: Xây dựng dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai nhằm rèn tư duy
cho học sinh lớp 4
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hường
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hợp Hòa B
- Số điện thoại: 0375 427 273
Email: nguyenthihuong.c1hophoab@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Nguyễn Thị Hường
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Vận dụng trong công tác giảng dạy môn toán
cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Hợp Hòa B
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 1/10/2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
- Về nội dung của sáng kiến:
Môn toán ở tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh :
+ Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụng trong đời sống về số học các số tự nhiên, các số thập phân, bao gồm: cách đọc, cách viết, so sánh các số tự nhiên, phân số, số thập phân: một số đặc điểm của tập hợp
số tự nhiên, số thập phân; các phép tính trong tập hợp số tự nhiên, số thập phân + Có những hiểu biết ban đầu, thiết thực nhất về các đại lượng cơ bản như: độ dài, khối lượng, thời gian, diện tích, thể tích, đơn vị tiền Việt Nam, đơn vị đo thông dụng nhất của chúng Biết sử dụng cụ để thực hành đo lường Biết ước lượng các số đo đơn giản
+ Rèn luyện để nắm chắc các kĩ năng thực hành tính, nhẩm, tính viết về bốn phép tính với các số tự nhiên, số thập phân, số đo các đại lượng
Trang 4+ Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt 1 số các hình hình học thường gặp Biết tính chu vi, thể tích, diện tích của một số hình Biết sử dụng các dụng cụ đơn giản để đo và vẽ hình
+ Có những hiểu biết ban đầu sơ giản về dùng chữ thay số, về biểu thức toán học và giá trị cuả biểu thức toán học, về phương trình và bất phương trình đơn giản Biết tính giá trị biểu thức số, giải 1 số phương trình và bất phương trình đơn giản nhất bằng phương pháp phù hợp với tiểu học
+ Biết cách giải và trình bày cách giải 1 bài toán có lời văn Nắm chắc, thực hiện đúng quy trình bài toán Bước đầu biết giải một số bài toán bằng các cách khác nhau
+ Thông qua các hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy đơn giản và thao tác tư duy quan trọng như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, lập luận có căn cứ, bước đầu làm quen với các chứng minh dơn giản
+ Hình thành tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó, cẩn thận , kiên trì, tự tin
*Một số vấn đề về tư duy của học sinh tiêu học
+ Tư duy của học sinh tiểu học
Ở tiểu học, trong quá trình học tập môn toán chủ yếu các em tiến hành các thao tác tư duy cơ bản là phân tích tổng hợp so sánh trừu tượng hóa và khái quát hóa trong đó phân tích và tổng hợp được xem là 2 thao tác tư duy nền tảng để thực hiện các thao tác tư duy khác
+ Tư duy của HS các lớp cuối bậc tiểu học
- Lên lớp 4, giai đoạn cuối của bậc tiểu học những năng lực học tập của học sinh đã được hình thành Năng lực đó được thể hiện qua quá trình tâm lí có chủ định,các kĩ năng công cụ như kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết ), kĩ năng tính toán trở nên thành thạo hơn
+ Tư duy của học sinh khá, giỏi
Năng lực tư duy ở các em học sinh khá giỏi đã trở nên nhuần nhuyễn, thuần thục hơn Các em luôn có ý thức chủ động, tự giác và luôn thích tự khám phá ra những điều mới lạ nhất là trong học tập Các em muốn tự mình tìm ra cách giải khác, các cách giải hay, ngắn gọn, suy luận rất tốt để đi đến khẳng định, phủ định,một điều gì đó Đây là một điều kiện rất thuận lợi để rèn các kĩ năng tư duy
* Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Học sinh phải được trang bị đủ kiến thức để dành cơ hội trong học tập, việc làm và được thừa nhận trong thế giới ngày nay Nói đúng hơn để thành công Chính câu trả lời có tính thực dụng này đòi hỏi việc dạy tư duy phải được cải thiện tốt hơn
Tư duy tốt là điều kiện tiên quyết giúp học sinh trở thành công dân tốt Khả
năng tư duy có phê phán của công dân giúp tạo nên những quyết định thông minh đối với vấn đề của xã hội
Trang 5- Nếu có khả năng tư duy tốt, người ta luôn điều chỉnh để có trạng thái tâm lý tốt Trạng thái tâm lý giúp người ta có được thái độ tích cực đối với cuộc sống , sống nhiệt tình, thiện cảm với người khác
- Chúng ta luôn mong muốn trở thành người có đầu óc tư duy bởi cuộc sống của chúng ta có quá nhiều vấn đề phức tạp thách thức khả năng của chúng ta
Vì những lí do trên, chúng ta cần phải có trách nhiệm dạy các kĩ năng tư duy để nâng cao năng lực tư duy cho học sinh
Như vậy các kĩ năng tư duy đóng vai trò quan trọng đối với mỗi học nói riêng và đối với mỗi người nói chung Việc rèn các kĩ năng tư duy được thể hiện qua nhiều hoạt động khác nhau trong các hoạt động đó thì việc giải quyết các bài tập trắc nghiệm khách quan cũng chiếm một vị trí không nhỏ trong việc rèn kĩ năng tư duy cho học sinh
