1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh ôn tập tác phẩm vội vàng – chương trình ngữ văn 11

41 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 107,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số rất nhiều định nghĩa về thơthì quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản án

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Phong trào Thơ mới có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của

văn học dân tộc Thơ mới được đánh giá là cuộc cách mạng thi ca vĩ đại nhất

trong lịch sử thơ ca Việt Nam Nó không chỉ là cuộc hiện đại hoá, thoát khỏi thơtrung đại mà nó còn làm cho thơ Việt thoát ly khỏi thơ Đường luật Trung Hoahàng nghìn năm và chắp nối thơ Việt với thơ toàn thế giới Trong phong tràoThơ mới, Xuân Diệu có một vị trí danh dự, là một trong ba đỉnh cao của phongtrào này Với một sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào và bền bỉ, Xuân Diệu có đónggóp lớn cho nền văn học Việt Nam hiện đại và xứng đáng với danh hiệu một nhàthơ lớn, một nghệ sỹ lớn

Trong số những sáng tác của Xuân Diệu, bài thơ Vội vàng được đánh giá

là tác phẩm tiêu biểu nhất nhà thơ trước cách mạng tháng Tám Tác phẩm thểhiện được quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh mới mẻ cùng những cáchtân độc đáo của hồn thơ Xuân Diệu

Trong chương trình Ngữ văn bậc THPT, bài thơ “Vội vàng” có một vị trí

vô cùng quan trọng, là một phần kiến thức trọng tâm của chương trình Ngữ vănlớp 11, vì thế đã có rất nhiều tài liệu, rất nhiều công trình nghiên cứu cho họcsinh tham khảo Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung vào việc thẩm bìnhtác phẩm mà chưa có nghiên cứu nào gắn tác phẩm với các dạng đề cụ thể bámsát yêu cầu của chương trình học, đề thi THPT quốc gia và đề học sinh giỏi đểgiúp học sinh ôn tập được thuận tiện và dễ dàng

Trên đây là những lí do chính của người viết khi chọn đề tài “Hướng dẫn

học sinh ôn tập tác phẩm Vội vàng – chương trình Ngữ Văn 11” cho sáng

kiến của mình

2 Tên sáng kiến: “HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN TẬP TÁC PHẨM VỘI VÀNG – CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11”

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Trần Thị Thanh Huyền

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Nguyễn Thái Học – Khai Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc

Quang Số điện thoại: 0976369307 Email: thanhhuyen255@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả sáng kiến.

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Trang 3

Áp dụng trong công tác giảng dạy của bộ môn Ngữ Văn mà trọng tâm làphân môn Đọc Văn của chương trình Ngữ Văn 11.

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 26 tháng

02 năm 2019

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.Cơ sở lí luận

1.1 Khái niệm - đặc trưng của tác phẩm thơ

1.1.1 Khái niệm về tác phẩm thơ

Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Thơ cólịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện đầy đủ các đặcđiểm bản chất của thơ không hề dễ dàng Trong số rất nhiều định nghĩa về thơthì quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ văn

học, Nxb ĐHQG, H, 1999)

1.1.2 Đặc trưng của thơ

- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình.

Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng,

tưởng tượng phong phú, yếu tố trữ tình giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm Thơ là

tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời.Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sốngkhách quan

- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người

trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện Nhân vậttrữ tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm củanhà thơ Tuy vậy, không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả

- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự

sự, kịch) Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn

thông qua hình tượng thơ Cảm xúc dồn nén, nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoàicái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại” Do đó,thơ tạo điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiệnđời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuậtcủa tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ

- Mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự sắp xếp các dòng

thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình Đồngthời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biếnhóa tạo nên tính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng,luyến láy của văn bản thơ Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ

Trang 5

tình, là ngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạtthường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọngđiệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi,giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiềunghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thìmới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong.

- Ngôn ngữ thơ có 3 đặc trưng cơ bản:

+ Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, những từtrùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm.Nhạc trong thơ là nhạc của cảm xúc và tâm hồn Nhạc điệu trong thơ đa dạng,tương ứng với sự đa dạng của cảm xúc

+ Ngôn ngữ thơ hàm súc: Đây là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tácphẩm văn chương nhưng do đặc trưng thể loại mà nó biểu hiện một cách tậptrung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ

+ Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm: Tính truyền cảm cũng là đặc trưngchung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sảnphẩm của cảm xúc người nghệ sỹ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên.Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc củatác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy tronglòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ làtiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợicảm đặc biệt

Tóm lại, thơ phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt Thơ là thơnhưng thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ, thanh âm của âm nhạc vàhình khối của chạm khắc (điêu khắc) Nhà thơ phải có phong cách nghệ thuậtđộc đáo Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, sử dụng riêng vốn ngữ toàn dân, ngônngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật để đưa vào bài thơ

1.2.Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ

Chúng ta biết rằng một tác phẩm thơ là công trình nghệ thuật mà nhà thơmất bao công sức, bao trải nghiệm để sáng tạo nên Nó thật sự có giá trị khimang ý nghĩa đời sống, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư tình cảm, nhận thức củacon người Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, chúng ta cần tiến hành theo các bước sauđây:

