1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN bien phap ren ki nang giai toan tinh gia tri bieu thuc cho HS lop 3

48 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 442,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I/ TÊN ĐỀ TÀI: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN DẠNG TÍNH GIÁ TRỊ CỦA BIÊU THỨC CHO HỌC SINH LỚP 3/A – NĂM HỌC : 2012- 2013 II/ ĐẶT VẤN ĐỀ : 1.Tầm quan trọng của đề tài: Đại hội đạ

Trang 1

I/ TÊN ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN DẠNG TÍNH GIÁ TRỊ CỦA BIÊU THỨC CHO HỌC SINH LỚP 3/A – NĂM HỌC : 2012- 2013 II/ ĐẶT VẤN ĐỀ :

1.Tầm quan trọng của đề tài:

Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ IX của Đảng đã chỉ rõ “ Phát triển giáodục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp hoá, hiện đạihoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Mục tiêu của giáo dục hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.Môi trường giáo dục của trường Tiểu học là cái nôi cung cấp cho học sinh nhữngtri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triểnnhân cách

Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triểnnhững cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Trong các mônhọc ở tiểu học, môn Toán có vị trí rất quan trọng

Trong chương trình dạy – học toán ở Tiểu học, chương trình toán lớp 3đóng một vai trò trọng yếu Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học,phải chuẩn bị đầy đủ kiến thức cho cơ sở ban đầu, để học sinh học tốt giai đoạncuối của bậc Tiểu học và tiếp các cấp học sau này

Người thầy giáo rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học theo chương trìnhdạy- học Trường học kiểu mới Việt Nam (VNEN), đúng với mục tiêu đề ra

Trong nghị quyết Đại hội Đảng lần IX cũng đã nêu ra “ Tăng cường đổimới phương pháp giảng dạy, phát huy tính sáng tạo của người học, coi trọngthực hành, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt học chay”

2.Thực trạng của vấn đề:

Lớp 3/a tổng số: 29/14 nữ

Trong môn Toán, học sinh học đến phần tính giá trị biểu thức thì nhiều emlúng túng, chưa giải được, giải sai hoặc giải không đúng phương pháp toán học.Học sinh sẽ hỏng kiến thức và gây ảnh hưởng không nhỏ đến các dạng toán liênquan như giải bài toán hợp…

Trước tình hình thực tế như vậy, để thực hiện những quan điểm đổi mớinói trên, trong dạy học nói chung, dạy học môn toán nói riêng, tôi đã tìm biệnpháp: “Rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức cho học sinhlớp 3/a năm học 2012-2013” Bản thân tôi thấy rất cần thiết trong việc dạy họcmôn toán ở lớp 3, mà tôi đã áp dụng trong nhiều năm học qua đạt được kết quả.Trong năm học 2012-2013 theo chương trình dạy học VNEN với lớp 3/a Trongmột tiết học toán chẳng hạn, học sinh chưa thực hiện hoàn thành các hoạt độngthì được phép thực hiện tiếp vào buổi chiều Đây là một quy trình dạy học phù

Trang 2

hợp với đề tài mà tôi đã và đang nghiên cứu áp dụng cho lớp học của mình đạtđược hiệu quả cao.

3.Lý do chọn đề tài:

Trong nhiều năm dạy Tiểu học, bản thân tôi được liên tục giảng dạy lớp 3

ở những năm gần đây, nhiều trường, nhiều lớp, nhiều đối tượng học sinh Trênthực tế của từng lớp, từng trường nói riêng đều có một số em giỏi toán và một số

em yếu toán, năng lực học tập của học sinh chưa đồng đều Những em giỏi thìsay mê học tập Những em yếu thì lười học, sợ học và chán học Muốn đảm bảochất lượng học tập của các em trong một lớp, một khối lớp…, đồng đều nhưnhau Học sinh phát huy trí tưởng tượng, rèn luyện tính tư duy, trừu tượng vànâng cao dần kiến thức học sinh yếu, kém tiến kịp học sinh khá, giỏi về thực

hiện giải các bài toán dạng tính giá trị biểu thức Nên tôi đã chọn đề tài “ Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp 3/a-Năm học: 2012- 2013 ”.