I CẤU TRÚC CỦA DẠNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI
1 Cấu trúc của hệ thống bài tập.
Nội dung các bài tập tập trung vào mảng kiến thức số học và hình học với dạng bài tập trắc nghiệm “Đúng – Sai”
2 Bài tập trắc nghiệm đúng – sai
2.1 Các đặc trưng của một bài trắc nghiệm tốt
- Tính giá trị: Đo lường và đánh giá điều cần đo và đánh giá
- Tính tin cậy: Kết quả lặp lại trong từng điều kiện
- Tính khả thi: Thực thi được trong điều kiện đã cho
- Tính định lượng: Kết quả biểu diễn được bằng số đo
- Tính lí giải: Kết quả phải giải thích được
- Tính kinh tế: Tốn kém ít
2.2 Một số tiêu chuẩn cho việc viết các câu hỏi trắc nghiệm
- Xét về đại thể các câu hỏi cần được đảm bảo 1 số đặc tính sau:
+ Sự phù hợp của điều được trắc nghiệm( Tầm quan trọng, tính thiết thực) + Tính chính xác hoặc tính đúng đắn của hiện thực được trắc nghiệm, tính đúng đắn của vấn đề hoặc câu hỏi cũng như tính chính xác của câu hỏi
- Tính công bằng đối với học sinh được trắc nghiệm Toàn bộ học sinh có cơ hội như nhau để tiếp cận với các kiến thức được trắc nghiệm
- Tính nhạy cảm đối với các vấn đề dân tộc thiểu số( phản ánh các khía cạnh tích cực của kinh nghiệm người thiểu số) cũng như tránh các thuật ngữ có thể
tỏ ra xúc phạm tới bất cứ nhóm người nào
- Tính dễ hiểu cho những người đọc câu hỏi trắc nghiệm ( tính rõ ràng, đơn giản của các từ vựng được sử dụng)
2.3 Những đặc tính quan trọng của phần dẫn của câu hỏi trắc nghiệm
- Tính rõ ràng và hoàn chỉnh của vấn đề hoặc nhiệm vụ được trình bày ( bao gồm tất cả các thông tin cần thiết)
- Tính ngắn gọn, xúc tích của câu hỏi( bao hàm chỉ các thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi)
- Tính tập trung đối với các khẳng định dương tính ( tránh các từ “ ít nhất”,
“ không”, ‘ngoại trừ”)
Trang 6II QUY TRÌNH XÂY DỰNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI.
1 Cách thiết kế các bài tập trắc nghiệm đúng sai.
Để thiết kế dạng bài tập trắc nghiệm đúng sai, chúng ta cần thực hiện theo các bước sau đây
Bước 1: Đưa ra tình huống
Bước 2: Đưa ra 2 hướng suy nghĩ (1 đúng 1 sai) mà học sinh có thể gặp phải Bước 3: Từ 2 hướng suy nghĩ dẫn đến kết quả
Bước 4: Đặt đề toán
1.1 Ví dụ
Ví dụ 1
- Bước 1: Đưa ra tình huống
Đưa ra 1 biểu thức có chứa X
372 : 3 x X =4
Bước 2: đưa ra 2 hướng suy nghĩ là ( 1đúng , 1 sai) mà học sinh có thể gặp phải
+ Đúng
372 : 3 x X = 4
124 x X = 4
X = 124
4
X =
31 1
+ Sai
372 : 3 x X = 4
3 x X = 372:4
3 x X = 93
X = 93 : 3
X = 31
Bước 3 : Từ hai hướng suy nghĩ trên dẫn đến 2 kết quả là X=
31
1
và X=31
Bước 4 : Đặt đề toán
Cho biểu thức 372 : 3 x X = 4
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào chỗ trống
Giá trị của X trong biểu thức trên là X = 31
Ví dụ 2
Bước 1: Đưa ra tình huống.