Trang 6

- Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là

cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm

- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ Qua việc đọc, phải xácđịnh được chủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng:cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình vàgiọng điệu chủ đạo của bài thơ

- Cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu,kết cấu, các biện pháp tu từ,…

- Lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nội dung và nghệthuật Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tác giả (phong cách tác giả thểhiện qua tác phẩm) cho thơ và cho cuộc sống con người

- Có cái nhìn liên tưởng, so sánh giữa các bài thơ, tác giả thơ (cùng viết vềmột chủ đề, hình tượng cùng thời ) để giải quyết được những đề văn tổng hợphoặc mang tính lí luận về thơ

Đọc hiểu tác phẩm thơ là một công việc khó khăn bởi phải huy động vốnkiến thức về nhiều mặt (lịch sử xã hội, lịch sử văn học, xã hội học, tâm lí học ).Nhưng có kiến thức chưa đủ, còn phải có cả khả năng cảm thụ, tức là cần có sựnhạy bén về tình cảm, cảm xúc trước cái đẹp văn chương Ngoài ra còn phảinắm được phương pháp tiếp cận tác phẩm thơ theo loại thể, phương pháp phântích các khía cạnh của tác phẩm thơ và đặt nó trong mối quan hệ đa chiều vớinhiều đơn vị kiến thức có liên quan

1.2.Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng dạy học môn Ngữ Văn trong trường THPT

Qua tìm hiểu thực tế dạy học Ngữ văn và phần tại trường THPT NguyễnThái Học, cá nhân tôi tự nhận thấy học sinh trong nhà trường chưa thực sự hứngthú với môn Văn, đặc biêt là phần thơ

Về phía giáo viên: mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học vănnhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưađem lại hiệu quả như mong muốn Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc tiếpthu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho người học conđường tích cực chủ động để thu nhận kiến thức Giờ dạy học tác phẩm thơ vẫnchưa bám sát vào đặc trưng thể loại, dạy học các tác phẩm thơ chưa đặt vào cáinhìn hệ thống và tổng thể nên kiến thức học sinh thu được chưa chắc chắn vàvững bền

Trang 7

Về phía học sinh: tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe, quenchép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên

đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bàihọc Học sinh chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảmcủa cá nhân trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinh gặp rất nhiềukhó khăn

1.2.2 Thực trạng dạy học tác phẩm Vội vàng của Xuân Diệu

Tình trạng dạy học tác phẩm Vội vàng cũng không là trường hợp ngoại lệ

trong dạy học văn hiện nay Giáo viên vẫn là người truyền thụ tri thức, là trungtâm của quá trình dạy học HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy địnhsẵn Đa số giáo viên chưa được chú trọng đến việc đổi mới phương pháp, chưaphát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Học sinh học thiếuhứng thú, thiếu sáng tạo, học sinh và giáo viên thiếu hợp tác và vì thế, không rènluyện được khả năng tự học, tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề

Mặt khác, Vội vàng là tác phẩm thơ thuộc phong trào Thơ mới, bên cạnh

những đặc trưng riêng của thể loại thì quá trình dạy học rất cần thiết phải đượcđánh giá trong bối cảnh ra đời của tác phẩm với cái nhìn so sánh với các tác giảtrước và cùng thời để thấy những đóng góp riêng của tác giả trong quá trình đổimới thơ ca nói riêng, đổi mới văn học nói chung

Tác phẩm có dung lượng khá dài và nội dung đề cập đến nhiều vấn đề củaquan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh, nghệ thuật thể hiện nhiều đổi mới,cách tân táo bạo Thời lượng hai tiết trong chương trình chính khóa không thểkhai thác sâu sắc nội dung, nghệ thuật tác phẩm, vì thế học sinh sẽ khó khăntrong việc giải các dạng đề liên quan đến bài thơ

Như vậy, thực tiễn giảng dạy tác phẩm Vội vàng trong nhà trường phổthông vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Bởi vậy, việc hướng dẫn học sinh ôn tậptác phẩm Vội vàng có ý nghĩa thiết thực trong dạy học chương trình Ngữ VănTHPT hiện nay

Chương 2: Hướng dẫn ôn tập bài thơ “Vội vàng”

1 Xuất xứ tác phẩm

Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938, tin trong tập Thơ thơ, thi phẩm

đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới

2 Nội dung và nghệ thuật bài thơ:

2.1 Nội dung:

Trang 8

Vội vàng thể hiện một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm

phát huy cao độ giá trị của “cái tôi” cá nhân trong thời hiện tại Quan niệm sốngtrên được nhà thơ diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màusắc biện luận rất riêng

*Bắt đầu từ một phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất

- Nhà thơ đưa ra nhưng tuyên bố rất lạ lùng, đến kì dị, ngông cuồng:muốn tắt nắng, buộc gió, đoạt quyền của tạo hóa để chặn bươc đi của thời gian

để có thể vĩnh viễn hóa vẻ đẹp của cuộc đời Tôi muốn … bay đi

- Nguyên nhân của những khao khát, ước muốn đó: nhà thơ phát hiện ra

một cõi thiên đường trên mặt đất, ở chính thời khắc hiện tại: Của ong bướm

….cặp môi gần

+ Đó là một thế giới thật sống động, đang dậy sắc tỏa hương, một thế giớingập tràn âm thanh, ánh sáng….Cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi,chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung và như có ý để dành cho những ai đang ở lứa

tuổi yêu đương, ngọt ngào: đó là tuần tháng mật dành cho ong bướm, là hoa của đồng nội xanh rì, là lá của cành tơ phơ phất, là khúc tình si của những lứa đôi…

+ Bằng con mắt xanh non biếc rờn nhà thơ còn phát hiện ra tháng giêng,

mùa xuân ngon như một cặp môi gần => Quan điểm thẩm mĩ mới: con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của cuộc sống

*Đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống

và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân.