4.Mục đích nghiên cứu:

Mục đích giúp các em học môn toán lớp 3, giải toán về dạng tính giá trịbiểu thức thành thạo và học tập tốt hơn Góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáodục, phát triển tư duy, sáng tạo tìm tòi học tập để giờ học có sức hấp dẫn, kíchthích hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nắm vững bài học và thêm yêumôn học toán Đồng thời là một nghiên cứu miệt mài sáng tạo của giáo viên Tiểuhọc, cùng với ngành Giáo dục góp phần dạy học tích cực để rèn luyện cho họcsinh những kĩ năng trong học tập có hiệu quả như chương trình VNEN Hiện naytrên toàn quốc đang bắt đầu thực hiện từ năm học 2012-2013

5.Giới hạn của đề tài:

Nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục cho học sinh chăm chỉ học tập, tập trunghọc tập và rèn luyện kĩ năng giải dạng toán tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp3/a Tôi đã nghiên cứu một số biện pháp để rèn luyện kĩ năng, nhằm nâng caochất lượng đồng đều ở môn học toán cho học sinh, thông qua các tiết học chínhkhoá và các tiết học phụ đạo, bồi dưỡng buổi chiều như CT VNEN đã triển khai

III/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Tôi đã rèn luyện kĩ năng giải toán dưới dạng tính giá trị của biểu thức chohọc sinh lớp 3/a Nhằm bồi dưỡng sự tự tin, tính liên tục và kế thừa, rèn luyện kĩnăng thực hành là chính, để từ đó hình thành cho học sinh những biện pháp rèn

kĩ năng giải toán được hoàn thiện và thành thạo hơn trong học tập

Từ cơ sở sơ đẳng ban đầu sẽ giúp các em học tốt hơn đối với môn toán.Kết quả cao hơn (giáo viên theo dõi , điều tra, kiểm tra nhiều lần trong quá trìnhrèn luyện, kiểm tra tự phát hiện, tránh sai sót), dẫn đến kết quả cao trong học tập,tạo niềm tin, hưng phấn và ý thức tự giác, học sinh tự đánh giá quá trình học tậpcủa học sinh

IV/CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Trang 3

Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng việt, môn Toán có vịtrí rất quan trọng, là nền móng ban đầu của các cấp học sau này Chương trìnhTiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến thức môn Toánnói chung và kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức nói riêng Đó là vìnhững lý do sau:

Chương trình toán 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1,2 và 3,4 Họcsinh được củng cố mở rộng phép cộng, trừ và làm phép nhân chia Đồng thời rènluyện kĩ năng tính toán cho học sinh về 4 phép tính: cộng, trừ, nhân, chia trongphạm vi 1 000 (trong học kì I), trong phạm vi 10 000, 100 000 (trong học kì II)của lớp 3 và các dạng giải toán điển hình Vì vậy đối với việc giải toán trongtừng tiết học, để học sinh yếu kém giải toán tính giá trị của biểu thức đúng, quả

là khó khăn, cả về trả lời lẫn tính toán Kinh nghiệm một số năm học qua, khigiáo viên cùng học sinh dạy và học những tiết học tính giá trị biểu thức vừa xongthì vẫn còn một số học sinh yếu chưa có kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểuthức

Toán học với tư cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giớithực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cầnthiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động Đó cũng là những công cụ rất cần thiết đểhọc các môn học khác, để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và hoạt động

có hiệu quả trong thực tiễn

Nhưng trên thực tế đối với học sinh đại trà (kể cả học sinh yếu, kém) khigiải dạng toán tính giá trị biểu thức, các em rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khảnăng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế”

Bằng phương pháp điều tra, tiếp xúc với học sinh lớp 3, cũng như quathực tế giảng dạy tôi nhận thấy:

Với thực tế học sinh lớp của tôi, còn một số em giải toán dạng tính giá trịbiểu thức thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhầm lẫn về thứ tự, phéptính, nhiều khi làm bài chưa có kĩ năng phán đoán, suy luận, không biết làm thếnào? Các em rất sợ học môn toán là môn “thể thao trí tuệ”, vừa giúp các em giảitrí tinh thần, vừa giúp việc dạy học tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viênphải suy nghĩ, nghiên cứu, quan tâm Trong đó “cách giải toán dạng tính giá trịbiểu thức” là chú trọng trong chương trình toán 3 Vậy trong quá trình dạy họctôi đã thực hiện một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải dạng toán này

V/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

A/ Điều tra phân loại:

1 Điều tra phân loại học sinh yếu kém toán ở lớp:

-Những em yếu, kém về môn toán Dĩ nhiên giải toán dạng tính giá trị biểuthức, các em không thực hành được Ngay từ đầu năm học, tôi đã phân loại đốitượng học sinh để có kế hoạch kèm cặp cùng nhóm học tập và Hội đồng tự quản

Trang 4

mà học sinh đã tự bầu chọn ngay từ đầu năm học, để hướng dẫn phương phápgiải toán kịp thời cho từng em, từng bạn

-Lớp 3/a năm học 2012-2013 các em:“ Lý Phong, D L Huyền Vi , Tr Th.Trâm, D T Ánh Tuyết, P Thanh Khương , Nguyễn T Sang, N T Hồng Oanh,Trần Oai Sơn, Ng Tấn Tài, Hồ Trịnh Xuân Công …”, là những học sinh giảitoán còn yếu Các em không biết giải, hay là giải sai, tính giá trị biểu thức sai,không nắm vững phương pháp làm bài… Tôi luôn luôn quan tâm động viên các

em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suynghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng

Trong khi chấm bài, chữa bài của học sinh khi cần cứu trợ, tôi ghi nhật kílại từng chi tiết lỗi sai của các em Tổng hợp tất cả những lỗi sai sót thường gặp

mà học sinh thể hiện ở bài giải, để chữa sai cho cá nhân, nhóm, cả lớp trong giờlên lớp, giờ phụ đạo, giờ học 2b/ ngày…, và cho học sinh tự chấm chữa theo đôibạn học tốt (học nhóm) dưới sự hướng dẫn của thầy giáo.Vì phần bài học “Tínhgiá trị của biểu thức có 4 quy tắc, khi truyền thụ kiến thức cho học sinh các emtiếp thu được bài học Song các em chưa có sự sáng tạo, tư duy tốt nên đôi lúcgiải bài tập vẫn còn sai nhiều Bởi vì, chỉ có 4 quy tắc trên, mà thực ra là 48 biểuthức (dạng 2 phép tính) Vậy tôi phải phân ra từng nhóm biểu thức cụ thể, đểtruyền thụ kiến thức thực tế, có tính khoa học, lô- gic Nhằm đáp ứng với nhucầu của lứa tuổi học sinh lớp 3 và phù hợp tâm lý đồng đều với các đối tượnghọc sinh Từ đó các em dễ nhớ, khắc sâu được kiến thức và nắm được cách làmbài.Vậy giáo viên phải rèn luyện kỹ năng, kiến thức từ đơn giản đến phức tạp

2 Về phép cộng trừ:

Muốn thực hiện tính giá trị biểu thức đúng Giáo viên phải kiểm tra, rènluyện kĩ năng cộng, trừ các số trong phạm vi 1 000 nhân chia các số có 2, 3 chữsố… với số có 1 chữ số

Ngoài việc nhận biết ý nghĩa của phép cộng trừ 2 số, học sinh còn phải có

kĩ năng cộng trừ nhẩm trong các trường hợp đơn giản như: cộng trừ với sốkhông, cộng trừ 2 số có 1 chữ số, 2 số tròn chục, 2 số tròn trăm, cộng trừ số có 2chữ số với số có 1 chữ số có nhớ 1,2 lần

3 Về phép nhân chia:

Đây là phép tính mới học ở lớp 3 Học sinh phải hiểu được ý nghĩa củaphép tính:

Trang 5

Phép nhân thay cho phép cộng các số bằng nhau hoặc biết được, viết đượctích thành tổng, phép chia là phép tính ngược lại của phép nhân Nắm được têngọi thành phần các số trong phép nhân (thừa số, tích) phép chia (số bị chia, sốchia, thương, số dư), các dấu của phép tính “x, : ”, đọc và viết đúng các phépnhân, chia.

Ở lớp 2 các em đã học bảng nhân, chia từ 2- 5 lên lớp 3 các em học bảngnhân, chía từ 6-9 Học sinh phải thuộc các bảng nhân, bảng chia.Giáo viênthường xuyên kiểm tra bảng nhân chia bằng nhiều cách, để học sinh vận dụngtính nhẩm, tính nhanh các phép nhân, chia trong bảng và nói ngay được:

-Nhân một số với một ; Chia một số cho một vẫn bằng chính số đó; Số 0nhân với số nào vẫn bằng 0; Số 0 chia cho số nào khác 0 cũng bằng 0

-Tính nhanh được các phép nhân chia 10, 100

-Biết đặt tính và làm đúng các phép nhân, chia số có 2,3 chữ số với số cómột chữ số trong phạm vi 1000

-Giải được các bài tập tìm X trong phạm vi 100 rồi 1000

-Nắm và vận dụng được một số tính chất và qui tắc của phép nhân, chia đểthực hiện tính nhanh như:

.Biết “Tích không đổi khi ta đổi chỗ các thừa số với nhau”

.Biết, từ phép nhân : 13 x 3 = 39 Suy ra 39 : 3 = 13

.Biết, cách tính hợp lý kết quả “Nhân, chia” một tổng (hay hiệu) với một số

Nắm được cách tìm một thừa số chưa biết, tìm số bị chia, số chia chưa biết

và vận dụng vào các bài tập “Tìm X” trong phạm vi 1000 Các biện pháp đó giáoviên phải rèn luyện cho học sinh nắm vững các kiến thức yêu cầu trên Từ đó họcsinh phải nắm về: Muốn tính giá trị biểu thức, thì ta phải nhận biết Thế nào làbiểu thức số ? Đây là một vấn đề quan trọng, mà tôi muốn đề cập đến

-Biết so sánh các tổng, hiệu, tích, thương của hai số với nhau, có sử dụngcác dấu <, =, >, ghi kết quả so sánh

-Biết tìm giá trị đúng của biểu thức để nối đúng biểu thức với kết quả

B/ Rèn kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức.

