1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn học để giải quyết các yêu cầu của đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn

54 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 89,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học có khả năng phá vỡ giới hạntồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đem lại khả năng sốngcuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.->Giá trị nhận thức

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Lí luận văn học là một bộ môn của khoa học nghiên cứu văn học Nó cónhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội - thẩm mĩ và quy luật phát triển củasáng tác văn học Do đó nó có tác dụng xác định phương pháp luận và phương phápphân tích, cảm thụ văn học Đây là vấn đề quan trọng không những cho người sángtác mà còn đặc biệt quan trọng đối với người học văn Nhờ kiến thức lí luận mà họcsinh có thể nhận thức đúng vấn đề nghị luận Khi làm bài, học sinh biết nhận xét,đánh giá, bình luận vấn đề; hiểu đúng đắn, sâu sắc những khái niệm, thuật ngữ vănhọc Có thể nói, lí luận văn học đóng vai trò mở đường, nó như chiếc chìa khóa giúpngười học văn “mở cửa” để đi vào khám phá văn học từ quy mô rộng (một nền vănhọc) hay quy mô hẹp (tác phẩm văn học)

Trong các kì thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh và cấp Quốc gia những nămgần đây, đề thi đều yêu cầu phải vận dụng kiến thức lí luận văn học để giải quyếtvấn đề Song trên thực tế, bài làm của học sinh dễ “bỏ ngỏ” phần lí luận văn họchoặc hiểu chưa sâu, chưa đúng các khái niệm, thuật ngữ văn học Hơn nữa, tri thức líluận văn học được đưa vào giảng dạy ở bậc THPT còn rất ít ỏi Trong phân phốichương trình toàn cấp học, học sinh được học 05 bài lí luận văn học với thời lượng

là 9 tiết/333 tiết Vậy khi bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài việc trang bị kiến thức vềtác phẩm, cần cung cấp thêm kiến thức lí luận văn học nào, rèn cho các em kĩ năngvận dụng kiến thức đó ra sao quả là điều không đơn giản

Xuất phát từ thực tiễn trong quá trình ôn thi học sinh giỏi, tôi tiến hành

thực hiện chuyên đề “Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn học

để giải quyết các yêu cầu của đề thi học sinh giỏi môn Ngữ Văn” với mong

muốn đem đến cho các thầy cô giáo và các em học sinh một tài liệu tham khảohữu ích, cũng là góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ởtrường phổ thông nói chung

2 Tên sáng kiến:

Trang 2

“Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn học để giải quyết các yêu cầu của đề thi học sinh giỏi môn Ngữ Văn”.

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết Nhung

- Địa chỉ: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

I Những kiến thức lí luận văn học cần bồi dưỡng cho học sinh

1 Giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Trang 3

- Mỗi người chỉ sống trong một khoảng thời gian nhất định, ở những không giannhất định với những mối quan hệ nhất định Văn học có khả năng phá vỡ giới hạntồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đem lại khả năng sốngcuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.

->Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của conngười muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộc sốngmột cách có hiệu quả

* Biểu hiện:

- Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: nhận thức nhiều mặt của cuộc sốngvới những thời gian, không gian khác nhau (Quá khứ, hiện tại, tương lai, các vùngđất, các dân tộc, phong tục, tập quán,…)

- Quá trình tự nhận thức của văn học: người đọc hiểu được bản chất của con ngườinói chung (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh của con người); từ đó

+ Về tư tưởng: Văn học hình thành trong con người một lí tưởng tiến bộ, giúp học

có thái độ và quan điểm đúng đắn về cuộc sống

+ Về tình cảm: Văn học giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, làm cho tâm hồncon người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn

Trang 4

+ Về đạo đức: Văn học nâng đỡ cho nhân cách con người phát triển, giúp cho họbiết phân biệt phải-trái, tốt - xấu, đúng - sai, có quan hệ tốt đẹp và biết gắn bócuộc sống của cá nhân mình với cuộc sống của mọi người

- Đặc trưng giáo dục của văn học là từ con đường cảm xúc đến nhận thức, tự giáodục (khác với pháp luật, đạo đức,…) Văn học cảm hóa con người bằng hình tượng,bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp nên nó giáo dục một cách tự giác, thấm sâu, lâu bền.Văn học không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng conngười tới những hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn

1.1.3 Giá trị thẩm mĩ

* Cơ sở:

- Con người luôn có nhu cầu cảm thụ, thưởng thức cái đẹp

- Thế giới hiện thực đã có sẵn cái đẹp nhưng không phải ai cũng có thể nhận biết vàcảm thụ Nhà văn, bằng năng lực của mình đã đưa cái đẹp vào tác phẩm một cáchnghệ thuật, giúp người đọc vừa cảm nhận được cái đẹp cuộc đời vừa cảm nhận đượccái đẹp của chính tác phẩm

-> Giá trị thẩm mĩ là khả năng của văn học có thể đem đến cho con người nhữngrung động trước cái đẹp (cái đẹp của cuộc sống và cái đẹp của chính tác phẩm)

1.1.4 Mối quan hệ giữa các giá trị văn học

- Ba giá trị có mối quan hệ mật thiết, không tách rời, cũng tác động đến người đọc

(khái niệm chân - thiện - mĩ của cha ông).

Trang 5

- Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục Giá trị giáo dục làm sâu sắcthêm giá trị nhận thức Giá trị thẩm mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dụcđược phát huy Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục đượccon người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động Tuy nhiên, giá trị nhận thức là giáo trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tíchcực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ - giá trị tạo nên đặc trưngcủa văn học.