Khi khám phá ra cái đẹp đích thực của cuộc đời cũng là lúc thi nhân hiểurằng điều tuyệt diệu này có số phận mong manh ngắn ngủi và sẽ nhanh chóngtàn phai bởi không có gì là vĩnh viễn với thời gian Nỗi ám ảnh đó làm cái nhìncủa thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu lo âu, bàng hoàng,thảng thốt

Xuân đương tơi ….chẳng bao giờ nữa

- Nhà thơ cảm nhận sâu sắc về sự trôi chảy của thời gian, mỗi khoảnhkhắc qua đi đều gắn với sự mất mát

- Xuân Diệu đồng nhất số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân,tuổi trẻ để xót tiếc phần đẹp nhất của đời người

- Từ cảm nhận đó mà bức tranh thiên đường vụt biến thành li tán Tất cảsông núi, gió mây, chim muông đều than thầm, hờn giận, sợ hãi trước sự trôichảy của thời gian

Trang 9

Niềm xót tiếc trước bước đi của thời gian được thể hiện bằng những hìnhảnh đối lập: lòng người rộng – lượng trời chật ; xuân thiên nhiên tuần hoàn - tuổitrẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại ; vũ trụ - cõi vô thủy vô chung thìcòn mãi mà con người – sinh thể sống đầy cảm xúc và khao khát lại hóa thành

hư vô Điều bất công này thôi thúc “cái tôi” cá nhân đi tìm sức mạnh hóa giải

* Những giải pháp điều hòa mâu thuẫn, nghịch lí

Từ nỗi ám ảnh về sự hữu hạn của cuộc đời tác giả đã đề ra một giải pháptáo bạo: con người không thể chặn đứng bước đi của thời gian mà chỉ có thểchạy đua với nó bằng một nhịp sống mới - cách sống vội vàng với một tốc độ,một cường độ thật lớn

Ta muốn ôm……cắn vào ngươi

Đoạn thơ cuối như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi thiếttha đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp củamột tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu đời va yêu sống

Lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người, là lời

cổ động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổitrẻ và cũng là của cái tôi

2.2 Đặc điểm về nghệ thuật

- Sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí

+ Mạch cảm xúc thể hiện ở nhữngc rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp cuộc sống,

ở cảm xúc vồ vập cuống quýt tận hưởng cuộc sống

+ Mạch luận lí thể hiện ở hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thôngđiệp mà Xuân Diệu muốn gửi gắm đến bạn đọc được trình bày theo lối quy nạp

từ nghịch lí mâu thuẫn đến giải pháp

- Những cách tân mới mẻ trong thể thơ (câu dài ngắn đan xen) ; cách diễnđạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới…

3 Hướng dẫn học sinh giải các dạng đề từ tác phẩm

3.1 Dạng đề nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

3.1.1 Nghị luận về một đoạn thơ

Đề 1:Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Trang 10

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Dàn ý

A Mở bài:

- Giới thiệu về tác giả Xuân Diệu: Xuân Diệu là nhà thơ xuất sắc, mộttrong ba đỉnh cao của phong trào thơ mới, một trong những nhà thơ tiêu biểu

nhất của thế kỉ XX, được mệnh danh là ông hoàng thơ tình.

- Bài thơ Vội vàng: là tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu, thành tựu nổi bật

của thơ mới

- Đoạn thơ: kết tinh được giá trị của bài thơ trên cả hai phương diện nộidung và nghệ thuật

B Thân bài:

I Khái quát chung

1 Xuất xứ tác phẩm: Bài thơ trích trong tập “Thơ thơ”(1938) - tập thơ đầu tay

của Xuân Diệu, được xem là một đỉnh cao của phong trào thơ mới Vội Vàng là

một trong những sáng tác đặc sắc nhất của tập thơ, tiêu biểu cho phong cáchnghệ thuật của Xuân Diệu

2 Vị trí, cảm nhận chung về đoạn thơ:

Đoạn thơ thuộc phần đầu của tác phẩm, ở đoạn thơ này tác giả đã khắchọa một bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp lãng mạn, tràn đầy sức sống thể hiệncảm hứng ngợi ca cuộc sống trần thế Trong cấu tứ của bài thơ, đoạn thơ trên có

ý nghĩa quan trọng giống như cánh cửa mở ra một thế giới nghệ thuật đặc sắcvới quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và những cách tân nghệ thuật độc đáo của một

nhà thơ được mệnh danh là “mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Trang 11

+ Tạo ra ngữ điệu liệt kê khiến hình ảnh thiên nhiên hiện ra cụ thể, rõ nét.+ Đứng ở vị trí đầu câu : tác giả đưa người đọc đến với thiên nhiên quanhững hình ảnh thiên nhiên ẩn chứa vẻ đẹp giống như những món ăn tinh thầnđược sắp đặt sẵn, cứ theo nhau xuất hiện bất tận như không bao giờ hết Cảmhứng ngợi ca cuộc sống trần thế toát lên qua từng câu chữ.

