1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy về câu theo chuẩn kiến thức kĩ năng phân môn luyện từ và câu lớp 4 hay

14 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ: - Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học nhằm hình thành và phát triển giúp học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong

Trang 1

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

“ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VỀ CÂU

THEO CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4”

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

- Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học nhằm hình thành và phát triển giúp học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập

và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi đồng thời giúp học sinh có

cơ sở tiếp thu kiến thức ở các lớp trên Trong bộ môn Tiếng Việt - phân môn Luyện từ

và câu có một nhiệm vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói - viết) kỹ năng đọc cho học sinh Cụ thể là:

+ Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản

về từ và câu

+ Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu + Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng để nói và viết thành câu, có

ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giáo tiếp

- Qua nhiều năm thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa của khối 4

và cụ thể ở môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng còn một số vấn đề chúng ta thực hiện chưa tốt dẫn đến hiệu quả tiết dạy chưa cao: VD

GV lên lớp còn máy móc cứng nhắc trong việc dạy và các hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú, HS chưa tích cực, chủ động trong tiếp thu kiến thức,…

- Xuất phát từ những vấn đề của thực trạng trên, được sự phân công của BGH,

tổ chuyên môn khối 4+5 chúng tôi mạnh dạn bàn về việc dạy và học phân môn Luyện

từ và câu trên cơ sở chuẩn KT- KN của môn học nhằm nâng cao hiệu quả tiết dạy cho

phù hợp với tình hình mà yêu cầu đã đặt ra qua chuyên đề “Đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy về câu theo chuẩn kiến thức kĩ năng phân môn luyện từ và câu lớp 4”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Để giảng dạy tốt môn Tiếng Việt lớp 4 nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng, người giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học của chương trình Tiếng Việt 4 Bên cạnh đó là việc không ngừng học tập áp dụng các phương pháp mới, hình thức mới vào bài dạy Cụ thể như sau:

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:

1 Mục đích, yêu cầu dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4:

- Kiến thức: Mở rộng hệ thống hoá vốn từ và trang bị cho học sinh một số

hiểu biết sơ giản về từ và câu

Trang 2

- Kĩ năng: Rèn luyện cho HS các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu

câu

- Thái độ: Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có

ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp

2 Nội dung dạy học:

Phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 được dạy trong 62 tiết; 1tuần : 2 tiết; HKI:

32 tiết; HKII 30 tiết

Bao gồm các nội dung sau:

a Mở rộng hệ thống hoá vốn từ: (19 tiết)

- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá theo trường nghĩa tương đương các chủ điểm

+ HK I: 9 tiết

Nhân hậu – Đoàn kết (tuần 2, 3) Trung thực – Tự trọng (tuần 5, 6) Ước mơ (tuần 9)

Ýchí – Nghị lực (tuần 12, 13)

Đồ chơi – Trò chơi (tuần 15; 16) + HK II: 10 tiết

Tài năng (tuần 19) Sức khoẻ (tuần 20) Cái đẹp (tuần22, 23) Dũng cảm (tuần 25, 26)

Du lịch – Thám hiểm (tuần 29, 30) Lạc quan – Yêu đời (tuần 33, 34)

- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống thông qua các bài tập: tìm từ ngữ theo chủ điểm; tìm hiểu nắm nghĩa của từ; phân loại từ ngữ; tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm; luyện sử dụng từ ngữ

b Tiếng, cấu tạo từ: (5 tiết)

- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ:

+ Cấu tạo của tiếng (tuần 1: 2 tiết) + Từ đơn và từ phức (tuần 3: 1 tiết) + Từ ghép và từ láy (tuần 4: 2 tiết)

- Các dạng bài tập bao gồm: nhận diện và phân tích cấu tạo của tiếng, từ; phân loại từ theo cấu tạo; tìm từ theo kiểu cấu tạo; luyện sử dụng từ

c Từ loại: 9 tiết

- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo từ loại của Tiếng Việt

+ Danh từ (tuần 5, 6, 7, 8: 5 tiết gồm cả cách viết danh từ riêng)