1.2 Tiếp nhận văn học

1.2.1 Tiếp nhận trong đời sống văn học

- Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hoà mình vào tác phẩm, rung động với

nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng tai nghetiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sángtạo Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hoá và bằng cả tâm hồn mình,người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hìnhảnh, hình tượng, nhân vật,…làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thànhmột thế giới sống động, đầy sức cuốn hút

-> Tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằmbiến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình

- Tính đa dạng, không thống nhất: Cảm thụ, đánh giá của công chúng về một tácphẩm rất khác nhau, thậm chí cùng một người ở nhiều thời điểm có nhiều khác nhautrong cảm thụ đánh giá Nguyên nhân ở cả tác phẩm (nội dung phong phú, hình

Trang 6

tượng phức tạp, ngôn ngữ đa nghĩa,…) và người tiếp nhận (tuổi tác, kinh nghiệm,học vấn, tâm trạng,…)

1.2.3 Các cấp độ tiếp nhận văn học

- Có ba cấp độ tiếp nhận văn học:

+ Cấp độ thứ nhất: cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp củatác phẩm, nội dung trực tiếp của tác phẩm Đây là cách tiếp nhận đơn giản nhưngkhá phổ biến

+ Cấp độ thứ hai: cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy được nội dung tư tưởngcủa tác phẩm

+ Cấp độ thứ ba: cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được giá trị tưtưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

- Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần:

+ Nâng cao trình độ

+ Tích luỹ kinh nghiệm

+ Trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn.+ Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cáiđúng

+ Không nên suy diễn tuỳ tiện

2 Nội dung và hình thức trong văn bản văn học

2.1 Các khái niệm về nội dung văn bản văn học

2.1.1 Đề tài

Đề tài là phạm vi cuộc sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá

và thể hiện trong văn bản Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý

Trang 7

văn bản rất ngắn, đề tài lại rất hẹp nhưng chủ đề đặt ra lại hết sức lớn lao (chẳng hạn

bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương)

2.1.3 Cảm hứng nghệ thuật

Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản Những trạng tháitâm hồn, những cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽtruyền cảm và hấp dẫn người đọc Qua cảm hứng nghệ thuật, người đọc cảm nhậnđược tư tưởng, tình cảm của tác giả nêu trong văn bản

2.1.4 Tư tưởng

Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tácgiả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc Tư tưởng là linh hồn của vănbản văn học

2.2 Các khái niệm thuộc về hình thức văn bản văn học

2.2.1 Ngôn từ

- Ngôn từ là yếu tố đầu tiên, là vật liệu, công cụ, lớp vỏ đầu tiên của tác phẩm vănhọc

- Ngôn từ hiện diện trong từ ngữ, câu đoạn, hình ảnh, giọng điệu của văn bản

- Được nhà văn chọn lọc hàm súc, đa nghĩa mang dấu ấn của tác giả

2.2.3 Thể loại

- Thể loại là những quy tắc tổ chức hình thức văn bản phù hợp với nội dung vănbản: thơ, tiểu thuyết, kịch…

Trang 8

- Mỗi thể loại được biến đổi theo thời đại và mang sắc thái cá nhân của tác giả.Cần lưu ý: không có hình thức nào là "hình thức thuần tuý" mà hình thức bao giờcũng "mang tính nội dung” Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm,cần chú ý mối quan hệ hữu cơ, lôgic giữa hai mặt nội dung và hình thức của một tácphẩm một cách thống nhất, toàn vẹn.

3 Văn học - Nghệ thuật ngôn từ

3.1 Vì sao văn học là nghệ thuật của ngôn từ ?

- Mỗi bộ môn nghệ thuật đều có một chất liệu riêng tạo nên đặc trưng của hìnhtượng Nếu âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét và màu sắc, điêu khắcdùng mảng khối thì văn học chọn ngôn từ làm chất liệu

- Ngôn từ văn học vốn không như ngôn từ ta hay dùng trong sinh hoạt hằng ngày.Ngôn ngữ đời sống dùng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày là chủ yếu, có tácdụng nhận và phát thông tin nên người ta thường đơn giản ngôn từ đến mức tối đasao cho người nghe dễ hiểu, dễ tiếp thu là được Ngôn từ văn học vốn bắt nguồn từngôn ngữ của quần chúng lao động nhưng nó lại không dùng một cách đơn giản nhưlời nói thông thường Từ lời nói thô mộc thông thường, chỉ có ý nghĩa thông báonhất thời, nhà văn đã nhào nặn và tái tạo lại nó, khoác cho nó tấm áo mới Bấy giờ,lời nói bình thường trở thành ngôn ngữ nghệ thuật, có tác dụng thể hiện cái vô cùng,

vô tận của cuộc đời tâm hồn con người một cách hình tượng Nó gợi dậy những cảmxúc nơi độc giả, cho ta cảm giác mới mẻ và trong ngần Mỗi từ, mỗi câu như khêugợi một cái gì lớn hơn, tràn ra ngoài nó, tạo dựng ý ngoài lời, hình thành một chỉnhthể hình tượng mới mẻ

- Mặt khác, sở dĩ nói văn học là nghệ thuật ngôn từ là vì đó là cách sử dụng từ ngữđầy nghệ thuật của nhà văn Ngôn từ văn học mang tính tổ chức cao để khi đọc lên,độc giả có thể cảm nhận được cuộc sống và nỗi lòng người viết, từ đó tác phẩm nằmlại ở trong tim độc giả

3.2 Đặc điểm của ngôn từ văn học.