- Thời gian: tuần tháng mật là một ẩn dụ mới mẻ, độc đáo từ cách nói của

người phương Tây chỉ thời gian hạnh phúc của lứa đôi Tác giả đã sáng tạothành một ẩn dụ để chỉ sự ngọt ngào của cuộc sống trần thế Qua đó, thời gianđược cảm nhận bằng tâm hồn, không còn là khái niệm trừu tượng mà đầy ắpniềm vui, niềm hạnh phúc Bức tranh thiên nhiên được khắc họa trong thời gian

ấy cũng tràn đầy sức sống và niềm vui

- Hình ảnh “hoa của đồng nội xanh rì”: Hoa là biểu tượng của cái đẹp,

của sự sống phát triển ở đỉnh điểm nhất Hoa của đồng nội còn gắn với sự mộc

mạc Hoa nổi bật trên vẻ đẹp “xanh rì” tràn đầy sức sống Bằng con mắt xanh

non nhà thơ khám phá vẻ đẹp mới lạ và sức hấp dẫn kì diệu ở những hình ảnhgần gũi và bình dị nhất

- “Cành tơ phơ phất”: từ láy phơ phất gợi sự vận động của cành lá trong

gió và vẻ đẹp mềm mại Dường như những cảnh vật đơn sơ bình dị nhất cũngbiết làm duyên, cũng ẩn chứa vẻ đẹp bất ngờ

- Âm thanh: khúc tình si tiếng chim hót giống như khúc ca say đắm của

tình yêu đôi lứa Trong con mắt của Xuân Diệu, thiên nhiên không chỉ tràn đầysức sống mà còn rất hữu tình

- Ánh sáng: ánh sáng ban mai mở ra trong một không gian thanh khiếttrong trẻo và gợi cảm giác êm đềm, thi vị trong lòng người đọc Ánh sáng đặttrong sự liên tưởng rất lãng mạn: nó giống như ánh sáng được tỏa ra từ đôi mắtđẹp của người thiếu nữ Liên tưởng này xuất hiện trong nhiều bài thơ của XuânDiệu làm cho cảnh sắc thiên nhiên mang vẻ đẹp tình tứ, kì ảo, thể hiện quanniệm mới mẻ của Xuân Diệu: lấy con người làm chuẩn mực, làm thước đo chomọi vẻ đẹp trên thế gian này

+ Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa: không phải là một buổi sáng nào đặc biệt mà mỗi buổi sớm mai, ngày nào cũng vậy, mở mắt ra đón chào bình

minh là đã thấy niềm vui Mỗi ngày mới bắt đầu đều như có một vị thần Vui đến

gõ cửa Câu thơ đã cho thấy cái nhìn tích cực với cuộc đời, thể hiện tình yêu đời,yêu cuộc sống thiết tha của tác giả

=>Sáu câu thơ đã phác họa bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp:

Trang 12

+ Thi vị tràn đầy sức sống, náo nức âm thanh, rực rỡ sắc màu và chan

hòa ánh sáng

+ Không chỉ vậy, với cái nhìn của “ông hoàng thơ tình”, tác giả còn thấy ở

bức tranh thiên nhiên vẻ đẹp bất ngờ tình tứ và lãng mạn Những hình ảnh cặp

đôi: ong - bướm, yến - anh, âm thanh khúc tình si, thời gian tuần tháng mật tất

cả đều gợi lên liên tưởng về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi

+ Bằng cái nhìn trẻ trung, yêu đời của cặp mắt xanh non, biếc rờn, XuânDiệu khám phá trong những hình ảnh thiên nhiên bình dị quen thuộc (ong bướm,

lá hoa, chim muông những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống và thơ ca)sức cuốn hút kì diệu cho nên thiên nhiên không chỉ là đối tượng thẩm mĩ màcòn thể hiện quan niệm nhân sinh tiến bộ của nhà thơ

2 Câu cuối:

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

- Chọn thời gian để miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên: tháng giêng là máng mở

đầu của mùa xuân, và trong cảm nhận của Xuân Diệu, mùa xuân là mùa đẹpnhất, có ý nghĩa nhất, không chỉ vì mùa xuân đem đến sự sống cho vạn vật gắnliền với sự sinh sôi mà còn vì mùa xuân gắn liền với những ước mơ, dự định vềtình yêu, hạnh phúc Chính vì vậy lựa chọn tháng giêng là thời gian nghệ thuật

để miêu tả bức tranh thiên nhiên không chỉ tô đậm vẻ đẹp thiên nhiên đã đượcmiêu tả ở những câu trên mà còn có ý nghĩa khơi gợi sâu xa tình yêu cuộc sống

và những rung cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc

- Sử dụng từ ngữ mới mẻ, táo bạo: Ngon – tính từ chỉ vị giác, gợi vẻ đẹp,

sức hấp dẫn kì diệu của mùa xuân

- Hình ảnh so sánh độc đáo: thời gian vốn vô hình đã được so sánh vớihình ảnh hữu hình, cụ thể: cặp môi gần => hình tượng hóa vẻ đẹp mùa xuân,mùa xuân hiện lên rất gần gũi sống động

