1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học toán lớp 3 ở huyện tam dương

24 92 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó có vị trí quan trọng vì: Thứ nhất: Môn toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tốhình học đ

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM DƯƠNG

TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP THỊNH

=====*=====

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Toán lớp 3

ở huyện Tam Dương Tác giả sáng kiến: Phùng Thị Minh Huệ

Tam Dương, năm 2019

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Cấp tiểu học là bậc học nền móng trong quá trình hình thành và phát triểnnhân cách học sinh Vì vậy mục tiêu giáo dục tiểu học đặc biệt nhấn mạnh đếnviệc hình thành và phát triển cho học sinh những tri thức và kĩ năng cơ sở thiếtthực với cuộc sống cộng đồng: phương pháp suy nghĩ và học tập, lòng tự tin,tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt, cách ứng xử hợp đạo lí đối với thiênnhiên, con người và xã hội Tăng cường sức khoẻ và thường xuyên rèn luyệnthân thể, ý chí và ước mơ, góp sức mình làm cho cuộc sống của bản thân và giađình, đất nước trở nên giàu có, lành mạnh và hạnh phúc Đây là những tri thức,

kĩ năng, giá trị vừa đáp ứng cho học tập tiến bộ, học tập thường xuyên của mọingười lao động trong thời đại của khoa học công nghệ, vừa ứng dụng thiết thựctrong cuộc sống cộng đồng Với mục tiêu đó, môn toán cùng các môn học khác

đã góp phần to lớn cho mục tiêu giáo dục tiểu học Nó có vị trí quan trọng vì:

Thứ nhất: Môn toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở ban đầu về số

học, các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tốhình học đơn giản giúp học sinh có thể học tiếp lên trung học hoặc có thể bướcvào cuộc sống lao động

Thứ hai: Hình thành kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có

nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

Thứ ba: Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái

quát hoá, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú học tập toán, phát triển khảnăng suy luận và biết diễn đạt đúng (bằng lời, bằng viết) các suy luận đơn giảngóp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt, sángtạo Cũng như các môn học khác, môn toán còn góp phần hình thành và rènluyện các phẩm chất, các đức tính cần thiết của con người lao động mới: cần cùchịu khó, ý thức vượt khó khăn, tìm tòi, sáng tạo và nhiều kĩ năng tính toánkhác

Môn toán lớp 3 có 5 mạch kiến thức chính, khó có thể nói mạch kiến thứcnào là quan trọng hơn Bởi vậy người dạy phải điều hoà được 5 mạch kiến thức

đó Tuy nhiên không phải ai cũng làm được vì trên thực tế hiện nay bên cạnhnhững thành công trong việc dạy Toán lớp 3 tại các trường tiểu học còn nhiềuhạn chế như học sinh chưa biết cách phân biệt dạng toán cũng như chưa tìm ra

Trang 3

cách giải tương ứng cho từng dạng bài toán cụ thể Do đó vấn đề đặt ra là làmthế nào để học sinh lớp 3 nhận dạng được các bài toán và tìm ra cách giải thíchhợp nhằm phát triển tư duy và nâng cao hiệu quả dạy toán lớp 3 cho học sinh.Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn sáng kiến “Biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học Toán lớp 3 ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” Tôi hi vọngqua việc nghiên cứu sáng kiến này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé của mình vàoviệc giúp học sinh nâng cao các kĩ năng giải toán nhanh gọn, chính xác đồngthời góp phần vào phát triển năng lực tư duy cho học sinh từ đó nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện của huyện nhà

2 Tên sáng kiến

Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Toán lớp 3 ở huyện Tam Dương,tỉnh Vĩnh Phúc

3 Tác giả sáng kiến

Họ và tên: Phùng Thị Minh Huệ

Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường tiểu học Hợp Thịnh, huyện Tam Dương,tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0974421768 Email: muopdang768@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

Nhà giáo: Phùng Thị Minh Huệ - giáo viên trường Tiểu học Hợp Thịnhhuyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Môn Toán lớp 3 ở huyện Tam Dương

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Ngày 25 tháng 8 năm 2018

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Về nội dung của sáng kiến

Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kĩ năng, traudồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó Đó là phẩm chất vốn

có của con người Thông qua học Toán để đức tính đó được thường xuyên pháthuy và ngày càng hoàn thiện Chương trình Toán Tiểu học là một công trìnhkhoa học mang tính truyền thống và hiện đại Việc dạy Toán Tiểu học phải được

Trang 4

đổi mới một cách mạnh mẽ về phương pháp, về hình thức tổ chức dạy học, vềnhận xét, đánh giá học sinh Nghiên cứu chương trình Toán lớp 3 chúng ta thấycác mạch kiến thức được sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh lớp 3.Muốn học sinh nắm chắc được từng mạch kiến thức đòi hỏi mỗi giáo viên phải

đi sâu tìm hiểu rõ nội hàm của nó, bản chất của nó thì mới có phương phápgiảng dạy thích hợp Để đạt được điều này đòi hỏi người giáo viên vừa phải cótâm, vừa phải có tầm mới làm được, bởi trên thực tế đối tượng học sinh ở mỗiđịa phương có sự khác nhau, nhận thức của các em trong cùng một độ tuổi lại có

sự chênh lệch, do đó người giáo viên cần nắm vững đặc điểm về nhận thức, tưduy, cũng như đặc điểm của môn Toán lớp 3, đặc điểm của trường mình từ đó

có cách dạy thích hợp

* Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học.

Qua nghiên cứu khả năng phân tích của học sinh lớp 3 còn thấp, các emthường tri giác trên tổng thể Tri giác không gian chịu nhiều tác động của trườngtri giác gây ra các biến giác, các ảo giác Sự chú ý không chủ định còn chiếm ưuthế ở học sinh lớp 3 Sự chú ý này không bền vững nhất là đối với các đối tượng

ít thay đổi

Trí nhớ trực quan- hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớlôgic Các hình ảnh, hiện tượng cụ thể dễ nhớ hơn là các câu chữ trừu tượng khôkhan Ở lớp 3, trí nhớ tưởng tượng có phát triển hơn lớp 2 nhưng còn tản mạn, ít

có tổ chức và chịu nhiều ảnh hưởng của hứng thú, của kinh nghiệm sống và cácmẫu hình đã biết

Với những đặc điểm nhận thức đã nêu trên của học sinh lớp 3, người giáoviên cần nắm vững làm cơ sở để lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợptrong quá trình giải các bài toán, để biết cách thu hút sự chú ý của học sinh, giúpcác em hiểu được bản chất của bài toán, nắm được cách giải bài toán một cáchlôgic khoa học chứ không máy móc đồng thời dần dần hình thành ở các em cácthao tác tư duy, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết của người lao động mới

* Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học

Tư duy của học sinh lớp 3 là quá trình các em phản ánh bản chất của đốitượng vào não trong quá trình học tập Ở học sinh lớp 3 có các loại tư duy sau:

a Tư duy trực quan hành động: Là loại tư duy hướng vào giải quyếtnhiệm vụ cụ thể trực quan dựa vào các thao tác bàn tay

Trang 5

b.Tư duy trực quan hình ảnh: Là loại tư duy hướng vào giải quyết nhiệm

vụ cụ thể trực quan

Các nhà tâm lí học sư phạm cho rằng: Khi phân loại và khái quát hóa đốitượng hầu hết học sinh đầu bậc Tiểu học đều dựa vào các dấu hiệu tác độngmạnh đến giác quan, điều này gây khó khăn cho học sinh khi phân loại các dạngbài toán và tìm ra phương pháp giải chúng nói chung Vì thế, giáo viên cần kiênnhẫn giúp các em nhận biết được các dạng bài toán để tìm ra cách giải các dạngbài toán đó Tuy nhiên để học sinh nhận biết và giải được các bài toán đó thì cầnphải thông qua các hoạt động thực hành, các hoạt động trừu tượng hóa và kháiquát đối tượng

* Đặc điểm môn Toán ở lớp 3:

Chương trình môn toán ở lớp 3 gồm các mạch kiến thức chính sau: số vàchữ số, bốn phép tính, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán cólời văn mạch kiến thức này không được trình bày theo từng chương, từng phầnriêng biệt mà chúng được sắp xếp xen kẽ với nhau tạo thành một sự kết hợp chặtchẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong môn học Trong mỗi bài thì việc giải toán lại chiếmmột thời lượng khá lớn trong hoạt động học tập của học sinh

* Đặc điểm của trường tiểu học Hợp Thịnh:

Trường tiểu học Hợp Thịnh là trường đứng tốp đầu của huyện TamDương về chất lượng giáo dục Học sinh trường tiểu học Hợp Thịnh có đặc điểmriêng so với các trường trong huyện, học sinh lớp 3A lại có những điểm khácbiệt so với các lớp 3 trong trường vì một số em có tố chất nhưng kết quả học tậpmôn toán chưa cao do phương pháp học tập chưa rõ ràng, còn thụ động trongviệc tiếp thu bài, các em còn ham chơi chưa chú ý đến học tập Bởi vậy tráchnhiệm nặng nề thuộc vào người giáo viên trực tiếp đứng lớp Qua nhiều nămtrực tiếp dạy lớp 3, bản thân đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức về chuyênmôn, chủ động trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy Toán 3 mới Trênthực tế khảo sát học sinh lớp 3A, tôi nhận thấy đối tượng học sinh không đồngđều, một số học sinh chưa nắm vững những kiến thức cơ bản như:

+ Chưa thuộc bảng nhân, chia

+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn,chục)

+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia cột dọc)

Trang 6

+ Giải toán có lời văn chậm, chưa thành thạo.

+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán

7.2 Về khả năng áp dụng của sáng kiến

Từ thực tế đó để rèn luyện và giúp học sinh nâng cao chất lượng học môntoán, ngay từ đầu năm học: 2018-2019 tôi được phân công giảng lớp 3A, tôi đãtiến hành như sau: Tiến hành phân loại học sinh sau khi học các tiết ôn tập toánđầu năm và ghi vào sổ tay theo dõi Kết quả cụ thể như sau:

+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 16/40 học sinh

+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 14/40 học sinh.+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 17/40 học sinh

+ Giải toán có lời văn chưa được: 18/40 học sinh

+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 26/40 học sinh

Từ thực tế trên khiến tôi rất băn khoăn, tôi đã nghiên cứu và tìm ra cácgiải pháp thiết thực để giúp các em học tốt môn Toán lớp 3 góp pần nâng caochất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường nói riêng, của huyện Tam Dươngnói chung

7.2.1 Tìm hiểu điều kiện, hoàn cảnh của mỗi học sinh

Ngay từ đầu năm, qua họp phụ huynh học sinh, tôi động viên phụ huynhmua đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh Đề nghị phụ huynh tạo điều kiện chocon em có góc học tập ở nhà, đặc biệt là phụ huynh nhắc nhở việc học tập củacác em và học thuộc bản cửu chương Ngoài ra tôi lên thư viện mượn them sáchgiáo khoa, vở bài tập cho học sinh nên lớp tôi 100% số học sinh có đủ sách giáokhoa và đồ dùng học tập Bên cạnh đó tôi thường xuyên trao đổi với các phụhuynh trong lớp để tìm hiểu về điều kiện học tập của học sinh ở nhà, sự chăm locủa phụ huynh đối với con em, quan tâm đến những học sinh có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn

7.2.2 Luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, chia.

Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán thìkhông thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, bảng chia Bởi lẽ họcsinh có thuộc bảng nhân, bảng chia thì mới vận dụng giải được các bài tập cóliên quan Đặc biệt là các phép chia có số bị chia ba, bốn chữ số và giải các bàitoán hợp Do đó, tôi luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, bảng

Trang 7

chia bằng cách như sau:

+ Hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, bảng chia giáo viên chốt lạicho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn:

Ví dụ: Bảng nhân.

* Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.

* Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2,

3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị ( trong bảng nhân các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0)

* Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa

số thứ nhất (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần).

* Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.

+ Hàng ngày, đầu giờ học môn toán tổ chức cho học sinh khởi động bằngcách đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2đến bảng nhân, chia hiện đang học

+ Thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng nhân, bảng chia từ 2đến 4 em sau giờ học

+ Tổ chức học sinh tự luyện cá nhân theo “cặp đôi”

* Để thay đổi hình thức dạy học, tạo hứng thú cho học sinh, tôi thường tổchức cho học sinh chơi trò chơi toán học, đố vui, mục đích giúp các em rènluyện khả năng tư duy, linh hoạt và tạo cho không khí giờ học nhẹ nhàng nhưngđem lại hiệu quả cao Sau đây tôi sẽ đưa ra một số trò chơi mà tôi đã áp dụngđem lại hiệu quả cao trong các giờ học toán của lớp 3

Ví dụ 1: Tổ chức ôn lại bảng nhân

Trò chơi được sử dụng: Trò chơi lô tô

Bước 1: Chuẩn bị nhiều bảng số theo thứ tự đảo ngược như sau:

Trang 8

40 20 32

Bước 2: Hướng dẫn cách chơi:

Giáo viên phát cho mỗi em một bảng sau đó giáo viên (hoặc lớp trưởng)lần lượt đọc mỗi lần 1 phép tính trong bảng nhân 4 nhưng không nêu kết quả.Học sinh nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết quả đúng Nếu học sinhnào đánh đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng

Ví dụ 2 : Câu đố « Thúng cam kỳ lạ »

Một thúng đựng cam sau mỗi phút số cam lại tăng lên gấp đôi Biết rằngsau 25 phút thúng đầy cam Hỏi sau bao lâu thì thúng cam kì lạ này được mộtnửa thúng cam ?

Nếu học sinh nào đoán đúng (24 phút), thì em đó thắng cuộc, được cả lớp

vỗ tay hoan hô

Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảngnhân, chia 2 đến 9 Qua thời gian không lâu lớp tôi có 34/34 học sinh thuộc tất

cả bảng nhân chia từ 2 đến 9

7.2.3 Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.

Đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan trọng trongchương trình toán 3

Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và sosánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toánhợp

Dạy chuỗi kiến thức này giáo viên cần hình thành cho học sinh nhữngkiến thức cơ bản sau:

* Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên

- Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, là các số tự nhiên

- Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất

- Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị

Trang 9

- Biết quy tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số.

Ví dụ: Dạy cho học sinh về các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng

trăm, hàng chục, hàng đơn vị Tôi giải thích cho học sinh là: hàng nghìn phải làcác chữ số lớn hơn 0

Ví dụ : 1234; 2574; 4351; hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn Không thể có

hàng nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, Vậy số có bốn chữ số có hàngnghìn nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 9

Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Giáo viên viết: 5921

Phân tích: 5 9 2 1

5nghìn 9trăm 2chục 1đơn vị

Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị

Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải)

Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó

Học sinh đọc: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau:

Ví dụ: Số 5921 và 5911.

Số 5921 đọc là: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Số 5911 đọc là: Năm nghìn, chín trăm mười một

Trang 10

Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng

hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một Nghĩa là số 5921, hàng đơn

vị đọc là mốt, còn số 5911 hàng đơn vị đọc là một Tuy cùng hàng và đều là số

“1” nhưng tên gọi lại khác nhau Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và

nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:

Ví dụ: Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là

“năm” và “lăm”.

Ví dụ: Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười” Tôi hướng dẫn các em Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.

Để tìm số lớn nhất trong các số: 4375 ; 4735 ; 4537 ; 4753 Tôi hướng dẫn

họ sinh như sau:

Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau

Cụ thể trên bảng phần được xoá là:

4753 Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này và tìm được số lớn nhất là4753

Trang 11

7.2.4 Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia

theo cột dọc)

Trên thực tế giảng dạy cho thấy, đặt tính cũng là một việc hết sức quantrọng trong quá trình làm tính Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tínhsai sẽ dẫn đến kết quả sai Vì thế theo tôi nghĩ, để học sinh có căn bản khi thựchiện các phép tính phải nắm vững cách đặt tính, các thành phần cũng như sự liênquan trong khi làm tính cộng, trừ, nhân, chia

* Đối với phép cộng, trừ: (giúp học sinh nhớ và áp dụng)

Trang 12

x = 8265

+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu

8265 - x = 3113

x = 8265 - 3113

x = 5152

+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó

4 - 0 = 4

- Đặt tính và tính:

Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị theo hàng đơn vị, hàng chục theo hàng chục, hàng trăm theo hàng trăm, hàng nghìn theo hàng nghìn) Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái) Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp

* Lưu ý HS: Khi kẻ vạch ngang, tất cả các em đều dùng bằng thước * Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ 2 số chỉ nhớ nhiều nhất là 1. * Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng) - Phép nhân: Ví dụ: 1427 x 3 = 4281

Thừa số Thừa số Tích

+ Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai 1427 x 3 = 4281 + Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết VD: Phép cộng có nhớ một lần.

435

127

562

Lần: 321

 5 cộng 7 bằng 12, viết 2 nhớ 1  3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6  4 cộng 1 bằng 5, viết 5

+

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w