Tìm tổng lớn nhất của a,b,c biết a,b,c là số có một chữ số
Bước 2: Đưa ra hai hướng suy nghĩ( 1 đúng, 1 sai ) mà học sinh có thể gặp phải.
Học sinh cho rằng a, b, c là số lớn nhất nên đều bằng 9, như vậy tổng lớn nhất của a, b, c là:
a + b + c = 9 + 9 + 9 = 27
Học sinh suy luận a, b, c phải khác nhau, nên a = 7, b= 8, c = 9 Vậy tổng của a ,
b, c là: a + b + c = 7 + 8 + 9 = 24
Bước 3: Từ hai hướng suy nghĩ dẫn đến hai kết quả
Tổng bằng 27 và tổng bằng 24
Trang 7Bước 4: Đặt đề toán.
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Cho biết a, b, c là số có một chữ số, giá trị lớn nhất của biểu thức a + b + c là
24
Ví dụ 3
Bước 1: Đưa ra tình huống
Tính tổng của các số lẻ liếp từ 11 đến 89
Bước 2 : Đưa ra 2 hướng suy nghĩ ( 1 đúng, 1 sai ) mà học sinh có thể gặp phải
Học sinh sẽ tính được số các số từ 11 đến 89 có 40 số
( vì ( 89 - 11) : 2 + 1 = 40 số )
Suy luận
- Tổng của các số lẻ là 1 số lẻ
- 40 là số chẵn mà tổng của số chẵn các số lẻ là 1 số chẵn Vậy tổng của 40
số lẻ là 1 số chẵn
Bước 3 : Từ 2 hướng suy nghĩ trên dẫn đến 2 kết quả
- Kết quả là số chẵn
- Kết quả là số lẻ
Bước 4: Đặt đề toán
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào chỗ trống
Tổng các số lẻ liên tiếp từ 11 đến 89 là 1 số lẻ
Ví dụ 4:
Bước 1: Đưa ra tình huống
Xác định dấu hiệu của số chia hết cho cả 3 và 5
Bước 2 : Đưa ra 2 hướng suy nghĩ ( 1 đúng, 1 sai) mà học sinh có thể gặp phải )
+ Để chia hết cho 2 và 5 thì đó là số chẵn, để chia hết cho 5 thì số đó có cả số lẻ Vậy số chia hết cho cả 2 và 5 là số chẵn
+ Để chia hết cho 5 thì số đó có thể là số chẵn ( số có tận cùng là 0), có thể là số lẻ( số có tận cùng là 5), để chia hết cho 2 thì đó là số chẵn Vậy để chia hết cho
cả 2 và 5 thì số phải là số chẵn chục
Bước 3 : Từ 2 hướng suy nghĩ đưa ra 2 kết quả
Số chia hết cho cả 2 và 5 là số chẵn chục
Số chia hết cho cả 2 và 5 là số lẻ
Bước 4: Đặt đề toán
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào chỗ trống
Số chia hết cho cả 2 và 5 là số chẵn chục
2 Thiết kế hệ thông bài tập tự luyện
Bài 1
Cho biểu thức 372 : 3 x X = 4
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Giá trị của X trong biểu thức trên bằng 31
Bài 2
Cho biểu thức aaa : 37 x X= a
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Giá trị của X trong biểu thức trên là X = 3
Trang 8Bài 3
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Tổng của 40 số lẻ bằng 1059
Bài 4
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Tổng các số lẻ liên tiếp trong phạm vi từ 11 đến 89 là số lẻ
Bài 5
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Tổng các số chẵn liên tiếp trong phạm vi từ 20 đến 98 là số chẵn
Bài 6
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Tổng : 27 + 29 + 65 + 43 là 1 số lẻ
Bài 7 Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Thương của phép tính (2 + 4 + 5+ + 100 + 102) : 3 là số lẻ
Bài 8 Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Phép tính ( 2 + 4 + 6 + 8 + + 100 ) – ( 13 + 15 + 17 + + 91 + 93 ) có kết quả là số lẻ
Bài 9 :
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Kết của của phép tính 136 x 136 – 42 có chữ số tận cùng là 0
Bài 10:
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Phép chia 1935 : 9 có thương là số chẵn
Bài 11 :
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Số chia hết cho cả 2 và 5 là số chẵn
Bài 12.