- Thiên nhiên so sánh với vẻ đẹp con người, mà là người thiếu nữ ở độxuân thì => quan niệm thẩm mĩ mới mẻ: nếu thơ ca trung đại coi thiên nhiên là

chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của vũ trụ (vẻ đẹp chị em Thúy Kiều: Mai cốt cách tuyết tinh thần), thì trong thơ Xuân Diệu con người mới là chuẩn mực cho mọi

vẻ đẹp của thế gian: lá liễu dài như một nét mi

=> Câu thơ cuối có giá trị sâu sắc và mang đậm dấu ấn cái tôi cá nhân,phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu: một tình yêu nồng nàn, đắm say, tha thiếtvới cuộc sống và khát khao giao cảm với cuộc đời một cách mãnh liệt

III Đánh giá chung

Trang 13

+ Cách sử dụng từ ngữ táo bạo và cách so sánh độc đáo: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần=> Thiên nhiên hiện lên giống như một thiên đường trên mặt

đất Đặc biệt nó không xa xôi trừu tượng mà hiện hữu rất cụ thể, gần gũi với conngười

2 Nội dung

Hồn thơ trẻ trung, lãng mạn, đặc biệt là quan niệm thẩm mĩ và nhân sinhmới mẻ, tích cực và tiến bộ: trong khi các nhà thơ lãng mạn cùng thời thoát licuộc sống tìm về với quá khứ hay trốn lên tiên, tiêu cực hơn có nhà thơ tìm đếnnàng tiên nâu để lãng quên cuộc sống thì Xuân Diệu lại thấy cuộc sống trần thếnhư một thiên đường cuốn hút ngập tràn niềm vui, niềm hạnh phúc Cội nguồncủa sự khác biệt ấy là tình yêu cuộc sống và khát khao giao cảm với đời

C Kết luận:

- Khái quát lại giá trị đoạn thơ

- Khẳng định vai trò, vị trí của đoạn thơ trong tác phẩm và sức sống của tácphẩm

Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài Vội vàng của Xuân Diệu

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Trang 14

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thăo trong lâ biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn răng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tăn sắp sửa?

DĂN Ý CHI TIẾT

A MỞ BĂI

- Xuđn Diệu lă nhă thơ xuất sắc, một trong ba đỉnh cao của phong trăo thơmới, một trong những nhă thơ tiíu biểu nhất của thế kỉ XX, được mệnh danh lẵng hoăng thơ tình

- Băi thơ Vội văng: lă tâc phẩm tiíu biểu của Xuđn Diệu, thănh tựu nổi bật

của thơ mới

Băi thơ triển khai theo mạch luận lí rõ răng Đoạn thơ “ ” thể hiện đượccảm nhận về thời gian rất độc đâo vă đặc trưng của Xuđn Diệu

lă cơ sở để nhă thơ khẳng định quan niệm nhđn sinh mới mẻ vă tiến bộ củamình

II PHĐN TÍCH

Dẫn ý: Đoạn thơ trước tâc giả đê tâi hiện được bức tranh thiín nhiín

mang vẻ đẹp thi vị, trăn đầy sức sống Đó lă hình ảnh thiín đường trín mặt đất.Nhận thức được hương sắc của mùa xuđn, Xuđn Diệu đồng thời nhận ra cuộcđời thật ngắn ngủi vă hữu hạn Nhă thơ thấm thía sđu sắc một nghịch lí rằngthiín đường thì còn mêi nhưng con người không còn mêi với thiín đường

1 Ba cđu đầu: triết lí về thời gian

Trang 15

Xuân đương tới nghĩa là tôi cũng mất

- Điệp từ xuân lặp lại 5 lần trong 3 câu thơ xác định đối tượng chính của

sự quan tâm là mùa xuân Với Xuân Diệu, mùa xuân không chỉ mang ý nghĩathời gian là mùa đầu tiên của một năm, mùa đẹp nhất trong năm mà còn là biểutượng cho sự sống, tình yêu, tuổi trẻ

- Hệ thống các cặp từ ngữ đối lập và đồng nghĩa : tới qua; non già; hết mất thể hiện quá trình vận động của thiên nhiên tạo vật trên dòng thời gian

và những cảm nhận tinh tế của tác giả về thời gian Thời gian, mùa xuân nhưmột dòng chảy xuôi chiều một đi không trở lại Mùa xuân vốn vô hình nhưngtrong cảm nhận của tác giả trở nên hữu hình

- Kiểu câu định nghĩa, triết lí: nghĩa là làm bề ngoài ba câu thơ như lời

giải thích về mùa xuân nhưng thực chất tác giả tô đậm sự hữu hạn, ngắn ngủicủa mùa xuân, đồng thời bộc lộ những lo âu về cái đẹp trong dòng thời gian trôichảy