1 Rèn kĩ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức đã học đến kiến thức mới 1.1: Dạng toán tính giá trị biểu thức:

Trong chương trình lớp 3 theo CT hiện hành cũng như CT dạy học VNEN

có 7 tiết học về tính giá trị biểu thức:

* Chương trình hiện hành:

Trang 6

1 tiết làm quen với biểu thức.

3 tiết tính giá trị biểu thức

2 tiết luyện tập

1 tiết luyện tập chung

* Chương trình VNEN là:

Bài: Làm quen với biểu thức Tính giá trị biểu thức (1 tiết Hoạt

động cơ bản + 1 tiết Hoạt động thực hành)

Bài: Tính giá trị biểu thức (tiếp theo), (1 tiết Hoạt động cơ bản + 1

tiết Hoạt động thực hành)

Bài: Tính giá trị biểu thức (tiếp theo), (1 tiết Hoạt động cơ bản + 1

tiết Hoạt động thực hành)

Bài: Luyện tập chung (1 tiết Hoạt động thực hành)

Riêng 3 tiết tính giá trị của biểu thức có 4 qui tắc tính giá trị biểu thức:

(Chương trình hiện hành cũng giống như chương trình VNEN)

Biểu thức chỉ có phép tính cộng, trừ : ( + ; - )

Biểu thức chỉ có phép tính nhân, chia: ( x ; : )

Biểu thức có các phép tính cộng, trừ, nhân, chia: ( + ; - ; x ; : )

Biểu thức có dấu ngoặc đơn : ( ….) Đây là dạng toán có tính khái quát, tổng hợp Đối với học sinh học yếu,trung bình và một số em khá giỏi vẫn chưa thông thạo phương pháp giải bài tậpnày Tôi dựa vào cơ sở rèn luyện kĩ năng cộng, trừ, nhân, chia và cho học sinhhọc thuộc bảng nhân, chia Tôi đã ôn luyện các em giải dạng toán này trongnhững buổi học phụ đạo, bồi dưỡng, tiết học phụ đạo bồi dưỡng cụ thể hoá từngcách của từng nhóm tính giá trị biểu thức trong phạm vi 100, 1000 Vận dụngcác biện pháp học sinh thực hành, luyện tập từng bước, nắm bắt và hiểu cụ thể:

1.1.a Bài 43 (VNEN) Tính giá trị biểu thức:

1.1.a.1: Trong biểu thức có phép tính cộng, trừ:

* Thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải có 4 dạng biểu thức:

(+, -), (- , +), (+ , +), (- , -)

Một số em học yếu, không có trí tưởng tượng, tư duy, sáng tạo thì các emchậm hiểu Cứ nghĩ rằng biểu thức có phép tính cộng, trừ mới thực hiện từ tráisang phải được Còn biểu thức có phép tính: (- , +), ( + , +), (- , -), thì các emlúng túng không biết cách tính Từ đó, tôi phân nhóm của từng cách tính giá trịcủa biểu thức cụ thể hơn, để hướng dẫn các em thực hiện dễ dàng:

Trang 7

Vậy tôi cho học sinh thực hiện 4 cách (có 2 dấu phép tính/1 cách) tính giátrị biểu thức của (+, -), rèn luyện theo nhóm học tập, bảng con, kể cả học tập ởbảng nhóm Khi các bạn trong nhóm hổ trợ, giúp đỡ mà các em không thựchành được, các em mạnh dạn giơ bảng cứu trợ để thầy giáo hướng dẫn các emchia sẻ sự hiểu biết và khắc sâu được kiến thức Đây là một biện pháp đơn giảnnhưng phải có tính kiên trì, nhẫn nại thì đối với lứa tuổi học sinh lớp 3 mới thựchiện được cách giải thành thạo Giáo viên hướng dẫn với học sinh rằng: Khôngchỉ có biểu thức (+ , -) mà cả (- , +), (+ , +), (- , -) Đều là 1 nhóm của qui tắc ,biểu thức (+ , -) trên Từ đó học sinh hiểu sâu về kiến thức và rèn luyện được kĩnăng giải toán dạng này và kể cả kĩ năng sống mà học sinh học được ở nhóm

1.1.a.2 : Trong biểu thức có phép tính nhân, chia:

* Thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải có 4 biểu thức:

1.1.b.1: Trong biểu thức có phép tính cộng, trừ, nhân, chia

*Thực hiện nhân, chia trước cộng, trừ sau có 8 biểu thức:

(x , +), (+ , x), (: , +), (+ , :)

(x , - ), (- , x), (: , -), (- , :)

*Tám cách tính (biểu thức) trên cùng một quy tắc.