3.2.1 Tính chính xác và tinh luyện.

Trang 9

- Trong đời sống cũng như trong văn học, chính xác là yếu tố rất quan trọng trongviệc dùng ngôn ngữ Để diễn tả cho ra được đúng và chính xác cái thần của người vàviệc thì từng câu từng chữ cũng phải thật chính xác, chi tiết và cụ thể Qua cách lựachọn từ ngữ, ta còn thấy được tài năng của nhà văn: gọi đúng tên, đúng bản chất đối

tượng Mỗi từ trong văn học là duy nhất, không có từ nào thay thế Dù đối tượng anh viết là ai đi nữa thì cũng chỉ có một từ để nói

- Các nhà văn lớn đều là những bậc thầy trong việc dùng từ

3.2.3 Tình hình tượng.

- Tính hình tượng là quan trọng nhất Tính hình tượng biểu hiện ở việc làm sống dậyhiện thực trong tâm trí độc giả, tái hiện được trạng thái, truyền được động tác hoặc

sự vận động của con người, cảnh vật và toàn bộ thế giới mà tác phẩm nói tới Ngoài

ra, nó còn biểu hiện ở sự nắm bắt những cái mơ hồ, mong manh, vô hình chứ khôngchỉ dừng lại ở những cái hữu hình

- Cơ sở từ trong nội dung của lời nói nghệ thuật nằm ở tính hình tượng Nhà văn viết

ra những câu chữ ấy, không chỉ để giải tỏa tâm sự mà còn thể hiện tư tưởng, tìnhcảm của giai cấp mình, tầng lớp mình Lời nói tuy là của chủ thể sáng tạo nhưng lại

mang tầm vóc khái quát là ở chỗ đó Nhà văn đại diện cho giai cấp, thế hệ mình đang sống, thay họ cất tiếng nói.

- Mặt khác, trong văn học, sức mạnh của lời nói nằm ở tầm khái quát của chủ thểhình tượng, ở khả năng đại diện cho tư tưởng, tình cảm, lương tâm của thời đại chứ

không phải phụ thuộc vào địa vị xã hội của nhà văn Từ phương trời của một người

mà thành phương trời của nhiều người, tác phẩm từ đó trường tồn mãi với thời

gian

3.2.4 Tính biểu cảm.

Trang 10

- Nghệ thuật nói bằng thứ tiếng duy nhất: thứ tiếng của cảm xúc Bản chất ngườinghệ sĩ là giàu tình cảm và nhạy bén trước cuộc đời Do đó, ngôn từ văn học mangtính biểu cảm Nó biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau : gián tiếp hay trực tiếp, cóhình ảnh hay chỉ là thuần túy, rõ nhất là khi nhấn mạnh những cảm xúc nội tâm.

- Hình tượng nghệ thuật là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độc giả.Hình tượng là thế giới sống do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ Gọi là hìnhtượng vì một mặt, nó cũng sống động và hấp dẫn y như thật, nhưng mặc khác nó chỉtồn tại trong trí tưởng tượng con người, nó không phải là sự thật trăm phần trăm.Nhưng, thật sai lầm nếu chỉ quan niệm hình tượng nghệ thuật chỉ là phản quang đơnthuần của đời sống Hình tượng, một mặt nó vừa mang tính khách quan, mặt khácvừa mang tính chủ quan của nghệ sĩ

3.3 Tính “phi vật thể” của hình tượng văn học.

- Âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét, điêu khắc dùng mảng khối để

xây dựng hình tượng Những chất liệu đó đều mang tính “vật chất”, tức có thể nhìn,nghe, cảm nhận được bằng giác quan, nó khác với ngôn từ của văn học Ngôn từ tồntại trong trí óc, không thể sờ, thấy hay cảm nhận bằng những cách thông thường, màbuộc độc giả phải thâm nhập, cảm nhận và tưởng tượng như mình đang sống chungvới hình tượng Độc giả buộc phải nhập cuộc, đau nỗi đau của người trong cuộc thìmới có thể cảm nhận rõ những gì mà nhà văn viết ra

- Nhờ dùng chất liệu ngôn từ mà bức tranh đời sống không bị hạn chế về không gian,thời gian Những gì tinh vi, mong manh, mơ hồ, ngay cả tâm trạng sâu thẳm của conngười đều có thể mô tả trực quan, sinh động bằng từ ngữ

4 Phong cách văn học

4.1 Khái niệm.

- Phong cách văn học là khái niệm dùng để chỉ tính độc đáo có ý nghĩa thẩm mĩ củamột hiện tượng văn học Cái gọi là hiện tượng văn học này bao gồm phạm vi rấtrộng, từ nền văn học của một dân tộc, một thời đại, một trào lưu, một trường phái tớitoàn bộ sáng tác của một nhà văn, thậm chí tới những tác phẩm văn học riêng lẻ…

- Trong khái niệm phong cách văn học có bao hàm khái niệm PCNT của nhà văn:

Trang 11

+ Đó là những nét riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức vàphản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung

và hình thức của từng tác phẩm cụ thể Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện tàinghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộcđời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cánhân của người sáng tạo

+ Phong cách văn học còn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Cho nên trongphong cách riêng của mỗi tác giả, người ta có thể nhận ra diện mạo tâm hồn, tính

cách của một dân tộc và "Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời" (Tô Hoài) Chẳng hạn, qua những biểu hiện của phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, có thể thấy nét riêng của tâm hồn Việt Nam và dấu ấn của một thời "dâu bể"

4.2 Những biểu hiện cơ bản của phong cách văn học:

- Cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá, giọng điệu riêng biệt của tác giả.