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Số nhỏ nhất chia hết cho cả 3 và 6 là 18
Bài 13: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
3 + 2 x 5 = 3 + 5 x 2
3 + 2 x 5 = 2 + 3 x 5
2 x 6 + 5 = 2 x 5 + 6
5 x 6 + 2 = 6 x 5 + 2
Bài 14: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
60 : 5 x 2 = 60 : 10 = 6
60 – 5 + 3 = 60 – 7 = 53
Trang 920 x 2 + 3 = 40 + 3 = 43
20 x 2 + 3 =20 x 5= 100
Bài 15: Cho biết a, b, c là các số có 1 chữ số
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
Giá trị lớn nhất của biểu thức a + b + c là 24
Bài 16: Cho biết a, b, c là các số có 1 chữ số
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
Giá trị nhỏ nhất của biểu thức a + b + c là 0
Bài 17.
Trong cùng một hình vuông số đo chu vi bằng số đo diện tích
Bài 18
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
Trong 2 hình chữ nhật có cùng chiều rộng, còn chiều dài hình này bằng
2
1
hình kia thì:
Chu vi hình này bằng
2
1
chu vi hình kia Diện tích hình này bằng
2
1
diện tích hình kia
Bài 19 Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
Hình vuông và hình chữ nhật có số đo chu vi bằng nhau thì hình vuông có số
đo diện tích lớn hơn
Hình vuông và hình chữ nhật có diện tích bằng nhau thì hình vuông có số đo
chu vi lớn hơn
Hình vuông và hình chữ nhật có số đo chu vi bằng nhau thì số đo diện tích cũng bằng nhau
3 Phân tích một số kĩ năng tư duy rèn được thông qua các bài tập trắc nghiệm đúng – sai
Trong mỗi hoạt động nhận thức của học sinh khi học tập môn toán, các thao tác
tư duy và các loại hình tư duy được tiến hành 1 cách đan xen nhau, thông qua dod mà thúc đẩy sự phát triển của chúng, giúp học sinh đạt được kết quả học tập một cách chắc chắn Nhưng khó có thể phân biệt rạch ròi các thao tác tư duy cụ thể của thời điểm của quá trình nhận thức Tuy nhiên với một nội dung học tập
cụ thể, có một tư duy thao tác nào đó nổi lên, có tính chất chủ đạo Điều đó được thể hiện qua các ví dụ cụ thể sau đây:
Ví dụ 1: Bài 14
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
60 : 5 x 2 = 60 : 10 = 6
Trang 1060 – 5 + 3 = 60 – 7 = 53
20 x 2 + 3 = 40 + 3 = 43
20 x 2 + 3 = 20 x 5= 100
Trước tiên, học sinh phải huy động các kiến thức sẵn có Các em cần nhớ lại thứ tự thực hiện các phép tính trong một dãy tính ( thực hiện nhân - chia trước, cộng - trừ sau ) Sau đó học sinh phân tích cụ thể hóa từng phép tính để tiến hành thực hiện đối với mỗi phép tính cụ thể
Phép tính thứ nhất: 60 : 5 x 2
Trong phép tính này có nhân và chia, học sinh sẽ thực hiện lần lượt theo thứ tự
từ trái sang phải, tức là
60 : 5 x 2
12 x 2 = 24
Từ kết quả vừa tìm được, học sinh sẽ so sánh với kết quả đã cho và thực hiện tư duy phê phán để khẳng định phép tính trên có kết quả sai
Ở phép tính thứ hai:
60 – 5 + 2
Cũng tương tự như trên, phép tính có phép cộng và phép trừ bình đẳng nhau, học sinh sẽ phải thực hiện lần lượt từ trái qua phải
Cụ thể:
60 – 5 + 2
55 + 2 = 57
Ở phép tính thứ ba :
20 x 2 + 3
Trong phép tính này có nhân và cộng, học sính sẽ phải thực hiện nhân chia trước, cộng trừ sau:
Cụ thể: 20 x 2 + 3
40 + 3 = 43
Kết quả này đúng với kết quả ban đầu nên học sinh chọn là đúng
Ở phép tính cuối cùng:
20 x 2 + 3
Học sinh sẽ thực hiện giống như phép tính thứ 3 và ra kết quả là 47 Đối chiếu với kết qủa cho học sinh đi đến kết luận điền S vào ô trống
Như vậy trong khi thực hành bài tập này học sinh thực hiện các thao tác tư duy : khái quát hóa, tổng hợp hóa, phân tích, so sánh và tư duy phân tích nhưng thao tác phân tích đóng vai trò chủ đạo
Ví dụ 2: Bài 9
Đúng ghi Đ, Sai ghi S vào ô trống
Kết quả của phép tính : 136 x 136 – 42 có chữ số tận cùng là 0
Để đi đến kết luận đúng và sai, học sinh phải thực hiện thao tác phân tích:
Coi tích 136 x 136 là số bị trừ, 42 là số trừ