Ngoài ra, nếu chúng ta không hướng dẫn cụ thể cho các em Nhiều em sẽghi kết quả thực hiện sai, kết quả đúng nhưng cách thực hiện sai hoặc khôngđúng kết quả

Ví dụ: 60 + 35 : 5 = 60 + 7

= 67 (Thực hiện tính giá trị biểu thức đúng)

60 + 35 : 5 = 7 + 60 = 67 (kết quả đúng nhưng bước thực hiện sai)

Nếu các em có thói quen thực hiện sai lệch này, về mặt toán học, lập luậngiải trình không đúng, lúng túng Vậy cần chú ý trường hợp này

- Nếu biểu thức có nhân hoặc chia thì phải thực hiện nhân hoặc chia trước

Trang 8

rồi phải viết đúng kết quả vừa tính và dấu phép tính còn lại (chưa thực hiện) sangbên phải dấu (=) đúng vị trí.

- Còn phép tính (cộng hoặc trừ) chưa thực hiện thì phải viết lại đúng vị trínhư ở đề bài thì kết quả mới đúng Đồng thời cũng hướng dẫn, rèn luyện cáchthực hành ở lớp bằng nhiều hình thức học tập như chương trình Dự án củaVNEN Bằng phương pháp dạy học thế nầy đã thực thi, các đối tượng học tậpcủa lớp đã thành thạo kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức

1.1.c: Bài 45 (VNEN)

Tính giá trị biểu thức (tiếp theo)

1.1.c.1: Trong biểu thức có dấu ngoặc đơn ( )

*Thực hiện phép tính trong ngoặc đơn trước

*Tôi phân tích thành 4 nhóm, có 32 cách tính giá trị biểu thức trong dấu ngoặcđơn trên cùng một qui tắc:

lý lứa tuổi, thì e rằng các em không tiếp thu một cách lôgic theo thứ tự Vậyngười thầy giáo phải truyền thụ kiến thức theo các phương pháp, từ cụ thể đếnphức tạp, từ dễ đến khó thì kết quả mới đem lại đạt hiệu quả cao trong dạy vàhọc

Tương tự như tôi đã trình bày ở trên

Trang 9

Hoặc (62 + 16) x 3 = 3 x 78 (3)

= 234 (kết quả đúng, bước thực hiện sai)

*Ngoài ra biểu thức 1, 3 sai bước thực hiện đồng thời biểu thức 3 còn sai rằng

3 x 78 (học sinh chưa học nhân 1 số với số có 2 chữ số GV hoán đổi thừa số)

Ví dụ: bài toán 5/83/SGK ( CT Hiện hành):

Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái Sau đó xếp các hộp vàothùng, mỗi thùng 5 hộp Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?

*Sách tham khảo:

Cách 1: Tính số hộp: 800:4 = 200 (hộp)

Sau đó tính số thùng bánh: 200 : 5 = 40 (thùng)

*Cách này hướng dần cho học sinh giải đúng

Cách 2: Tính số bánh được xếp trong mỗi thùng: 4 x 5 = 20 (bánh)

Trường hợp trên đã nhiều năm tôi đã giảng dạy tổ 3, đã tham gia tổ chức hộithảo trong nội bộ tổ để giảng dạy đảm bảo với chuẩn kiến thức đồng thời phùhợp với năng lực học sinh Mặc dù ngành cấp trên đã nhiều lần điều chỉnh chuẩnkiến thức, nhưng chưa phát hiện ra để chỉnh sửa cho phù hợp với năng lực họcsinh

Trang 10

Năm học 2012-2013 dạy học chương trình theo mô hình trường học mới

Việt Nam Bộ Giáo Dục đã điều chỉnh ở TL HDH Toán 3 Tập 1B bài 46 Luyện tập chung ở phần Hoạt động ứng dụng trang 75 đã điều chỉnh như sau:

*Người ta xếp 80 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái Sau đó xếpcác hộp vào thùng, mỗi thùng 5 hộp Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?

Như thế là đúng và phù hợp Tôi muốn nêu vấn đề nầy ra, để nhữngtrường,lớp chưa dạy học CT VNEN phải chỉnh sửa lại cho đúng và phù hợp vớinăng lực học sinh.Vì đây là một kinh nghiệm nghiên cứu tâm huyết dạy họcđúng chuẩn kiến thức, mà tôi đã thực hiện những năm qua Nếu là thầy cô giáodạy học bậc Tiểu học nên chịu khó nghiên cứu nội dung phù hợp, chứ không nênđược chăng hay chứ, mà nhồi nhét, áp đặt kiến thức quá vượt, với khả năng vàocho học sinh

C/ Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang giải các dạng toán điển hình của lớp 3.