Ví dụ: Cùng là nhà văn hiện thực nhưng Ngô Tất Tố quan tâm đến số phận ngườiphụ nữ trong xã hội, Nguyễn Công Hoan vạch trần bản chất những trò lố nực cười,còn Nam Cao lại miêu tả tấn bi kịch của người trí thức

Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến giọng điệu triết lý, nhắc đến Vũ Trọng Phụng lànhắc đến giọng điệu trào phúng Giọng điệu trào phúng của Nguyễn Khuyến thìhóm hỉnh, thâm trầm trong khi tiếng cười của Tú Xương lại châm biếm sâu cay, đảkích quyết liệt…

- Sự sáng tạo các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm: lựa chọn đề tài, xác định chủ

đề, thể hiện nhân vật, triển khai cốt truyện, xác lập tứ thơ, hình ảnh thơ,

Nói đến Nam Cao là người ta nghĩ ngay tới một nhà văn của "những kiếp lầmthan”, một người cầm bút với tâm hồn rộng mở để đón nhận "những vang động củađời" Nhắc tới Xuân Diệu là người đọc nhớ về một hồn thơ luôn khát khao giao cảmvới đời, luôn nồng nàn, say đắm trong tình yêu…

Trang 12

- Hệ thống phương thức biểu hiện và các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm: thể

loại, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu, cách kể chuyện, miêu tả, bộc lộ nội tâm,câu văn, giọng điệu, nhạc điệu,

Tô Hoài nổi tiếng là nhà văn giỏi miêu tả phong tục, giỏi khắc hoạ nét đẹp riêngtrong cảnh vật và tính cách con người của một vùng đất Nguyễn Tuân xứng đángvới danh hiệu bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ với khả năng sáng tạonhững từ ngữ, hình ảnh mới lạ, bất ngờ; những câu văn giàu chất nhạc, chất hoạ, linhhoạt như "biết co duỗi nhịp nhàng"

- Phong cách văn học là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác Cái độc

đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững, nhấtquán.Thống nhất từ cốt lõi, nhưng sự triển khai phải đa dạng, đổi mới:

Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập rất hào hùng, đanh thép, sắc bén, nhưng trong Quốc âm thi tập lại u hoài, trầm lắng, suy tư Hồ Chí

Minh trong truyện và kí thì hiện đại nhưng thơ chữ Hán lại mang sắc thái phươngĐông cổ kính, thơ tiếng Việt đậm cốt cách dân gian

- Phong cách còn phải có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là nó phải đem lại cho người

đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm dồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật Chỉkhi đó vẻ đẹp của phong cách từng tác giả mới được lưu giữ bền vững trong lòngngười đọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và trường tồn cùng với thời gian và lịch sử

5 Một số thể loại văn học: Thơ, truyện

Trang 13

5.1.1 Quan niệm về thơ

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng,những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp

điệu (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H, 1999).

5.1.2 Một số cách phân loại thơ

Lâu nay giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại thơ Cụ thể:

- Theo nội dung biểu hiện có thơ trữ tình (đi vào tâm tư tình cảm, những chiêmnghiệm của con người về cuộc đời, ví dụ như bài Tự tình của Hồ Xuân Hương), thơ

tự sự (cảm nghĩ vận động theo mạch kể chuyện, ví dụ như bài Hầu Trời của TảnĐà), thơ trào phúng (phê phán, phủ nhận cái xấu theo lối mỉa mai, đùa cợt, ví dụ nhưbài Vịnh Khoa thi Hương của Tú Xương)

- Theo cách thức tổ chức bài thơ có thơ cách luật (viết theo luật đã định trước, ví dụcác loại thơ Đường, lục bát, song thất lục bát,…), thơ tự do (không theo niêm luật cósẵn), thơ văn xuôi (câu thơ giống như câu văn xuôi, nhưng giàu nhịp điệu hơn)

- Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, một số nhà nghiên cứu còn dựavào thời gian xuất hiện để chia thơ thành các loại:

+ Thơ trữ tình dân gian: Ca dao - những sáng tác trữ tình dân gian, diễn tả đời sốngnội tâm của con người Ca dao không mang dấu ấn cá nhân tác giả như thơ trữ tình(của văn học viết) Trong ca dao, những tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vậttrữ tình và cách thể hiện thế giới nội tâm của các kiểu nhân vật này đều mang tínhchất chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… Bất cứ ai, nếu thấy cadao phù hợp, đều có thể sử dụng, xem đó là tiếng lòng mình Vì thế, ca dao được coilà" thơ của vạn nhà", là tấm gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc Tuy nhiên,trong cái chung đó mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo

+ Thơ trữ tình trung đại: do đặc điểm hệ tư tưởng thời đại mà thơ ở thời đại nàythường nặng tính tượng trưng, ước lệ, tính quy phạm và tính phi ngã Chủ thể trữtình trong thơ trung đại thường là cái tôi đại chúng, cái tôi “siêu cá thể” Nội dungthơ trữ tình trung đại thường nặng về tỏ chí và truyền tải đạo lí

+ Thơ trữ tình hiện đại: thuộc loại hình Thơ mới, xuất hiện từ đầu thế kỷ XX vàphát triển cho đến ngày nay Do nhu cầu đề cao mạnh mẽ của cái tôi của thi sĩ, nên

Trang 14

màu sắc cá thể của cảm xúc in đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, cácbiện pháp tu từ hay ngữ điệu, giọng điệu Lời thơ thường linh hoạt, uyển chuyển hơn

so với thơ cũ

Ở nước ta lâu nay vẫn còn tồn tại quan niệm dựa vào nội dung để chia thơ thành cácloại: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng, thơ cách mạng (có nội dung tuyên truyềnchính trị, cổ vũ chiến đấu bảo vệ đất nước)

Nhìn chung, mọi cách phân chia trên đây đều mang tính chất tương đối Bởi thơ nào

mà chẳng trữ tình, dù ít dù nhiều loại thơ nào cũng theo thi luật nhất định (theo đặctrưng của thơ, của ngôn ngữ, dung lượng,…) Mặt khác, những bài thơ trữ tình biểu

lộ tình cảm trước thiên nhiên đất trời, giang sơn gấm vóc cũng là một “kênh” thểhiện lòng yêu nước,… Tuy vậy, việc phân chia thơ thành các loại khác nhau là cầnthiết, phục vụ cho việc nghiên cứu, đọc – hiểu và thẩm bình tác phẩm một cáchthuận lợi hơn

5.1.3 Đặc trưng của thơ.

- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình Thơ tác độngđến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phongphú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau, nhưng dù thuộc loại hìnhnào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm

- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người trực tiếpcảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện Nhân vật trữ tình là cáitôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà thơ Tuy vậy,không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả

- Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc

đời Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”

- Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơchân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhânloại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này

Trang 15

- Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít nhất một sựkiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bảnthơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy

- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch) Hệquả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông qua hìnhtượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiếttấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới cóchuyện “ý tại ngôn ngoại” Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thực hiệnvai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăntrở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tưduy nghệ thuật của mỗi nhà thơ

- Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống kháchquan Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của thơ có được còn do ngôn ngữ thơ

cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu Sự phân dòng, và hiệp vần của lờithơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâucủa ý thơ

- Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự sắp xếp các dòng(câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình Đồng thời, sựhiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nêntính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy củavăn bản thơ Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữhình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không đượcthông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểutượng thơ gợi lên Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiềukhoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phảichủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ýthơ bên trong

5.1.4 Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ

Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, cần tiến hành theo các bước sau đây:

Trang 16

- Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là cơ sởban đầu để tiếp cận tác phẩm.

- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ Qua việc đọc, phải xác định đượcchủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng: cái tôi trữ tình

và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình và giọng điệu chủ đạocủa bài thơ

- Cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, cácbiện pháp tu từ,…

- Lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nội dung và nghệ thuật.Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tác giả (thể hiện qua tác phẩm) cho thơ

và cho cuộc sống con người

5.2 Truyện

5.2.1 Quan niệm về truyện.

Truyện là loại văn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc Tryện có cốt truyện, có nhânvật Qui mô truyện thường lớn hơn thơ Truyện phần lớn được viết bằng văn xuôi,bên cạnh đó cũng có loại văn vần Khác với thơ thiên về cái đẹp, xúc cảm và sự côđọng, truyện có khả năng đi sâu vào từng khía cạnh ngóc ngách phức tạp của cuộcsống và của tâm hồn

5.2.2 Phân loại truyện.

- Văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,

- Văn học trung đại: có truyện viết bằng chữ Hán và chữ Nôm

- Văn học hiện đại: có truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài

5.2.3 Đặc trưng của truyện.

- Truyện phản ánh hiện thực trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi,

sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người nào đó

- Truyện thường có cốt truyện, nhân vật, tình huống được miêu tả chi tiết, sốngđộng gắn với hoàn cảnh

- Phạm vi miêu tả không bị hạn chế bởi thời gian và không gian

- Ngôn ngữ truyện có lời người kể chuyện, lời nhân vật… Ngôn ngữ linh hoạt gầnvới đời sống

Trang 17

5.2.4 Yêu cầu về đọc truyện.

- Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác… để có cơ sở cảm nhận đúng nộidung của truyện

- Phân tích diễn biến cốt truyện qua các phần mở đầu, vận động, kết thúc, với cáctình tiết, sự kiện, biến cố cụ thể

- Phân tích nhân vật: ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ…

- Xác định vấn đề của truyện đặt ra, ý nghĩa tư tưởng, giá trị của truyện trên cácphương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ

- Xét theo nội dung và ý nghĩa của xung đột: bi kịch, hài kịch, chính kịch

- Xét theo hình thức ngôn ngữ trình diễn: kịch thơ, kịch nói, ca kịch

+ Nhân vật kịch : bằng lời thoại và hành động thể hiện chủ để vở kịch

- Cốt truyện của kịch : phát triển theo xung đột kịch qua các giai đoạn : mở đầu –thắt nút – phát triển – đỉnh điểm – giải quyết

- Ngôn ngữ kịch: mang tính hành động và khẩu ngữ: gồm đối thoai, độc thoại, bàngthoại => nổi bật tính cách nhân vật

Trang 18

+ Lời đối thoại: lời của các nhân vật nói với nhau.

+ Lời độc thoại: lời của nhân vật bộc lộ tâm tư, tình cảm của bản thân

+ Bàng thoại: lời nhân vật nói riêng với người xem

5.3.4 Yêu cầu về đọc kịch bản văn học:

- Đọc kĩ phần giới thiệu, tiểu dẫn để hiểu biết về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh rađời, vị trí đoạn trích

- Chú ý lời thoại của các nhân vật (xác định quan hệ của các nhân vật, tính cáchnhân vật)

- Phân tích hành động kịch (làm nổi bật xung đột, diễn biến cốt truyện)

- Nêu chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của tác phẩm

+ Phơi bày chân thực, sâu sắc cuộc sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay tinh thầncủa những con người bé nhỏ, bất hạnh

+ Chỉ ra nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người

+ Miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người

Trang 19

Ở mỗi một tác phẩm cụ thể, giá trị hiện thực được biểu hiện đa dạng Cùng phảnánh tình cảnh khốn quẫn của người nông dân Việt Nam trước cách mạng, Ngô Tất

Tố miêu tả nỗi chật vật về vật chất của chị Dậu vì nạn sưu cao thuế nặng, một cổnhiều tròng, Nguyễn Công Hoan phơi bày chân thực sự cùng đường tuyệt lộ của

người nông dân (Bước đường cùng), Nam Cao lại đi vào mảng hiện thực sâu kín

nhất, tăm tối nhất – địa hạt tâm lí để lột trần bi kịch bị tha hoá, nỗi đau tinh thầnkhắc khoải của những con người dưới đáy của xã hội – Chí Phèo

- Vai trò:

+ Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc hay hời hợt của nhà văn

+ Dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị

6.2 Giá trị nhân đạo

- Là gì:

+ Hạt nhân: lòng yêu thương con người

+ Đối tượng: thường là nỗi khổ

- Biểu hiện:

+ Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, bất hạnh

+ Tố cáo các thế lực gây ra đau khổ cho con người

+ Phát hiện, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người bất hạnh.+ Đồng tình với những ước mơ và khát vọng chính đáng của con người

Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những khía cạnh có sự biến đổi phong phú, linh hoạt.Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương sâu sắc,Ngô Tất Tố khám phá ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống, thuỷ chung, không tì vết; KimLân phát hiện ra nét nữ tính và khát vọng hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợnhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao -Mị…

- Vai trò:

+ Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn

Trang 20

“Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ” (Biêlinxki)

+ Là một trong những dấu hiệu của một tác phẩm giàu giá trị (Văn học là nhân học.Nghệ thuật chỉ có nghĩa khi hướng tới con người, yêu thương con người)

- Mối quan hệ giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:

+ Gắn bó hài hoà trong một tác phẩm

+ Các khía cạnh biểu hiện nhìn chung tương đồng chỉ khác biệt ở chỗ: nếu nói giátrị hiện thực là nhắc tới sự trình bày, miêu tả hiện thực một cách tương đối kháchquan thì nói tới gía trị nhân đạo tức là đã bao hàm thái độ của nhà văn (cảm thông,thương xót, đồng tình, ngợi ca…)

6.3 Tình huống trong truyện ngắn.

- Là gì:

+ Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét nhất và

tư tưởng nhà thể hiện rõ nhất

“Là một lát cắt, một khúc của đời sống Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy người thấy được trăm năm của đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu)

+ Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật: qui mô nhỏ nhưngkhả năng phản ánh lớn

- Vai trò:

+ Khắc hoạ tính cách nhân vật, thể hiện tư tưởng nghệ sĩ

+ Xuất phát từ đặc trưng truyện ngắn: dung lượng nhỏ, thể hiện nhân vật qua mộtkhoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống (tiểu thuyết: dài, theo sát toàn bộ cuộc đời, sốphận nhân vật…) => Tình huống phải giống như thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hìnhsắc nhân vật và tư tưởng nhà văn => Xây dựng được tình huống truyện độc đáo làdấu hiệu của:

• Một tác phẩm có giá trị

• Một tác giả tài năng

6.4 Nhân vật điển hình.

Trang 21

- Là gì?

+ Điển hình: sự kết hợp giữa cái riêng sắc nét và cái chung mang tính khái quát cao.+ Nhân vật điển hình là nhân vật phải mang được những nét chung, đặc trưng, kháiquát nhất của thời đại nhân vật ấy sống nhưng đồng thời cũng phải mang những đặcđiểm tính cách, ngoại hình, suy nghĩ chân thực nhất, riêng nhất không thể trộn lẫnvới bất cứ ai để ghi lại dấu ấn riêng của mình trong mọi thời đại

- Các phương diện biểu hiện tính điển hình: tính cách, hoàn cảnh,

+ Tính cách điển hình:

Tính cách là những đặc điểm tâm lí tương đối ổn định nói lên cốt cách và phẩm chấtcủa nhân vật Vì tính cách là cốt cách, phẩm chất của nhân vật cho nên tính cách còndùng để chỉ nhân vật

Tính cách điển hình là tính cách có sự thống nhất sâu sắc giữa tính chung và tínhriêng (tức là giữa cái khái quát và cái cụ thể)

+ Hoàn cảnh điển hình

Hoàn cảnh là môi trường hoạt động của nhân vật, là phạm vi hiện thực khách quantác động đến quá trình hoạt động của nhân vật Con người tồn tại và phát triển trongnhững điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định Môi trường này chính là hoàn cảnhcủa con người Môi trường hoạt động chủ yếu của con người là môi trường xã hội.Cho nên, nội dung cơ bản của hoàn cảnh : quan hệ xã hội Trong xã hội có giai cấp,quan hệ xã hội là quan hệ giai cấp

Hoàn cảnh điển hình là hoàn cảnh của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm,vừa có tính chất tiêu biểu và độc đáo, thể hiện được những tương quan bản chất củađời sống trong những mối liên hệ phát triển biện chứng của chúng với nhau

Không có người nào là không tồn tại trong một hoàn cảnh Hoàn cảnh, vì vậy, làviệc làm tất yếu để từ đó nhà văn tạo nên tính cách trong quá trình phản ánh Nhưngphản ánh nghệ thuật không phải là sự sao chép những cảnh ngộ tầm thường mà sự

Trang 22

phân tích, phát hiện, thể hiện nội dung chủ yếu, mâu thuẫn cơ bản của những tươngquan xã hội.

+ Quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh: Quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau: tínhcách được nảy sinh trong một hoàn cảnh nhất định, hoàn cảnh thúc đẩy tính cáchphát triển

Tính cách của chị Dậu hoàn toàn do những quan hệ thực tế của chị với môi trườngxung quanh mà có Vì bị đèn nén đến cực độ (hoàn cảnh thúc ép) chị Dậu vùng lênđánh lại người nhà Lí trưởng Và khi "vùng lên" tính cách chị Dậu đã thay đổi

Tính cách tác động trở lại hoàn cảnh: Con người là con đẻ của hoàn cảnh, nhưng nókhông phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh Trong quá trình phát triển, conngười ngày càng làm chủ tự nhiên và xã hội, và trở thành chủ thể lịch sử Con ngườitạo nên lịch sử Như thế chính con người tạo nên hoàn cảnh Văn chương phản ánhđời sống con người không phải chủ yếu là phản ánh cái hoàn cảnh như một lựclượng siêu nhiên đẻ ra những con người, mà phải thể hiện hoàn cảnh do con ngườitạo nên đó Engels : " hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người

sáng tạo ra hoàn cảnh" Truyện Vợ chồng A Phủ: từ cuộc sống tối tăm dưới ách bọn

chúa đất, những người nông dân sống như trâu ngựa, được ánh sáng cách mạng soiđường đã vùng lên giải phóng quê hương, làm chủ cuộc sống

- Vai trò: Tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình là 2 đặc điểm cơ bản nhất của

hình tượng điển hình, chúng làm cho hình tượng điển hình luôn luôn có tính chânthực cao, chúng là thước đo tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Chính trên ý

nghĩa ấy mà Bê-ê-lin-xki viết "Tính điển hình là một trong những dấu hiệu của tính mới mẻ trong sáng tạo, hay nói đúng hơn là bản thân sức sáng tạo Nếu có thể thì cũng nói rằng tính điển hình là huy chương của nhà văn Điển hình là người lạ đã quen biết”.

6.5 Chi tiết nghệ thuật

- Chi tiết nghệ thuật là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và

tư tưởng” (Từ điển thuật ngữ văn học) “Chi tiết là đơn vị nhỏ nhất có thể chia ra

Trang 23

được tùy theo một tương quan và yêu cầu nhất định” trong tác phẩm văn học (Lí luận văn học- NXB Đại học Sư phạm)

- Chi tiết nghệ thuật được biểu hiện phong phú, có thể là một nét chân dung nhânvật, một hành vi lời nói, một biểu hiện cử chỉ, phản ứng nội tâm, một nét phongcảnh, môi trường, một biểu hiện sinh hoạt, một khâu quan hệ nào đó trong đời sốngcủa nhân vật

- Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, là sự thống nhất hữu cơ từng yếu

tố bộ phận trong tác phẩm, vì thế ở đây chi tiết đóng vai trò quan trọng Mỗi chi tiếtđặc sắc góp phần làm nên nét độc đáo trong nội dung tư tưởng và hình thức nghệthuật của tác phẩm

- Mỗi phương pháp sáng tác có những yêu cầu khác nhau về chi tiết, trong đó đặcbiệt phải kể đến trào lưu chủ nghĩa hiện thực phê phán Các nhà văn hiện thực yêu

cầu chi tiết phải có tính chân thực “Tiểu thuyết sẽ không là gì cả nếu nó không chân thực trong từng chi tiết” Những chi tiết chân thực có tác dụng “thực cảm” góp phần

đan dệt nên những cảnh sinh động làm cho người đọc quên đi việc đọc tác phẩm,như được tiếp xúc với chính chính cảnh đời thực Mặt khác chi tiết chân thực còn có

sứ mệnh quan trọng là góp phần tái hiện chân thực tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình.

Sự lựa chọn chi tiết “đắt giá” thể hiện tài quan sát, tài vận dụng đồng thời là quan

niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Chính vì thế có ý kiến cho rằng Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn.

6.6 Chất thơ và chất thơ trong truyện ngắn:

- Chất thơ là tính chất trữ tình - tính chất được tạo nên từ sự hoà quyện giữa vẻ đẹp

của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện để có thể khơi gợinhững rung động thẩm mĩ và tình cảm nhân văn

- Chất thơ trong truyện ngắn được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu

hiện một cách tinh tế mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hoặc củachính mình trước thế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và một lối văntrong sáng, truyền cảm, phù hợp với nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâm hồn

Trang 24

-> Một truyện ngắn (hoặc tác phẩm văn xuôi) được coi là giàu chất thơ khimối bận tâm của người viết không đặt vào việc kể lại một biến cố, sự việc, hànhđộng mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn con người.

6.7 Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ.

- Mô tả: Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ hiện ra qua giọng điệu, trạng thái

tâm hồn, cảm xúc ( còn nhân vật trong tác phẩm tự sự: có diện mạo, tính cách, hànhđộng cụ thể)

- Phân loại:

+ Xét sự xuất hiện của tác giả trong tác phẩm:

• Cái tôi trữ tình: tác giả

• Nhân vật trữ tình nhập vai: khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác trong tác phẩm.+ Xét về vai trò:

• Chủ thể trữ tình (người trực tiếp bộc lộ cảm xúc)

• Đối tượng trữ tình: đối tượng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình

6.8 Quan điểm/ quan niệm sáng tác

- Là gì:

+ Chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác

+ Phải được hiện thực hoá trong quá trình sáng tác

+ Được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián tiếp qua các tác phẩm

+ Nhà văn nào cũng có quan điểm/quan niệm sáng tác nhưng để tạo thành một hệthống có giá trị thì không phải ai cũng làm được

Trang 25

- Nhà văn: người sáng tạo ra văn bản => thực hiện quá trình kí mã => Ý đồ nghệthuật, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một khả năng hiểu văn bản.

- Bạn đọc: người tiếp nhận văn học => thực hiện quá trình giải mã

- Văn bản: là một bộ mã, có thể chấp nhận nhiều cách giải khác nhau nhưng phảiphù hợp với các mã đã được nhà văn kí gửi

II Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận để giải quyết yêu cầu của đề thi học sinh giỏi.

- Trong bài viết, phần kiến thức lí luận văn học được sử dụng khi học sinh giải

thích, bàn luận, đánh giá mở rộng, nâng cao vấn đề.Trong đó kiến thức lí luận

văn học được sử dụng nhiều nhất ở phần bàn luận vấn đề

- Kiến thức lí luận văn học được sử dụng trong bài phải phù hợp với yêu cầu của

đề, trình bày vừa phải, không ôm đồm, phô trương kiến thức một cách không

cần thiết Tránh trường hợp học sinh vận dụng kiến thức lí luận một cách mờ

nhạt, chung chung, không đủ sức thuyết phục người đọc

- Kiến thức lí luận phải được trình bày một cách tự nhiên, rành mạch bằng lờivăn, cách hiểu của học sinh chứ không nên sao chép máy móc kiến thức sách vởhay lời dạy rập khuôn của thầy cô Bài văn đạt hiệu quả cao là nhờ vận dụngmột cách linh hoạt, hợp lí giữa nhiều kiến thức lí luận, kiến thức văn học đượcdiễn đạt giàu cảm xúc và hình ảnh

III Một số đề minh họa cách thức triển khai vấn đề.

Trang 26

Đề 1: “Giá trị của tác phẩm nghệ thuật trước hết là giá trị tư tưởng của nó.

Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm , chứ không phải ở tư tưởng thẳng đơ trên trang giấy Có thể nói, tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật.”

(Nguyễn Khải, Các nhà văn nói về văn, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985)

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy liên hệ với sáng tác của Xuân Diệu hoặc Tố Hữu để làm sáng tỏ ý kiến.

Hướng dẫn:

1 Giải thích ý kiến của Nguyễn Khải

- Là nhà văn đã từng trải với nghề, Nguyễn Khải ý thức sâu sắc những yêu cầu khắtkhe của văn chương Ông hiểu giá trị của một tác phẩm trước hết là giá trị tư tưởngcủa nó Nhưng là người đã trải nghiệm cuộc đời cầm bút, ông cũng thấm thía nghệ

thuật không phải chỉ là tư tưởng đơn thuần mà phải là “tư tưởng được rung lên ở các cung bậc tình cảm, chứ không phải ở tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy”,

nghĩa là tư tưởng ấy phải được tắm đẫm trong tình cảm của người viết, tư tưởng ấyphải được chuyển tải bằng tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ Nói cách khác, ýkiến của Nguyễn Khải đã khẳng định mối quan hệ gắn bó, không thể tách rời giữa tưtưởng và tình cảm của nhà văn

2 Bàn luận.

2.1 Giá trị của tác phẩm nghệ thuật trước hết là giá trị tư tưởng của nó, câu nói

hiển nhiên như một chân lí không thể phủ nhận

- Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, trước hết phải đề xuất được một tư tưởng mới

mẻ Một nhà văn tài năng phải có những phát hiện riêng của mình về nhân sinhthông qua một nỗi lòng, một tình huống, một cảnh ngộ …của một nhân vật Bởi xétđến cùng, thiên chức cao cả của văn chương nghệ thuật là phản ánh con người vàhướng tới phục vụ đời sống con người Vì thế, khi viết tác phẩm nhà văn không thể

Trang 27

không bộc lộ tư tưởng của riêng mình, chủ kiến của riêng mình trước những vấn đề

xã hội

- Mặt khác, bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nghể văn là nghề sángtạo Cho nên nhiệm vụ khó khăn mà cũng là vinh quang của nhà văn là phải khámphá, phát minh ra một hệ thống tư tưởng của riêng mình Bởi nói như Nam Cao

“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay…sáng tạo những cái gì chưa có” Tư tưởng sẽ là yếu tố cốt lõi hình thành nên phong cách nghệ thuật, dấu ấn

riêng của nhà văn

2.2 Tuy nhiên, theo Nguyễn Khải, tư tưởng của một nhà văn “là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải ở tư tưởng thẳng đơ trên trang giấy”

- Các Mác nói : quy luật của văn học là quy luật chung của cái đẹp, là quy luật của

tình cảm Có nghĩa là Mác nhấn mạnh tình cảm chứ không phải bất cứ yếu tố nàomới là ngọn nguồn sâu xa của cái đẹp Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực phảihướng con người, tới cái đẹp bằng tình cảm của nhà văn

- Không phải ngẫu nhiên nhiều nhà thơ đã nói về sự thăng hoa của của xúc Ngay từ

xưa, Ngô Thì Nhậm đã kêu gọi các thi nhân “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Xuân Diệu khi bàn về thơ cũng có ý kiến “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc” Tư tưởng của nhà văn dù có mới mẻ, độc đáo đến đâu đi nữa mà không được thể hiện bằng một trái tim thì tư tưởng đó chỉ thẳng đơ trên trang giấy mà thôi

2.3 Tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật ”.

- Tác phẩm văn học là tiếng nói của tâm hồn, tình cảm cá nhân của người nghệ sĩtrước cuộc đời Nhà văn sáng tạo tác phẩm văn học khi cảm thấy bức xúc trước cuộcsống của con người, cảm thấy có sự thôi thúc mãnh liệt của con tim Vì vậy, không

phải vô cớ mà Lê Quí Đôn cho rằng “Thơ khởi phát trong lòng người”.

- Tình cảm còn là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng tác phẩm tác phẩm nghệthuật của nhà văn Ở đây là muốn nói đến người đọc Người đọc đến với tác phẩmđâu phải bằng con đường lí trí mà bằng chiếc cầu nối từ trái tim đến với trái tim

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1990), Một số luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các tác phẩm văn học. Tạp chí ngôn ngữ, số 2, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các tác phẩm văn học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1990
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên 2011), Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
3. Phương Lựu (Chủ biên), Lí luận văn học. NXB Giáo dục Việt Nam, 2002 Khác
4. Đỗ Ngọc Thống, Tài liệu chuyên Văn, Tập I, II, III. NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 Khác
5. Hà Bình Trị, Những bài văn đạt giải Quốc gia. NXB Giáo dục 2003 Khác
6. Nhiều tác giả, Chuyên đề chuyên sâu bồi dưỡng Ngữ văn 10, 11, 12. NXB Giáo dục, 2015 Khác
7. Ngữ Văn 10, 11, 12, NXB Giáo dục, 2007 Khác
8. Tài liệu tập huấn Đổi mới tổ chức và quản lí hoạt động giáo dục ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w