Trang 3

+ Động từ (tuần 9 và 11: 2 tiết) + Tính từ (tuần 11 và 12: 2 tiết)

- Các dạng bài tập gồm có: nhận diện từ theo loại; luyện viết danh từ riêng; tìm

và phân loại từ theo từ loại; luyện sử dụng từ

d Câu: 26 tiết

- Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng, và cách sử dụng các kiểu câu:

+ Câu hỏi: tuần 13, 14, 15 – 4 tiết

+ Câu kể: tuần 16, 17, 19, 20, 21, 22, 24, 25, 26 – 12 tiết bao gồm các kiểu câu: Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?

+ Câu khiến: tuần 27,29- 3 tiết + Câu cảm: tuần 30 – 1 tiết + Thêm trạng ngữ cho câu: tuần 31, 32, 33, 34 - 6 tiết

- Các dạng bài tập gồm có: nhận dạng các kiểu câu; phân tích cấu tạo câu; đặt câu theo mẫu nhằm thực hiện các mục đích cho trước; lựa chọn kiểu câu để đảm bảo lịch sự trong giao tiếp; luyện sử dụng câu trong các tình huống khác nhau; luyện mở rộng câu

e Dấu câu: 3 tiết

- Cung cấp kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng các dấu câu:

+ Dấu hai chấm (tuần 2: 1 tiết) + Dấu ngoặc kép (tuần 8: 1 tiết) + Dấu chấm hỏi (tuần 13 học cùng câu hỏi) + Dấu gạch ngang (tuần 13: 1 tiết)

- Các dạng bài tập gồm có: tìm công dụng của dấu câu; luyện sử dụng dấu câu (đặt dấu câu vào chỗ thích hợp, tập viết câu , đoạn có sử dụng dấu câu)

3 Các biện pháp dạy học chủ yếu:

a Cung cấp kiến thức mới:

- Giáo viên tổ chức cho HS làm các bài tập ở phần nhận xét theo các hình thức:

+ Trao đổi chung cả lớp

+ Trao đổi từng nhóm ( tổ; bàn; hoặc 2,3 HS)

+ Tự làm cá nhân

- Qua đó, HS rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức

b Luyện tập và mở rộng vốn từ:

Giáo viên cho học sinh nhắc lại một số kiến thức có liên quan, rồi tổ chức cho

HS làm các bài tập theo các hình thức trao đổi nhóm, thi đua giữa các nhóm, cá nhân Cần lưu ý các vấn đề sau:

+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập

Trang 4

+ Chữa mẫu cho học sinh một phần hoặc 1 bài để hướng dẫn cách làm.

+ Hướng dẫn học sinh làm vào vở (bảng phụ, nháp…)

+ Hướng dẫn HS nêu kết quả, chữa bài tập và tự kiểm tra kết quả luyện tập

4 Qui trình giảng dạy:

a Kiểm tra bài cũ: Có thể thực hiện một số việc như sau:

- GV có thể thực hiện yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã học ở tiết trước, cho

VD minh hoạ

- GV gọi học sinh làm bài tập ở tiết trước (yêu cầu HS khác nhận xét, chữa bài)

- GV kiểm tra nhận xét bài làm trong vở của một số học sinh

- Nhận xét rút kinh nghiệm

b Dạy bài mới: Tuỳ loại bài, GV có thể tiến hành dạy bài mới theo đủ hoặc thêm, bớt, điều chỉnh trật

tự các bước sau:

Dạy bài lí thuyết Dạy bài thức hành

b Hình thành KN: 10-15’ b Hướng dẫn thực hành (32-34')

- Giáo viên sẽ phân tích ngữ liệu - Đọc và xác định yêu cầu của BT

c Hướng dẫn luyện tập: 15 - 20' - Hướng dẫn 1 phần BT mẫu

- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập - Học sinh là BT

- Hướng dẫn giải 1 phần bài tập mẫu - Nhận xét, chữa bài

- Học sinh làm bài tập

- Chữa và nhận xét

d Củng cố - dặn dò (2-3') c Củng cố - dặn dò (2-3')

* Lưu ý: Khi củng cố dặn dò, cần làm rõ hai yêu cầu sau:

- GV nhận xét tiết học, nhấn mạnh những điều cần nhớ về nội dung, kiến thức,

kĩ năng

- GV nêu yêu cầu thực hành luyện tập ở nhà và chuẩn bị bài cho tiết học sau

5 Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy luyện từ và câu nhằm đạt hiệu quả thiết thực:

Các phương pháp thường sử dụng khi dạy phân môn Luyện từ và câu là:

+ Phương pháp gợi mở vấn đáp

+ Phương pháp trực quan

+ Phương pháp thực hành giao tiếp

+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ

+ Phương pháp luyện từ theo mẫu

Trang 5

- Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hoá vốn từ: GV cần làm cho HS hiểu

rõ tên chủ điểm , từ đó HS có cơ sở tìm thêm các từ khác theo chủ điểm đã cho Căn

cứ vào đối tượng học sinh cụ thể, GV cần lựa chọn biện pháp dạy học sao cho phù hợp, tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều được tham gia thực hành theo năng lực của mình từng bước vươn lên đạt chuẩn KT – KN

- Đối với dạng bài cung cấp kiến thức mới và thực hành luyện tập: GV cần chủ động dẫn dắt, gợi ý cho HS trao đổi chung ở lớp từ đó rút ra những điểm cần ghi nhớ

về kiến thức một cách nhanh - gọn (tránh phân tích ngữ liệu quá kĩ mất nhiều thời gian)

- Trong quá trình luyện tập: GV có thể nhắc lại một số kiến thức liên quan để

HS dễ dàng trong quá trình làm bài tập Tổ chức cho HS làm bài theo nhiều hình thức

để cả lớp cùng hoàn thành bài tập theo yêu cầu đặt ra Đồng thời tổ chức cho HS đánh giá bài làm của mình hoặc của bạn Làm cơ sở cho GV cũng cố và sữa sai kịp thời

- Đối với tiết học có nhiều bài tập( không đủ thời gian thực hiện kĩ trong 1 tiết) hoăc bài tập có yêu cầu cao so với trình độ chung của cả lớp GV có thể giảm nhẹ hoặc gợi ý cụ thể để HS có khả năng thực hiện được yêu cầu cơ bản chấp nhận được

ở mức tối thiểu Việc giảm bớt bài tập đồng dạng nhằm giải quyết khó khăn về thời gian, làm cho giờ học bớt nặng nề và đảm bảo hiệu quả dạy học thiết thực đối với những lớp học có nhiều đối tượng và có nhiều học sinh yếu

II NHỮNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ:

Nội dung về câu trong chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 chiếm một thời lượng khá lớn 26/62 tiết (chiếm ~ 42%) Từ đó cho thấy nội dung này có vị trí, vai trò quan trọng với HS lớp 4 Trong quá trình giảng dạy, GV thường gặp phải những vấn đề cụ thể như sau:

1 Thực trạng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở khối lớp 4:

a Thuận lợi:

- Giáo viên: Đội ngũ giáo viên có năng lực sư phạm, nhà trường trang bị đầy

đủ SGK, sách hướng dẫn và được học về sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Phân môn luyện từ và câu của lớp 4 nhìn chung ngắn gọn, cụ thể chỉ rõ 2 dạng bài: bài lý thuyết và bài tập thực hành với định hướng rõ ràng

- Học sinh đã quen với cách học từ lớp 1,2,3 nên các em đã biết cách lĩnh hội

và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên

b Khó khăn:

- Do lớp học 2 buổi/ngày nên việc thăm lớp dự giờ học hỏi chuyên môn của

GV còn hạn chế

- Nhiều GV trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong thực tế giảng dạy nên việc phân chia thời lượng lên lớp, phân chia hoạt động của cô - của trò có lúc thiếu nhịp nhàng

Trang 6

- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học còn cứng nhắc nên không gây được hứng thú cho HS

- Việc sử dụng những đồ dùng dạy học mới, phương pháp, hình thức mới chưa thường xuyên cũng làm cho giờ học kém hấp dẫn với HS

- Học sinh: có một số học sinh chưa nắm chắc kiến thức đã học dẫn đến việc học theo kiến thức mới còn gặp nhiều khó khăn

2 Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu

ở lớp 4:

a Lập kế hoạch bài học:

Việc lập kế hoạch bài học tức là tạo ra cho mình một cẩm nang cho việc dạy học Vì vậy, việc lập kế hoạch bài học của giáo viên phải logic, tích hợp đầy đủ các nội dung dạy học ở trong đó, phải có đầy đủ mục đích, yêu cầu cũng như quy trình một bài dạy sao cho phù hợp, có hoạt động người dạy, người học Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy ngoài dự kiến của mình

để có thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh động, hấp dẫn

b Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng dạy học:

Việc dạy học theo phương pháp mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải năng động, sáng tạo tìm tòi học hỏi để làm tăng hiệu quả giờ dạy đồng thời nâng cao chất lượng học tập của học sinh Vì vậy, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho mỗi bài dạy là khâu quan trọng, mỗi bài yêu cầu mỗi loại đồ dùng riêng như: Phiếu học tập, bảng phụ, hình ảnh trực quan, máy chiếu,…Đồ dùng dạy học sẽ đóng góp phần lớn cho hiệu quả cũng như thành công của tiết dạy

Người giáo viên phải là người giúp học sinh biết cách lựa chọn và sử dụng các tài liệu, đồ dùng học tập như thế nào cho phù hợp Tài liệu nào các em có thể sử dụng khi học ở trên lớp, khi học ở nhà, nguồn tài liệu nào phù hợp với các em hay khi nào thì có thể sử dụng sách giáo khoa, vở bài tập, sách tham khảo Không chỉ sử dụng các thông tin có trong sách mà các em còn có thể tự tìm tòi, tự làm lấy để trở thành

đồ dùng học tập hữu ích Từ đó học sinh sẽ chủ động hơn khi sử dụng các loại tài liệu

mà không còn phụ thuộc hay lệ thuộc vào sách tham khảo Làm được điều này cũng đồng nghĩa với việc học sinh sử dụng các loại sách tham khảo, có sẵn đáp án chỉ là một tài liệu giúp các em dùng để so sánh với kết quả bài làm của mình

Ví dụ: Khi dạy bài Câu kể Ai làm gì? với yêu cầu bài tập 1 phần luyện tập, cần

chuẩn bị một số hình ảnh minh họa để học sinh hiểu thế nào là đồi cọ, móm lá cọ,…

vì những hình ảnh đó, vật đó ở địa phương không có

c Tổ chức thực hiện:

- Sau mỗi tiết học, giáo viên cần dành chút ít thời gian để hướng dẫn cho các

em xem trước bài học sắp tới và những phần cần chuẩn bị, có như vậy khi học bài

Trang 7

mới các em đã được làm quen, xem qua những kiến thức mình sắp học đồng thời cũng bổ sung những kiến thức đã học liên quan đến bài mới Có thể có nhiều hình thức tổ chức khác nhau để thực hiện bài tập như: làm việc cá nhân; làm việc theo cặp, theo nhóm; làm việc theo lớp

- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả làm việc bằng nhiều hình thức khác nhau và phải luân phiên nó bằng phiếu bài tập, có khi là phiếu học tập, có khi là bằng bảng giấy hay bảng lớp, có khi trình bày bằng miệng Ngoài ra, còn có thể cho thi đua giữa các nhóm

- Trao đổi với học sinh sửa đổi cho học sinh hoặc tổ chức cho các em góp ý đánh giá cho nhau trong quá trình làm bài

- Sơ kết tổng kết ý kiến, ghi bảng nếu cần thiết

Một số biện pháp cụ thể khi tổ chức thực hiện như sau:

Biện pháp thứ nhất: Phát huy ý thức học tập của học sinh từ đó bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh qua các bài học.

Cũng như các phân môn khác của Tiếng Việt, một trong những nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu là bồi dưỡng ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt văn hoá Để thực hiện nhiệm vụ đó giáo viên cần bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh, học sinh cần có ý thức học tập đúng đắn Vì vậy, trước hết là cách làm cho học sinh ý thức được ích lợi của việc học để tạo động cơ học tập Cho nên ở mỗi tiết dạy người giáo viên đều cần hướng đến việc hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh Dạy Luyện từ và câu chính là dạy cho các em kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp nhưng giáo viên cần đưa ra một số thủ pháp dạy học, hình thức dạy học phù hợp với sở thích của các em, đó chính là các trò thi đố, các trò chơi để gây hứng thú cho học sinh trong giờ học, giảm bớt sự căng thẳng, nhàm chán

Bên cạnh đó người giáo viên cần thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực

và tốt đẹp giữa cô và trò, giữa các trò với nhau cũng sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy: làm việc

cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo hứng thú cho cả cô và trò Vì vậy, bên cạnh việc giáo dục tính mục đích kỉ luật, ý thức về trách nhiệm cho học sinh, với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhà trường phải là người tổ chức cuộc sống ở trường thật hấp dẫn, tạo niềm vui, phải phấn đấu sao cho “Mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui” Mỗi học sinh sẽ luôn mong muốn phải là người được hạnh phúc ngay ngày hôm nay Bởi vậy, giáo viên phải thường xuyên tìm hiểu học sinh muốn việc học diễn ra như thế nào? cái gì làm các em thích? cái gì làm các em không thích? để có thể tổ chức quá trình dạy học như các em mong đợi

Trang 8

Trong quá trình dạy học người giáo viên cần chú trọng vào mặt thành công của trẻ, nhìn nhận các em theo cách nhìn: em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng Chỉ có em này ngoan, giỏi, cố gắng nhiều hơn, em kia ngoan, giỏi,

cố gắng ít hơn mà thôi Bên cạnh đó giáo viên là người luôn nâng đỡ, khích lệ, thông cảm chú trọng vào mặt thành công của các em, đề cao tính sáng tạo của các em Đôi lúc cô giáo cũng cần tỏ ra ngạc nhiên, vui sướng, tôn trọng những sáng tạo của các

em dù là rất nhỏ, giúp các em tự phát hiện ra chân lí Sau cùng là cách kiểm tra đánh giá của cô giáo đối với các em Việc đánh giá trong dạy học đòi hỏi phải nghiêm khắc nhưng không có nghĩa là khắt khe và quá chặt chẽ khi nhận xét hay khi cho điểm

Tóm lại, để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật trong quá trình dạy học của người giáo viên Tạo hứng thú cho học sinh trong học tập cũng chính là làm cho các em thấy hạnh phúc trong học tập, bởi vì học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính

sự học từ đó mà các em nâng cao ý thức trong học tập

Biện pháp thứ hai: Biện pháp về phân chia đối tượng học sinh.

Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh, vì vậy có thể phân chia học sinh ra nhiều mức độ (giỏi, khá, trung bình, yếu) để có phương pháp dạy thích hợp Muốn phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh người giáo viên phải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài cần phù hợp với từng đối tượng học sinh, cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh trong giờ học để cho tất cả các em đều được nói, đều được làm việc phù hợp với khả năng tư duy

Ví dụ: Khi dạy bài “Câu kể Ai làm gì?” ở BT1: Đọc đoạn văn sau: “Trên

nương mỗi người một việc Người lớn thì đánh trâu ra cày Các cụ già thì nhặt cỏ đốt

lá Mấy chú bé bắc bếp thổi cơm Các bà mẹ lom khom tra ngô Các em bé ngủ khì trên lưng mẹ Lũ chó sủa om cả rừng” rồi tìm trong mỗi câu ở đoạn văn trên các từ ngữ:

a) Chỉ hoạt động:

b) Chỉ người hoặc vật hoạt động

Thì học sinh có thể tìm được:

+ Từ chỉ hoạt động: đánh trâu ra cày, nhặt cỏ đốt lá, ngủ khì trên lưng mẹ, bắc bếp thổi cơm, lom khom tra ngô, sủa om cả rừng

+ Từ chỉ người hoặc vật hoạt động: người lớn, các cụ già, mấy chú bé, các

em bé, lũ chó

Lúc này giáo viên gạch chân những từ ngữ mà các em đã tìm được Sau đó tiến hành hỏi: Em hãy đặt câu hỏi cho từng từ chỉ hoạt động?

Thì học sinh nêu: Người lớn làm gì? Các cụ già làm gì?

Trang 9

Biện pháp thứ ba: Biện pháp về phân bố thời gian học tập.

Để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4, việc phân

bố thời gian học tập cho học sinh một cách hợp lí cũng là một yếu tố quan trọng của

sự thành công Người giáo viên phải biết phối kết hợp nhịp nhàng các hoạt động dạy học và phân chia thời gian của từng hoạt động đó phù hợp trong mỗi tiết học, mỗi bài học cụ thể Tránh tình trạng hết tiết học mà không hết bài hoặc ngược lại tạo cơ hội cho học sinh không làm việc Điều này cũng giúp ích cho học sinh trong việc tự phân

bố thời gian học ở nhà hợp lí, mang lại hiệu quả

Biện pháp thứ năm: Biện pháp kèm cặp học sinh yếu Với đối tượng là học sinh yếu cần giúp các em xác định được mạch kiến thức trong chương trình được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, tuỳ theo ở mỗi lớp mà có những yêu cầu khác nhau.Từ đó giúp học sinh yếu nắm chắc những kiến thức ở lớp dưới, bổ xung những lỗ hổng về kiến thức ở lớp dưới thì đến lớp 4 các em sẽ nắm kiến thức một cách dễ dàng hơn, phát huy được những kiến thức và kĩ năng học sinh đã đạt ở lớp 1, 2, 3 theo hệ thống lôgic

Ví dụ: Ở lớp 2,3, các em đã được học về các kiểu câu kể, học cách đặt câu

hỏi với từ cho trước Vì vậy ở lớp 4, khi dạy về câu kể, GV cho HS nhớ lại cách làm

đã học mà không phải hướng dẫn cụ thể lại từ đầu chỉ cần nêu yêu cầu để HS tự đặt câu

* Về mặt ngữ pháp, ba kiểu câu nói trên khác nhau chủ yếu ở vị ngữ:

- Câu kể Ai làm gì? có vị ngữ là động từ chỉ hoạt động

- Câu kể Ai thế nào? có vị ngữ là tính từ, động từ chỉ trạng thái

- Câu kể Ai là gì? có vị ngữ là tổ hợp của từ là với danh từ, động từ, tính từ hoặc cụm chủ - vị

* Về chức năng giao tiếp, mỗi kiểu câu trên thích hợp với một chức năng khác nhau:

- Câu kể Ai là gì? dùng để định nghĩa, giới thiệu, nhận xét Ví dụ: Đây là bạn Lan Hay: Bạn Lan là lớp trưởng lớp tôi

- Câu kể Ai làm gì? dùng để kể về hoạt động của người, động vật hoặc tĩnh vật được nhân hoá

- Câu kể Ai thế nào? dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái của người, vật

Như vậy, khi dạy xong cả ba kiểu câu kể trên, tôi cho học sinh thực hành luyện tập một số dạng bài tập chủ yếu để phân biệt được kiểu câu Ai làm gì? Và Ai thế nào? Vì hai kiểu câu này có một số trường hợp rất dễ nhầm lẫn

Chẳng hạn: - Người ta treo bức tranh trên tường (Câu Ai làm gì?)

- Bức tranh treo trên tường (Câu Ai thế nào?)

Hay trường hợp câu:

Trang 10

"Đàn voi chậm rãi bước đi."

Ta có thể đặt câu hỏi tìm vị ngữ: (1) Đàn voi thế nào? ( 2) Đàn voi làm gì?

+ Trong trường hợp (1), chậm rãi là bộ phận chính của vị ngữ Câu đã cho thuộc kiểu

Ai thế nào?

+ Trong trường hợp (2), bước đi là bộ phận chính của vị ngữ Câu đã cho thuộc kiểu

Ai làm gì?

Hoặc câu: "Áo này mặc đẹp" Động từ mặc không phải là bộ phận chính của vị ngữ vì chúng có thể được lược bỏ mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa chung của câu

Như: "Áo này mặc đẹp" có thể nói: "Áo này đẹp" Vậy câu này thuộc kiểu câu Ai thế nào? Chứ không phải kiểu câu Ai làm gì?

Tóm lại, khi dạy phần này, tôi hướng dẫn học sinh nắm vững các đặc điểm của vị ngữ (như đã phân tích ở trên) để đặt câu hỏi tìm vị ngữ cho phù hợp: Làm gì?

Là gì? hay thế nào? Để tránh những nhẫm lẫn có thể

Đối với phần dạy trạng ngữ trong câu: Cần lưu ý trạng ngữ với một số thành phần khác của câu Để phân biệt trạng ngữ với một số thành phần khác của câu, trước hết phải cho học sinh hiểu: Trạng ngữ là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa tình huống cho câu Cụ thể là cho biết thời gian (trạng ngữ chỉ thời gian); nơi chốn (trạng ngữ chỉ nơi chốn); nguyên nhân (trạng ngữ chỉ nguyên nhân); mục đích (trạng ngữ chỉ mục đích); cách thức, phương tiện (trạng ngữ chỉ phương tiện) Nếu lược bỏ trạng ngữ, câu vẫn trọn vẹn(đủ chủ ngữ, vị ngữ) và hoàn chỉnh Nhưng có thêm trạng ngữ thì ý nghĩa của câu được phản ánh một cách thực tế, khách quan hoặc tình cảm, nhận thức chủ quan của người nói( người viết)

+ Về cấu tạo, trạng ngữ là một cụm từ có hoặc không có quan hệ từ đứng trước

Ví dụ: Vào lúc 7 giờ, em đi học.

Hôm qua, em đi xem xiếc

+ Về vị trí, trạng ngữ có thể đứng trước, đứng giữa, hoặc đứng sau nòng cốt câu

Ví dụ: Có thể nói: Vào lúc 7 giờ, em đi học

Em đi học vào lúc 7 giờ

Em, vào lúc 7 giờ, đi học

3 Minh họa bằng tiết dạy cụ thể:

Bài: Câu kể Ai làm gì? - LTVC tuần 17

I Mục đích, yêu cầu:

- Nắm được cấu tạo cơ bản của câu kể Ai làm gì?

- Nhận ra chủ ngữ và vị ngữ của câu kể Ai làm gì? (BT1, BT2, mục III); từ đó

vận dụng kiểu câu kể Ai làm gì? vào bài viết (BT3, mục III)

II Đồ dùng dạy - học:

- Máy chiếu, phông nền, máy tính

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w