Bài 43 (VNEN)

Đây là một trong những vấn đề khó khăn cho giáo viên dạy khối lớp 3trong nhiều năm qua của chúng ta Nên bản thân tôi tìm tòi, mày mò, nghiên cứutừng biện pháp dạy - học theo yêu cầu nội dung kiến thức chương trình bài học Giải toán tổng hợp bằng hai phép tính (x, +) sang tính giá trị biểu thức là (x, +).Chúng ta liên hệ kiến thức cũ đã học, phát huy tính tích cực trong học sinh, tìmtòi khả năng học tập có tính tư duy logic của học sinh Vì bài toán hợp trong tiết

này là tiết sau học sinh mới được học: “Đó là (tiết 79 CT hiện hành) Còn

chương trình VNEN thì bài 44 (VNEN), các em cũng mới được học ” Vậy, theotôi nghiên cứu chương trình hiện hành cũng như CT VNEN vẫn còn bất hợp lý

Vì học sinh chưa được thầy giáo hướng dẫn và tiếp thu kiến thức, mà theochương trình bài học, lại học thực hành giải dạng toán này trước Baì giải 2 cáchnhư sau :

Ví dụ: SGK/79-Tiết 78 (Hiện hành) + TLHD Học Toán 3 Tập 1B/67- Bài 43

(VNEN)

Mỗi gói mì cân nặng 80g, mỗi hộp sữa cân nặng 455g Hỏi 2 gói mì và một hộpsữa cân nặng bao nhiêu gam?

GiảiCách 1: 2 gói mì cân nặng là

80 x 2 = 160 (gam)

Cả hai gói mì và một hộp sữa cân nặng là:

160 + 455 = 615 (gam)

ĐS: 615 gamNhưng học sinh có thể giải cách 2: (Trường hợp giải vận dụng Tính giá trị biểuthức, học sinh hoàn toàn chưa giải được).vậy cốt lõi là làm thế nào mà giáo viên

Trang 11

truyền thụ, nâng cao chất lượng cho các em thực hành được, nghĩa là học đi đôivới hành Đây cũng là một yêu cầu rất cần thiết Như ví dụ sau:

Hai gói mì và một hộp sữa cân nặng là:

80 x 2 + 455 = 615 (gam)

ĐS: 615 gamTiết sau (tiết 80)- Bài 45 (VNEN) học sinh tiếp thu và giải cách này, thì sẽ nhận

ra sự liên quan giữa kiến thức cũ và mới Nhưng giáo viên chúng ta hãy liên hệkiến thức cũ đã học như:

Nhân chia một tổng (hay hiệu) với một số

Ví dụ: SGK/80 (Hiện hành) + TLHD Học Toán 3 Tập 1B/73- Bài 45 (VNEN)

Mẹ hái được 60 quả táo, chị hái được 35 quả táo Số táo của cả mẹ và chịđược xếp vào 5 hộp Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?

-Đối với cách 1, giáo viên hướng dẫn vận dụng giải đúng với kiến thứcchuẩn đã học

-Song với cách 2 cần liên hệ đến (nhân, chia) một tổng hoặc một hiệu vớimột số Chứ không nên đưa ra tính giá trị biểu thức Tiết sau mới dạy – học Vìvậy giáo viên không nên nói “sai rồi, không đúng…”, làm mất đi hưng phấn,phấn khởi của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học Bước này là bước quantrọng, giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau làm bài toán để khẳngđịnh mình

VI/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể hoá các kiểu bài tính giá trị biểuthức nói chung và sách giáo khoa, sách tham khảo nói riêng, trọng tâm là tôiđang dạy hoc theo chương trình VNEN Nhiều năm qua tôi đã nghiên cứu lựachọn một số biện pháp để áp dụng thành công Vậy năm học này tôi đã lựa chọnbiện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức cho học sinhlớp 3/a năm học 2012 – 2013 và tiến hành thực nghiệm, nhằm kiểm tra đánh giátính khả thi và tính hiệu quả của đề tài Khi tiến hành thực nghiệm phải dựa vàocác nguyên tắc sau:

1 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm:

- Đảm bảo tính khách quan toàn diện

- Các bài thực nghiệm phải luyện tập từng kiểu bài (4 kiểu bài trên), sau đómới luyện tập thực nghiệm tổng hợp của 4 kiểu bài đó và vận dụng bài toán cólời văn để nâng cao kiến thức

- Thực nghiệm phải đảm bảo đúng đối tượng là học sinh lớp 3, để các emhọc tập dạng toán này dễ dàng cho các lớp sau

- Phải đảm bảo tính đồng đều, nghĩa là lớp thực nghiệm có tác dụng, lớphọc bình thường phải tương đương nhau về nền nếp, kết quả học tập…

2 Nội dung thực nghiệm:

Trang 12

- Trong quá trình phụ đạo bồi dưỡng tôi đã lên kế hoạch 4 bài dạy về kiếnthức này để rèn kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức cho học sinh lớp3/a, tôi tiến hành như sau:

Bài 1(Tiết 1+2): Làm quen với biểu thức Tính giá trị của biểu thức Có phéptính (+, -) hoặc (x, :)

 Cộng trừ đủ 4 biểu thức, nhân chia 4 biểu thức (đã nêu ở trên)

Bài 2(Tiết 3+4): Tính giá trị của biểu thức (tt) Có phép tính (+, -, x, : )

 Cộng, trừ, nhân, chia đủ 8 biểu thức (đã nêu ở trên)

Bài 3(Tiết 5 + 6): Tính giá trị của biểu thức (tt) có dấu ngoặc đơn

* (x, :) hoặc (+,-)

 Nhân, chia đủ 8 biểu thức.(đã nêu ở trên)

 Cộng, trừ đủ 8 biểu thức.(đã nêu ở trên)

* (x, + ) (x, -) hoặc (: +) (:, -)

 Nhân, chia, cộng, trừ đủ 16 biểu thức

 Tóm lai là 32 biểu thức trong dấu ngoặc đơn như đã nêu trên

3 Tổ chức thực nghiệm:

3.1 Thời gian thực nghiệm:

Đề tài này tôi tiến hành thực nghiệm vào tuần 17, 18 Sau khi học xong tiếthọc nào, thì buổi chiều, phụ đạo lại tiết học đó

Đối tượng thực nghiệm: 29 học sinh lớp 3A trường tiểu học Lý Tự Trọng –Hiệp Đức

Điểm bài kiểm tra

Trang 13

Nhận xét: Từ những kết quả trên cho thấy kết quả dạy thực nghiệm cao hơn.

Học sinh rèn được kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức thành thạo

Điều này chứng tỏ giáo viên phải phân tích 4 kiểu bài tính giá trị biểu thức,phải đầy đủ các biểu thức để cho học sinh nắm rõ và khắc sâu được kiến thức saunày

* Đối với giờ dạy lớp đối chứng:

- Học sinh vẫn còn thụ động và vẫn còn phụ thuộc vào Tài liệu sách giáokhoa, ít sáng tạo Tuy nhiên một số ít học sinh cũng nắm vững nội dung bài học,trình bày logic, chặc chẽ nhưng kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức chưathành thạo

- Giờ học có vẻ trầm lặng, ít hứng thú, các em tiếp thu kiến thức, nhưng hiệuquả chưa cao

* Đối với giờ dạy lớp thực nghiệm:

- Đa số học sinh đều hứng thú và say mê làm việc khi thực hành, vì giáo viên

đã cung cấp đầy đủ các biểu thức từng kiểu bài, loại bài Học sinh đã luyện tập,làm quen với mọi cách tính, từng kiểu bài rõ ràng, giúp các em có nhiều cơ hội

để tự mình khám phá tri thức mới, đồng thời rèn luyện được nhiều kĩ năng giảitoán theo dạng này…

- Học sinh dễ tiếp thu bài, hiểu rõ hơn

- Không khí học tập sôi nổi, hiệu quả cao hơn, học sinh có tinh thần học tậpsay mê và hào hứng, tăng cường được mức độ hoạt động và làm việc một cách tựgiác hơn trong giờ học, tiết học, trong nhóm sôi nổi hiệu quả Vì các em hiểuđược, biết được, thực hành bài tập, tự tin hơn Kết quả dạy lớp thực nghiệm theobiện pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hiện nay, đồngthời cũng cho thấy phương pháp sử dụng biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toándạng tính giá trị biểu thức của lớp 3A đã được xác lập và mang tính khả thi

VII/ KẾT LUẬN:

1 Kết luận chung:

Tôi đã áp dụng những biện pháp rèn cho học sinh giải những dạng toán tínhgiá trị của biểu thức ở lớp 3 Học sinh đã ghi nhớ qui tắc và tìm ra được cáchgiải, nâng dần hiệu quả tiết dạy môn toán theo nội dung của đề tài, trong quátrình giảng dạy, bản thân tôi đã tổ chức cho học sinh hoạt động dưới nhiều hìnhthức phong phú, thu hút các em hứng thú học tập, coi trọng sự cộng tác của phụhuynh trong việc nhắc nhở và quan tâm tạo điều kiện cho con em đi học chuyên

Trang 14

cần, có ý thức tự học, tự tìm tòi Trên cơ sở này, chắc chắn một điều, chất lượnghọc sinh không còn là nỗi lo Với biện pháp này học sinh sẽ đạt được hiệu quảcao trong học tập môn học toán nói chung, phần tính giá trị biểu thức nói riêng.Góp phần làm cho các em say mê học tập và càng yêu thích học môn toán.

2 Kết quả đạt được:

Qua quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã thu được kết quả như sau:

- Đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về các cách dạy của dạng tính giátrị biểu thức, phân loại rõ ràng từng kiểu bài, loại bài tính giá trị biểu thức, họcsinh nắm chắc chắn, nhạy bén, nhanh nhẹn, nhớ lâu, khắc sâu, xác định loại bàikhi làm bài

- Nắm được thực trạng giảng dạy, học tập, mức độ nhận thức, rèn kĩ nănggiải toán dạng tính giá trị biểu thức của học sinh lớp, khối 3 nói chung, và lớp3A nói riêng

- Học sinh xác định được các loại bài, kiểu bài theo những nguyên tắc, quitắc, qui trình giải dạng bài tập này

- Xác định được phương pháp giảng dạy chung va phương pháp giảng dạy

cụ thể trong biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức

- Đã vận dụng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trịbiểu thức theo hướng tích cực vào việc thiết kế hướng dẫn của bài giảng mộtcách có hiệu quả Kết quả thu được một cách khả quan, phương pháp có tác dụngtốt, giúp giáo viên có biện pháp tốt theo qui trình rèn luyện kĩ năng giải toán tínhgiá trị biểu thức một cách chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức và kĩ năng Từ

đó làm cho các em yêu thích giải toán nói chung và giải toán tính giá trị biểuthức nói riêng

3 Hạn chế của đề tài:

Bên cạnh những kết quả đạt được đề tài vẫn còn một vài hạn chế sau:

- Do thời gian và năng lực của bản thân có hạn nên đề tài mới đi sâu vào biệnpháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức cho học sinh lớp3A, chứ chưa mở rộng cho toàn khối, trường…

- Do điều kiện và thời gian có hạn của bài học tính giá trị biểu thức, kể cả làmquen với biểu thức chỉ có 7 tiết học, mà lượng kiến thức truyền đạt với lớp 3 làquá nhiều Vậy tôi đã vận dụng vào các tiết học buổi chiều để đạt được hiệu quảnhư mong muốn

4 Bài học kinh nghiệm:

- Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình, phải tìm hiểu để nắm bắt được hoàncảnh của từng học sinh Giáo viên xây dựng và tổ chức nền nếp dưới mọi hìnhthức học tập, động viên khen thưởng cá nhân, tổ nhóm học tập tốt một cách kịpthời, ra lệnh dứt khoát, chặt chẽ

Trang 15

- Tạo cho các em tâm thế học tập tốt, tránh đưa những hình phạt quá đánglàm cho các em sẽ chán nản, thiếu tự tin và mặc cảm với bạn bè Ví dụ như chépphạt….

- Thường xuyên thay đổi hình thức kiểm tra, tổ chức nhiều trò chơi mới lạ thuhút các em học tập

- Vận dụng vào thực tế những điều các em đã học để các em có thói quenthực hành, luyện tập tốt

- Sự thành công của tổng kết kinh nghiệm là phần lớn nhờ vào sự dạy họcthực tế, tâm huyết với nghề nghiệp, kiên trì, nhẫn nại, nghiên cứu từng bài dạytrước khi lên lớp Ngoài ra không thiếu sự chỉ dẫn tận tình của lãnh đạo vàchuyên môn nhà trừờng sự quan tâm giúp đỡ của đồng nghiệp, của phụ huynhhọc sinh và không thể không nói đến sự phấn đấu nổ lực của thầy trò chúng tôitrong suốt quá trình dạy học

- Tất nhiên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mongHội đồng khoa học các cấp góp ý, xây dựng để sáng kiến kinh nghiệm của tôi cótính thuyết phục và có tác dụng hữu hiệu hơn

VIII/ ĐỀ NGHỊ:

Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức cho học sinhlớp 3 qua thực nghiệm đã thu được những kết quả khả quan Nhằm nâng cao vềchất lượng học tập cũng như kích thích hứng thú học tập của học sinh Tôi xin đềxuất kiến nghị sau:

1 Đối với giáo viên:

- Giáo viên không ngừng học hỏi nâng cao hiểu biết về chuyên môn, nắmvững về đặc trưng bộ môn toán Tiểu học nói chung, toán lớp 3 nói riêng, cậpnhất thông tin kịp thời theo chỉnh sửa về dạy học của ngành cấp trên

- Tăng cường thời gian nghiên cứu, thường xuyên vận dụng các biện pháprèn kