Nhưng trên thực tế hiện nay, việc dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tại trường mầmnon Thanh Trù vẫn còn những hạn chế: Một số giáo viên chưa nhận thức đầy đủtầm quan trọng của
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Ngạn ngữ Việt Nam có câu:
“Phong ba bão táp Không bằng ngữ pháp Việt Nam”
Đất nước Việt Nam ta đẹp vô cùng, Dân tộc ta từ ngàn năm xưa đã xâydựng cho mình một nền văn hoá riêng đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó ngônngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người, trong sự hìnhthành và phát triển của xã hội loài người
Thật vậy như một nhà văn người Pháp đã nói: “Ngôn ngữ là chiếc gương
để ta soi mình trong đó” Trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non cầnhình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ bởi lẽ ngôn ngữ chính là phương tiện
để tư duy, nó đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và các quá trìnhtâm lý khác Nhờ có ngôn ngữ mà đời sống tinh thần của con người ngày càngphong phú Con người có thể thông báo, trao đổi thông tin nào đó trong cuộcsống giúp con người gần nhau hơn Bác Hồ lúc sinh thời đã dạy: “Tiếng nói làthứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, tôntrọng nó”
Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong xã hội loài người Những kho tàng vănhóa, những tri thức, những kinh nghiệm lịch sử đều được chứa đựng trong ngônngữ Với trẻ ngôn ngữ còn là phương tiện để điều khiển, điều chỉnh hành vi giúptrẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực Nhờ có ngôn ngữ mà conngười khác xa so với động vật Vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là vôcùng quan trọng đặc biệt là lứa tuổi 4- 5 tuổi Đây là thời kỳ phát cảm về ngônngữ, vốn từ của trẻ tăng nhanh, trẻ nói được những câu có đầy đủ chủ ngữ và vịngữ, tần số lời nói trong giao tiếp hàng ngày tăng lên đáng kể, phương tiện giaotiếp nổi trội là ngôn ngữ nói Đặc biệt là trẻ hay đặt ra những câu hỏi để tìm hiểunguyên nhân, nguồn gốc của sự vật, hiện tượng Đồng thời trẻ ở lứa tuổi nàythường xuất hiện một số tật ngôn ngữ như: nói câu không có chủ ngữ, vị ngữ,nói trống không, nói không mạch lạc Chính vì vậy đây là thời điểm tốt nhất đểrèn luyện cho trẻ biết nói đúng ngữ pháp tiếng việt và phát triển ngôn ngữ mạchlạc cho trẻ
Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, để phát triển tư duy, nhận thức và làphương tiện để giáo dục toàn diện cho trẻ Nhưng để ngôn ngữ phát huy được
Trang 2tối ưu vai trò của mình thì đòi hỏi phải có sự giáo dục ngôn ngữ “kịp thời”,
“đúng lúc” Trường mầm non là trường học đầu tiên, ở đây trẻ có điều kiện, có
cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ Cho nên nhiệm vụ rất quan trọng củangười giáo viên mầm non, phụ huynh và của toàn xã hội là giáo dục ngôn ngữmạch lạc cho trẻ
Phát triển ngôn ngữ nói chung và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp nói riêng làmột nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện cho trẻ Điều đó
đã được các nhà giáo dục học xem là khâu chủ yếu nhất của hoạt động trongtrường mầm non, là tiền đề thành công của các công tác khác Nhưng trên thực
tế hiện nay, việc dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tại trường mầmnon Thanh Trù vẫn còn những hạn chế: Một số giáo viên chưa nhận thức đầy đủtầm quan trọng của việc dạy trẻ nói đúng mẫu câu nên chưa chú trọng nhiều đếnviệc rèn luyện cho trẻ; Việc lồng ghép nội dung dạy trẻ nói đúng ngữ pháp vàotrong các hoạt động còn khô cứng chưa linh hoạt sáng tạo; Chưa tạo được chotrẻ có một môi trường giao tiếp thật phong phú, hấp dẫn Cho nên số trẻ nóingọng, nói không đủ câu, trọn nghĩa, diễn đạt chưa được mạch lạc chiếm một sốlượng không nhỏ Bên cạnh đó do nhu cầu gửi trẻ của phụ huynh vào trường quáđông nên số trẻ trong một lớp quá tải so với qui định đã phần nào làm ảnhhưởng đến việc tổ chức mọi hoạt động giáo dục trong lớp Do đó nhiều trẻ cònnhút nhát, chưa mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với mọi người xung quanh
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nóiđúng ngữ pháp tiếng việt và để góp phần phát triển ngôn ngữ toàn diện cho trẻ
nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tiếng việt”.
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.
- Trường mầm non Thanh Trù
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến.
5.1 Lĩnh vực áp dụng của sán kiến: Sáng kiến được áp dụng vào các hoạt
động giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ hằng ngày để trẻ nói đúng ngữ pháp
Trang 3tiếng việt ,tại các lớp 4 – 5 tuổi, Trường mầm non Thanh Trù – thành phố VĩnhYên – tỉnh Vĩnh Phúc.
5.2 Vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết: Sáng kiến đã tập trung nghiên cứu
đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi, tìm hiểu thực trạng của việc dạytrẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tiếng việt tại các lớp 4 tuổi trường mầmnon Thanh Trù, đã tìm được những thuận lợi, khó khăn của giáo viên trong việcdạy trẻ nói đúng ngữ pháp tiếng việt, để từ đó đề xuất được một số biện phápdạy trẻ 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp như sau:
* Biện pháp 1: Sử dụng hệ thống câu hỏi đàm thoại.
*Biện pháp 2: Sử dụng lời nói mẫu.
* Biện pháp 3:Đưa thêm một số mẫu câu vào truyện kể cho trẻ nghe.
* Biện pháp 4: Thực hành giao tiếp bằng ngôn ngữ.
* Biện pháp 5 : Giáo viên tự rèn luyện ngôn ngữ của mình thật chính xác
7 Mô tả bản chất của sáng kiến.
7.1 Một số khái niệm cơ bản.
Ngữ pháp là quy luật ngôn ngữ, ngữ pháp nghiên cứu những quy luật xâydựng ngôn ngữ
Dạy ngữ pháp là dạy các mô hình câu cho trẻ Là luyện cho trẻ nói đúngcấu trúc câu tiếng việt, lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, logic, có hình ảnh;khi nói diễn đạt rõ ràng, ngắt nghỉ giọng đúng chỗ
Câu là đơn vị thuộc hàng lời nói, được cấu tạo để giao tiếp và trao đổi tưtưởng, tình cảm giữa những con người sống trong xã hội Câu là đơn vị thôngbáo nhỏ nhất, có cấu tạo ngữ pháp nhật định, có ngữ điệu kết thúc biểu thị thái
độ của người nói đối vơi nội dung của câu nói
Biện pháp dạy học là một bộ phận của phương pháp dạy học Ở lứa tuổimẫu giáo các biện pháp dạy học đặc biệt quan trọng nó làm cho quá trình dạyhọc hấp dẫn hơn, trẻ em tiếp thu được tốt các kiến thức là do biện pháp hấp dẫn,tác động phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ, nhờ đó nâng cao hiệu quả dạyhọc và làm cho hoạt động học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn
Trang 4Biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp tiếng việt là cách làm cụ thể nhằmphối hợp hoạt động giữa các giáo viên mầm non và trẻ mầm non để dạy cho trẻ
biết cách đặt câu, sử dụng câu đúng trong quá trình giao tiếp
7.2 Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ.
Tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ có những bước phát triển vượt bậc, tư duytrực quan hành động có sự khác biệt về chất so với tuổi mẫu giáo bé đó là trẻ bắtđầu biết xem xét, suy nghĩ nhiệm vụ hoạt động để đưa ra phương pháp, phươngtiện giải quyết phù hợp Tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế nhưng trẻchưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ mới chỉ dựa vào những biểu tượng
đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra vấn đề mới
Khả năng tập chung chú ý của trẻ phát triển mạnh mẽ, trẻ có thể tập trungchú ý được trong một thời gian dài, khối lượng chú ý tăng lên nhanh chóng, vớinhững đối tượng hấp dẫn trẻ có thể tập trung chú ý được tới 37 phút
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ các loại tri giác: Nhìn, nghe, sờ, mó phát triển ởmức độ tinh nhạy, đặc biệt là phân biệt âm thanh, ngôn ngữ, nhạc các bài hát.Trẻ tri giác được một số mối quan hệ về không gian và thời gian chinh xác hơn
Về khả năng ghi nhớ, trẻ mẫu giáo nhỡ đã biết liên tưởng để nhận lại, nhớlại các sự vật - hiện tượng đã gặp, có thể là một lần Trí nhớ không có chủ địnhvẫn chiếm ưu thế ở độ tuổi này
7.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có thể tiếp thu được cách phát âm của tất cả các âm
vị tuy nhiên còn chưa chính xác do bộ máy phát âm của trẻ chưa hoàn chỉnh, dokhả năng nghe, khả năng tập trung chú ý, tư duy của trẻ còn hạn chế nên trẻ phát
âm còn sai những phụ âm đầu như: s, tr, l, n
Về thanh điệu trẻ phát âm cũng chưa chính xác như từ “bé ngã- bé ngả;con hươu- con hai hoặc con hiêu; rượu- riệu Vốn từ của trẻ có khoảng 1200 từđến 1300 từ chủ yếu là danh từ, động từ và một số loại từ khác
Trẻ thường sử dụng các loại câu có khoảng 2-3 từ hoặc sử dụng câu cụttrong quá trình giao tiếp Do vốn từ, kinh nghiệm sống của trẻ và khả năng nắmđược nghĩa của từ còn chưa chính xác nên trẻ sử dụng từ để đặt câu còn sai, vídụ: Cây chuối đổ - Cây chuối ngã; quả dưa nứt - quả dưa vỡ; con dao cụt – condao què Đặc biệt là những từ chỉ thời gian, số lượng còn sai bởi vì tư duy củatrẻ về thời gian và số lượng còn chưa chính xác Ở trẻ xuất hiện các câu hỏi khóhơn như: Để làm gì? Vì sao lại thế? Trẻ có thể đọc thơ, kể chuyện diễn cảmdưới sự giúp đỡ của người lớn
Trang 57.4 Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ 4-5 tuổi.
Cấu trúc chủ - vị hạt nhân là mô hình câu chủ yếu trong lời nói của trẻ:Chủ ngữ thường là danh từ: Ví dụ: Bố con là bác sĩ; Áo của bạn Hà; Đồchơi của Vân
Rất ít khi xuất hiện chủ ngữ là một loại từ khác
Vị ngữ phổ biến là động từ Ví dụ: Mẹ con đi chợ; Bố con đi làm
Vị ngữ là danh từ xuật hiện ít hơn: Ví dụ: Đây là búp bê; Mẹ con là côgiáo
Có trường hợp vị ngữ là tính từ: Ví dụ: Áo bạn Quân đẹp, Tóc cô Hà dài Danh từ, động từ, tính từ phát triển thành các nhóm từ Ví dụ: Con thíchnhững quyển sách này; Con đã đọc những quyển truyện này rồi; Búp bê của conrất xinh, rất ngoan
Câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm chiếm20% Ví dụ: Chiều nay bố cho con đi xem phim; Ở công viên Thủ Lệ con gặpcon voi to ơi là to
Câu đơn đặc biệt, rút gọn thường xuất hiện
10% câu ghép chủ yếu là câu ghép đẳng lập- liệt kê và ghép chính phụ –nhân quả, Ví dụ: Bố con đi làm, mẹ con nấu cơm Tại vì bạn Mai đến muộn, côphạt bạn Mai
Các câu chính phụ của trẻ đã có đủ các từ chỉ quan hệ, ý của câu được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn
Ví dụ: Bạn Khánh khóc vì bạn Tâm lấy đồ chơi của bạn Khánh
Các loại câu phức của trẻ cũng được mở rộng Trẻ biết cấu tạo các câuhoàn chỉnh để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điềumong muốn của bản thân
Ví dụ: Cháu thích quả bóng màu xanh này lắm
Tuy vậy, Trẻ dùng từ trong câu còn chưa chính xác (thừa hoặc thiếu), vịtrí sắp xếp các từ trong câu chưa đúng nên câu dài, tối nghĩa
7.5 Đặc trưng của việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp tiếng việt.
Dạy ngữ pháp tiếng việt là dạy các mô hình câu Đây là một đặc trưng củadạy tiếng việt cho trẻ Tiếng việt là loại ngôn ngữ không biến hình (từ giữnguyên hình thức khi hoạt động, phương thức ngữ pháp chủ yếu là phương thứctrật tự từ và sử dụng hư từ) Vì thế, vấn đề từ pháp gần như không được đặt ra.Dựa vào đặc điểm ở tuổi mẫu giáo, trường mầm non chủ yếu rèn luyện cho trẻtập nói các loại câu Trẻ lĩnh hội ngữ pháp bằng bắt chước người lớn
Trang 6Khi dạy trẻ cần dạy mô hình câu từ đơn giản đến phức tạp Cùng với sựphát triển của tư duy, các kiểu câu nói của trẻ cũng phức tạp dần: từ câu đơn hạtnhân đến các câu đơn mở rộng rồi đến các câu ghép.
Dạy ngữ pháp cho trẻ là dạy thực hành Chú ý đến các mô hình câu được
sử dụng trong hoạt động lời nói Câu và nhóm từ luôn luôn phải đặt trong hoạtđộng giao tiếp ngôn ngữ Nhìn chung, dạy các mẫu câu cho trẻ thường phối hợpvới nhiệm vụ phát triển lời nói mạch lạc
Dạy mẫu câu cho trẻ tích hợp trong các giờ học Trong chương trình giáodục mầm non không quy định những giờ chuyên biệt dạy mẫu câu Vì vậy,nhiệm vụ này được thực hiện tích hợp trong các giờ học và các hoạt động khác.Tuy nhiên, những giờ dạy trẻ kể chuyện và giao tiếp có nhiều ưu thế dạy mẫucâu cho trẻ
7.6 Thực trạng của việc dạy trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi nói đúng ngữ pháp tiếng việt tại Trường mầm non Thanh Trù- Thành Phố Vĩnh Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc.
a V nh n th c c a giáo viên.ề nhận thức của giáo viên ận thức của giáo viên ức của giáo viên ủa giáo viên
Stt Họ tên giáo viên Trình độ Phụ trách
7 Trần Thị Kim Tuyến Trung Cấp 4D
38
8 Nguyễn Xuân Quỳnh Cao Đẳng 4D
Các giáo viên đều có sức khỏe tốt, trẻ, yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình trongcông việc và đều được hưởng mọi chế độ và quyền lợi theo đúng Bộ luật laođộng nên các giáo viên đều yên tâm công tác
Qua việc trao đổi thảo luận và dự các hoạt động học tập có chủ đích của 8giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các lớp mẫu giáo 4-5 tuổi, trường mầm nonThanh Trù - Thành Phố Vĩnh Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc Tôi thu được kết quả cụ thểnhư sau:
* Kết quả trao đổi thảo luận:
Trang 7Tiêu chí Kết quả Tỷ lệ %
Giáo viên hiểu rõ được tầm quan trọng của việc dạy
Giáo viên nắm vững được kiến thức về các mẫu câu 4/8 50%Giáo viên chưa nắm vững kiến thức về các mẫu câu 4/8 50%
* Kết quả dự giờ, tổng số giờ dự được: 16 giờ
* Nhận xét chung:
+ Giáo viên đã ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc dạy trẻ nóiđúng mẫu câu tiếng việt Nhưng hầu hết nhận thức của giáo viên còn đơn giảnmới chỉ dừng lại ở hình thức mà chưa đi sâu tìm hiểu
+ Điều cơ bản là giáo viên chưa thật sự chú trọng đến việc rèn luyện chotrẻ nói đủ câu, nói đúng ngữ pháp
+ Giáo viên hầu hết là người địa phương nên khi nói bị ảnh hưởng rất nhiềubởi ngôn ngữ địa phương như nói ngọng giữa chữ L và N
+ Bên cạnh đó giáo viên chưa tạo điều kiện, chưa đưa ra được những tìnhhuống cho trẻ được giao tiếp, được thực hành những mẫu câu đã học vào tronghoàn cảnh cụ thể
+ Thời gian giáo viên dành để trò chuyện với trẻ còn ít Chưa chú ý lắngnghe trẻ nói để kịp thời phát hiện và sửa những lỗi sai cho trẻ trong quá trìnhgiao tiếp
b Về nhận thức của trẻ.
Các cháu trong lớp có độ tuổi đồng đều và sức khỏe tốt Trẻ đi học đều, tỷ
lệ bé ngoan- bé chuyên cần đạt 95-98% Tuy nhiên, trẻ trong lớp còn nhútnhát, thiếu tự tin khi tham gia vào các hoạt động Qua khảo sát việc nói đúngcác mẫu câu tiếng việt của các cháu lớp mẫu giáo 4-5 tuổi , tôi thu được kết quả
cụ thể như sau:
Trang 8Bảng 1: Bảng kết quả khảo sát khả năng sử dụng các mẫu câu tiếng việt của trẻ tại các lớp mẫu giáo 4-5 tuổi , Trường mầm non Thanh Trù.
Câu đơn hạt nhân
Câu có thành phần trạng ngữ
Câu ghép đối lập
Câu ghép chính phụ
Câu theo mục đích nói Số
trẻ đạt
Số trẻ chưa đạt
Số trẻ đạt
Số trẻ chưa đạt
Số trẻ đạt
Số trẻ chưa đạt
Số trẻ đạt
Số trẻ chưa đạt
Số trẻ đạt
Số trẻ chưa đạt
Số trẻ biết sử dụng tốt các mẫu câu ghép còn ít
Kỹ năng sử dụng các mẫu câu tiếng việt của trẻ trong quá trình giao tiếpcòn nhiều hạn chế
c.Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tiếng việt.
Qua quá trình điều tra và khảo sát việc dạy trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói đúngmẫu câu, tại trường mầm non thanh Trù - Thành phố Vĩnh Yên- Tỉnh VĩnhPhúc, tôi đã tìm ra được một số điểm thuận lợi và khó khăn như sau:
* Về thuận lợi.
Luôn được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường
Các nhóm lớp được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện và trangthiết bị dạy học
Giáo viên được tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn do nhàtrường và do các cấp tổ chức
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên trẻ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ,được sự tín nhiệm và ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh
Trẻ trong lớp có độ tuổi đồng đều, tỷ lệ bé ngoan bé chuyên cần đạt:
Trang 9Một số giáo viên chưa chú ý lắng nghe để phát hiện và kịp thời sửa nhữnglỗi sai cho trẻ.
Một số giáo viên phát âm còn chưa chuẩn, sử dụng các mẫu câu chưachính xác
Trẻ nhút nhát chưa mạnh dạn tự tin khi giao tiếp
Nhiều trẻ và phụ huynh nói ngọng do ảnh hưởng của ngôn ngữ địaphương
7.7 Một số biện pháp dạy trẻ 4-5 tuổi nói đúng ngữ pháp tiếng việt
a Biện pháp 1: Sử dụng hệ thống câu hỏi đàm thoại.
Đàm thoại là hình thức trò chuyện nhưng có sự chuẩn bị trước về nộidung, có mục đích và được thực hiện trên tiết học Đàm thoại được sử dụng đểdạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói liên kết
Qua đàm thoại, từ những câu hỏi định hướng vào những nội dung nhấtđịnh buộc trẻ phải chú ý suy nghĩ để trả lời, buộc trẻ phải đặt câu, phải diễn đạt
để thể hiện những suy nghĩ của mình Đồng thời đàm thoại cũng là cách thứccung cấp cho trẻ những mẫu câu chính xác
Đàm thoại vừa là hình thức vừa là phương pháp phát triển ngôn ngữ chotrẻ đặc biệt là trong việc dạy trẻ nói đúng mẫu câu tiếng việt Để chuẩn bị tốtcho đàm thoại giáo viên cần cung cấp những kiến thức, khắc sâu những biểutượng về nội dung cần đàm thoại từ trước khi tổ chức buổi đàm thoại
Đàm thoại phải nhẹ nhàng thoải mái, không áp đặt trẻ, nội dung đàm thoạiphải đầy đủ, có ý nghĩa, không đi lệch đề tài và phải hướng vào mẫu câu cầnrèn, cần hình thành cho trẻ
Đàm thoại không đặt nhiều câu hỏi quá vụn vặt mà câu hỏi phải đa dạng,đảm bảo tính phát triển, tính mục đích đồng thời khuyến khích sự tư duy của trẻ,khuyến khích trẻ nêu nhận xét, trình bày ý kiến sự hiểu biết của mình
Biện pháp đàm thoại có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp biệnpháp khác như phương pháp trực quan, thực hành…
Nhận thức được vai trò của việc đàm thoại đối với việc dạy trẻ nói đúngngữ pháp tiếng việt, tôi đã tích cực chú ý trò chuyện, đàm thoại với trẻ thường
Trang 10xuyên hơn theo một chủ đề hoặc theo hứng thú của trẻ, trong khi trò chuyện tôiđặt ra những tình huống để dẫn trẻ vào việc sử dụng các mẫu câu mà tôi địnhluyện cho trẻ.
Ví dụ: Trò chuyện với trẻ về đồ dùng trong lớp học của bé.
Trẻ sẽ kể trong lớp có những đồ dung gì (quạt, tủ, bàn, ghế,…) tôi đãhướng trẻ vào các mẫu câu có các nhóm danh từ: Những cái bàn này, những cáighế kia… và câu có trạng ngữ chỉ mục đích: Đây là những quyển sách; nhữngquyển sách ấy cô mua để các cháu học; hoặc Đây là những cái tủ để đựng quần
áo, giày dép,…
Ví dụ: Trò chuyện về chủ đề: Gia đình, trẻ sẽ nói về những người trong
gia đình, đồ dùng trong gia đình, nhu cầu của gia đình Những nội dung tròchuyện, đàm thoại đó sẽ làm xuất hiện các kiểu câu khác nhau như: Bố đưa con
đi chơi ở công viên, Nhà con có ti vi, tủ lạnh, bàn ghế
Trong quá trình đàm thoại tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi để dẫn dắt trẻ
sử dụng các mẫu câu cô định rèn cho trẻ Chẳng hạn, tôi định rèn luyện cho trẻ
sử dụng một số câu ghép, tôi đã tạo ra một hệ thống câu hỏi buộc trẻ phải trả lờibằng các câu ghép
Ví dụ: Sau khi kể cho trẻ chuyện: Cô bé quàng khăn đỏ Cô hỏi trẻ.
Tại sao mọi người gọi cô là cô bé quàng khăn đỏ? “Trẻ phải trả lời: Bởi vì
cô bé thích quàng khăn đỏ nên người ta gọi cô là cô bé quàng khăn đỏ” Sử dụngcặp từ quan hệ: Bởi vì…nên
Nếu cô bé nghe lời mẹ thì sao? “Trẻ sẽ trả lời: Nếu cô bé nghe lời mẹ thì
Bà Ngoại của cô sẽ không bị con sói ăn thịt” Sử dụng cặp từ: Nếu thì
Một điều quan trọng mà rất nhiều giáo viên không chú ý khi trò truyệnđàm thoại với trẻ đó là không dành thời gian cho trẻ suy nghĩ trả lời câu hỏi, nóilên suy nghĩ của trẻ mà giáo viên thường đặt câu hỏi rồi lại tự mình trả lời vì sợtrẻ không trả lời được Cho nên một số hoạt động chủ yếu do giáo viên độc thoại
mà trẻ ít được hoạt động, ít được trao đổi thảo luận, ít được nói Chính vì vậy,sau mỗi một vấn đề tôi luôn luôn dành thời gian để trẻ suy nghĩ, trao đổi thảoluận với nhau và trả lời câu hỏi, bày tỏ ý kiến của mình trước tập thể
Khi trò chuyện, đàm thoại với trẻ, tôi sử dụng lời nói nhẹ nhàng, tình cảmvới ngữ điệu khác nhau, xen kẽ các loại câu hỏi thu hút sự chú ý lắng nghe củatrẻ Đồng thời tôi luôn kích thích trẻ nói các từ, các câu, nói được những hiểubiết của trẻ về chủ đề mà tôi đang trò chuyện với trẻ
b Biện pháp 2: Sử dụng lời nói mẫu.
Trang 11Sử dụng lời nói mẫu giúp trẻ định hình, nhận biết được các mẫu câu tiếngviệt một cách dễ dàng, chính xác.
Lời nói mẫu là lời nói cụ thể đảm bảo chuẩn mực về ngữ pháp tiếng việt,
để trẻ học theo Đây là phương pháp cô giáo tạo ra các mẫu câu khác nhau, cônói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ lặp lại theo mẫu
Mẫu câu cô đưa ra phải đạt được các yêu cầu sau:
Câu phải đầy đủ thành phần chính (chủ ngữ- vị ngữ)
Từ ngữ trong câu phải chính xác, sắp xếp đúng trật tự của câu tiếng việt.Nội dung thông báo của câu phải đơn giản, rõ ràng
Mẫu câu đưa ra phải từ những mẫu câu đơn giản đến những mẫu câu phứctạp như: Dạy trẻ câu đơn trước sau đó mới dạy đến những câu ghép, câu ghépchính phụ, câu ghép đẳng lập…
Muốn cho trẻ làm quen với mô hình câu, cô giáo phải xây dựng kế hoạch,xây dựng các mô hình câu và thường xuyên cho trẻ luyện tập
Trẻ mầm non học nói chủ yếu bằng cách bắt chước Vì thế cô phải làmmẫu cho trẻ Lời nói mẫu của cô phải đảm bảo chuẩn mực về phương diện ngữpháp Chính vì vậy trong quá trình dạy trẻ nói đúng các mẫu câu, tôi luôn lựachọn chủ đề phù hợp với mẫu câu sẽ sử dụng và để hình thành các mẫu câu dạytrẻ tập nói, tôi đặt các câu hỏi Mô hình câu hỏi sẽ ứng với mô hình mẫu câu sẽdạy Sau khi đặt câu hỏi, tôi trả lời mẫu một câu hoặc vài câu rồi hướng dẫn trẻtập nói
Ví dụ: Cô hỏi: Con gì nằm trên bàn?
Trẻ trả lời: Con mèo nằm trên bàn (Câu đơn)
Cô hỏi: Con gì nằm trên bàn kêu meo meo?
Trẻ trả lời: Con mèo nằm trên bàn kêu meo meo (Câu phức)
Tôi thường lặp đi lặp lại một cách có ý thức những mô hình câu Trẻ nghenhiều lần sẽ bắt chước, ghi nhớ và khi giao tiếp trẻ sẽ vận dụng những mẫu câu
đó một cách tự nhiên
Tôi luôn chú ý xây dựng các mẫu vừa đa dạng về hình thức vừa gần gũi
về nội dung để tránh sự đơn điệu khi dạy trẻ Mỗi giờ hoạt động tôi vừa củng cốcác mẫu câu đã có, vừa cung cấp các mẫu câu mới
Ví dụ: Trẻ kể chuyện theo đề tài “Ngày nghỉ của bé”
Ngoài những mẫu câu đơn: Chủ -Vị, tôi đã phát triển các mẫu câu cótrạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm: Hôm qua, con cùng bố mẹ đi siêu thị Ở trongsiêu thị có rất nhiều đồ chơi đẹp,…