- Cấu trúc câu định nghĩa triết lí lặp lại ba lần tạo âm điệu trầm buồn, sâulắng Không còn cái bồng bột, sôi nổi của một tâm hồn khao khát tận hưởng vẻđẹp của cuộc sống trần thế, giờ đây nhân vật trữ tình hiện lên như một triết giakhi nhận thức sự trôi chảy của thời gian, tuổi trẻ và cuộc đời

- Với Xuân Diệu xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Nhà thơ đồng nhất cuộcđời với mùa xuân, tuổi trẻ Mùa xuân qua đi, tuổi trẻ qua đi thì cuộc đời khôngcòn ý nghĩa

2.Sáu câu tiếp: Những nghịch lí của cuộc đời

Lòng tôi rộng tiếc cả đất trời

- Ý thức được sự ngắn ngủi của cuộc đời nhà thơ phát hiện ra hàng loạtnghịch lí:

Lòng tôi rộng >< lượng trời chật Xuân tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại; Còn trời đất >< chẳng còn tôi Đó là cái tương phản giữa cái hữu hạn ngắn ngủi của con người

và sự vô hạn, vô thủy vô chung của thiên nhiên, vũ trụ Tuổi xuân là quãng đờiđẹp nhất của con người nhưng lại vô cùng ngắn ngủi và trôi qua rất nhanh, một

đi không trở lại Nhìn thời gian trong sự vận động nên thời gian trong thơ XuânDiệu là thời gian tuyến tính gắn liền với sự mất mát

3.Sáu câu tiếp: Mùi tháng năm sắp sửa

Từ cái nhìn thời gian trong sự mất mát, 6 câu tiếp theo là cả một thế giớiđang ngập trong nỗi buồn chia li

Trang 16

- Thời gian hiện lên trong sự mất mát chia lìa: Mùi tháng năm rớm vị

chia phôi: Xuân Diệu có thể cảm nhận được mùi thời gian, nhận biết được vị chia phôi Không chỉ vậy, nhà thơ còn có thể thấy được cả nỗi đau vật chất như một vết cứa trên da thịt trong một chữ rớm Nhà thơ đã hữu hình hóa cái vô hình

là thời gian bằng việc huy động các giác quan và sử dụng biện pháp ẩn dụchuyển đổi cảm giác để cảm nhận nó Đó là sự cảm nhận thời gian rất tinh tế vàđộc đáo chỉ thấy ở Xuân Diệu

- Không gian: Khắp sông núi than thầm tiễn biệt Không gian hiện lên

là không gian của vũ trụ vô cùng vô tận Cả không gian ấy cũng đang mang tâmtrạng, nỗi buồn chia li

- Thiên nhiên cảnh vật: gió xinh, lá biếc, tiếng chim vốn là những hình

ảnh tiêu biểu gợi nhắc đến bức tranh thiên nhiên đẹp, tràn đầy sức sống của một

“thiên đường trên mặt đất” Nhưng ở đây, hình ảnh thiên nhiên được miêu tả

bằng nghệ thuật nhân hóa, gắn với những hành động, tâm trạng con người : thì thào, hờn, sợ, đó là tâm trạng lo âu, tiếc nuối bởi thời gian trôi đi sẽ cuốn trôi

theo bao cái đẹp của cuộc đời trong khi cuộc đời lại vô cùng ngắn ngủi

=> Bức tranh thiên nhiên quen thuộc nhưng không vui tươi như ở phần trên màthấm đẫm nỗi buồn Nỗi buồn ấy xuất phát từ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi

ý thức về thời gian

3 Hai câu cuối: Tâm trạng của nhân vật trữ tình bộc lộ trực tiếp qua hệ thống từ

ngữ giàu giá trị biểu cảm:

- Điệp ngữ: “chẳng bao giờ” lặp lại hai lần liên tiếp trong một câu thơ thể hiện sâu sắc sự tiếc nuối của tác giả, kết hợp với thán từ “ôi” đầu câu tạo cho

câu thơ như một tiếng than đau đớn đầy tiếc nuối

- Các từ bâng khuâng, tiếc thể hiện trực tiếp tâm trạng nhà thơ Càng yêu

đời, khao khát giao cảm và tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống thì nỗi buồn càngsâu sắc khi nhận ra quy luật nghiệt ngã, nhất là sự hữu hạn của đời người

II Khái quát, đánh giá

-Đoạn thơ sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật: kiểu câu định nghĩa triết

lí, các điệp từ, điệp ngữ, nghệ thuật đối lập, biện pháp nhân hóa, ẩn dụ chuyểnđổi cảm giác, các thán từ tất cả các biện pháp nghệ thuật cộng hưởng thể hiệncảm nhận vô cùng đặc biệt và tinh tế của nhà thơ về thời gian Với Xuân Diệu,thời gian của vũ trụ thì tuần hoàn nhưng thời gian của cuộc đời con người một đikhông trở lại Mặt khác, cuộc đời chỉ có ý nghĩa và giá trị ở mùa xuân, tuổi trẻ

mà quãng đời ấy lại rất ngắn ngủi và qua đi rất nhanh Bởi vậy mà trong cái nhìnnhà thơ, đâu đâu cũng thấy sự chia li, tiếc nuối

Trang 17

Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Vội vàng để làm nổi bật tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ Xuân Diệu:

Ta muốn ôm

.

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

DÀN Ý CHI TIẾT

A MỞ BÀI

- Xuân Diệu là nhà thơ xuất sắc, một trong ba đỉnh cao của phong trào thơ mới,một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế kỉ XX, được mệnh danh là ônghoàng thơ tình

- Bài thơ Vội vàng: là tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu, thành tựu nổi bật củathơ mới

- Đoạn thơ thể hiện một cách đầy đủ và độc đáo tuyên ngôn về lẽ sống của nhàthơ

B THÂN BÀI

I Khái quát chung

1 Hòan cảnh sáng tác, xuất xứ bài thơ ( đề 1)

2 Vị trí, cảm nhận chung về đoạn trích

- Đoạn thơ thuộc phần cuối của tác phẩm, có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc thể hiện chủ đề tư tưởng và hoàn chỉnh kết cấu của tác phẩm Nếu ở phầnđầu bài thơ, Xuân Diệu đã phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp thi vị, tràn đầy niềm vui

và sức sông trên trần thế như một thiên đường trên mặt đất thì ngay sau đó, nhàthơ cũng nhận ra sự hữu hạn, ngắn ngủi của tuổi xuân, đời người trong dòng thờigian trôi chảy Cảm nhận sâu sắc về thời gian đã dẫn Xuân Diệu đến quan niệm

Trang 18

sống vội vàng ở đoạn thơ này ở đoạn thơ này nhà thơ đã bộc lộ khao khát giaocảm mãnh liệt với đời, muốn vượt qua sự hữu hạn của cuộc đời bằng tốc độsống vội vàng, hối hả để đón trước, bắt kịp thời gian.

II Phân tích

1 Năm câu đầu

Dẫn dắt: Từ nỗi ám ảnh về sự hữu hạn của cuộc đời tác giả đã đề ra một giải

pháp táo bạo: con người không thể chặn đứng bước đi của thời gian mà chỉ cóthể chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới - cách sống vội vàng với một tốc

độ, một cường độ thật lớn

- Ta muốn ôm” : câu thơ đặc biệt khác thường: chỉ có ba chữ và được viết

ở giữa dòng thơ gợi hình ảnh cái tôi đầy ham hố đang giang rộng vòng tay để

ôm cho hết mọi vẻ đẹp của cuộc đời

- Điệp ngữ “ta muốn” đứng ở đầu các câu thơ và lặp lại nhiều lần trong

đoạn thơ đã diễn tả trực tiếp khát vọng của nhân vật trữ tình: đó là khát vọngđược giao cảm, tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống trần thế

+ Điệp ngữ “ta muốn” trở đi trở lại nhiều lần tạo nên nhịp điệu thơ sôi

nổi, gấp gáp Đó cũng chính là nhịp điệu cảm xúc của tâm trạng nhà thơ

- Đại từ “tôi” ở phần trước đến đây được thay thế bằng đại từ “ta|” vẫn là

cái tôi ấy nhưng ở đây nó được nhấn mạnh tính đại diện Nhà thơ không chỉ bộcbạch nỗi niềm trong lòng mình mà thể hiện tâm trạng của nhiều người, của cảthời đại

- Khát vọng của nhân vật trữ tình còn được diễn tả qua hệ thống các từ

ngữ táo bạo:

+ Đi liền sau điệp ngữ “ta muốn” là các động từ mạnh: ôm, riết, say, thâu thể

hiện động tác và trạng thái càng ngày càng mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn Điều

đó thể hiện mức độ tăng tiến niềm khát khao giao cảm với đời của nhà thơ

2 Ba câu tiếp:

- Chữ và lặp lại ba lần trong câu thơ Và non nước và cây và cỏ rạng tạo

nên ngữ điệu liệt kê, đi cùng với nó là các danh từ chỉ thiên nhiên Điệp ngữ tạomạch thơ liên tiếp không thể dứt diễn tả trực tiếp cảm xúc ham hố, tham lamđang trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ

- Điệp từ “cho” tạo nên những câu thơ vắt dòng nhấn mạnh khát vọng của

nhà thơ không chỉ là khám phá tận hưởng mà là tận hưởng một cách đầy đủ,trọn vẹn, có ý nghĩa nhất vẻ đẹp của cuộc đời

Trang 19

- Các tính từ: chếnh choáng, đã đầy, no nê sắp xếp theo nhịp độ tăng tiến,

nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thỏa thuê

=> Tám câu thơ đã làm nổi bật khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vậttrữ tình muốn được tận hưởng vẻ đẹp, sự hấp dẫn của cuộc sống Nếu như ở 4câu đầu của bài thơ, Xuân Diệu muốn tắt nắng, buộc gió để níu giữ thời gian,giữ lại mãi hương sắc cho đời Dù mãnh liệt lạ kì nhưng đó vẫn chỉ là ước muốn

xa xôi Đến những câu thơ này, Xuân Diệu đã cụ thể hóa, thực hành hóa ướcmuốn đó bằng tốc độ sống vội vàng, hối hả để vượt qua sự hữu hạn, ngắn ngủicảu đời người ở những câu thơ này ta thấy một cuộc chạy đua giữa con người

và thời gian Điều này ta cũng gặp trong thơ Hàn MặcTử, nhưng khác là Hàn MặcTửchạy đua với thời gian để được sống còn Xuân Diệu chạy đua để tận hưởng cuộc sống

3 Câu thơ cuối

- Hình ảnh “xuân hồng” thể hiện nhiều ý nghĩa:

+ Quan niệm thẩm mĩ độc đáo Nghĩa thực: bức tranh mùa xuân với vẻđẹp tràn đầy sức sống, gợi nhắc đến bức tranh “thiên đường trên mặt đất” ở đầutác phẩm Nhưng sâu xa hơn, đó còn là vẻ đẹp cuộc sống ở độ viên mãn nhất.Hình ảnh thể hiện một quan điểm thẩm mĩ hiện đại, quan niệm nhân sinh tiến

bộ Trong khi các nhà thơ lãng mạn cùng thời tìm cách thoát li cuộc sống đi tìmhạnh phúc ở một thế giới khác thì Xuân Diệu lại khám phá ra một thiên đường ởngay trên mặt đất Vì vậy thơ Xuân Diệu là tiếng nói của tình yệu và sự gắn bóvới đời sống

- Quan điểm nhân sinh tiến bộ: khát khao giao cảm với đời một cáchmãnh liệt Đây cũng là cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác của Xuân Diệu, bởivậy ông được mệnh danh là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời

- Động từ “cắn” đặt trong hệ thống các động từ mạnh: ôm, riết, say, thâu đó chính là đỉnh cao của khát vọng giao cảm với đời.

- Câu cảm thán: cảm xúc dâng trào ở tột đỉnh

III Đánh giá

Đoạn thơ sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật: điệp từ, điệp ngữ liên tiếptạo nhịp thơ nhanh, dồn dập như nhịp cảm xúc trào dâng không thể kìm nén Cácđộng từ mạnh và các tính từ chỉ cảm xúc, cảm giác của sự hưởng thụ ngày mộttăng tiến diễn tả khát khao giao cảm ngày càng mãnh liệt trong lòng nhà thơ.Câu thơ linh hoạt: câu dài câu ngắn, câu thơ vắt dòng tất cả các yếu tố cùngcộng hưởng thể hiện mạnh mẽ niềm khát khao giao cảm với đời và tuyên ngôn

về lẽ sống của nhà thơ: sống vội vàng, hối hả để tận hưởng được nhiều nhất vẻđẹp của cuộc đời

Trang 20

3.1.2 Nghị luận về một bài thơ

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ “Vội vàng” của tác giả Xuân Diệu

Gợi ý A.Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm

B Thân bài

I Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ tác phẩm

II Phân tích bài thơ

1.Nội dung:

a Niềm say đắm trước vẻ đẹp của mùa xuân trên trần thế (13 câu đầu)

- Bốn câu đầu: Thể thơ ngũ ngôn, nghệ thuật điệp ngữ, điệp cấu trúc “tôi

muốn”, giọng thơ sôi nổi, qua đó thể hiện khát vọng cháy bỏng, tha thiết của tác giả Nhà thơ muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn “tắt nắng”, “buộc gió” - một ước muốn kì lạ bởi tác giả muốn níu giữ hương sắc, vẻ đẹp của cuộc đời, muốn níu kéo thời gian để bất tử hóa vẻ đẹp của mùa xuân

- Bảy câu tiếp:Nguyên nhân của những khao khát, ước muốn đó: nhà thơ phát

hiện ra một cõi thiên đường trên mặt đất, ở chính thời khắc hiện tại: Của ong bướm ….cặp môi gần

+ Đó là một thế giới thật sống động, đang dậy sắc tỏa hương, một thế giớingập tràn âm thanh, ánh sáng….Cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi,chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung và như có ý để dành cho những ai đang ở lứa

tuổi yêu đương, ngọt ngào: đó là tuần tháng mật dành cho ong bướm, là hoa của đồng nội xanh rì, là lá của cành tơ phơ phất, là khúc tình si của những lứa đôi…

+ Bằng con mắt xanh non biếc rờn nhà thơ còn phát hiện ra tháng giêng,

mùa xuân ngon như một cặp môi gần => Quan điểm thẩm mĩ mới: con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của cuộc sống

- Hai câu thơ cuối giọng thơ lắng xuống Ngay trong sung sướng, thi nhân

đã bắt đầu phải vội vàng, đang trong hạnh phúc đã thấy mầm móng của li biệt

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Bá Hán - Lê Quang Hưng - Chu Văn Sơn, Tinh hoa Thơ mới, Nhà xuất bản Giáo dục 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục 2003
4.Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ mới, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao Thơ mới
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
5. Đỗ Lai Thúy Mắt thơ I, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội – 2000 6.Trần Nho Thìn – Lê Nguyên Cẩn – Lê NGuyên Cẩn, Phân tích tác phẩm Ngữ Văn 11, Nhà xuất bản Giáo dục 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ I
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
7. Nguyễn Quốc Túy Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
8. Lê Anh Xuân – Vũ Thị Dung – Ngô Thị Bích Hương – Nguyễn Thị Hương Lan, 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn Trung học phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn Trung học phổ thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
2.Giảng văn văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục 1999 Khác
9. Lưu Khánh Thơ (tuyển chọn và biên soạn), Xuân Diệu - Về Tác Gia Và Tác Phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội 2008 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w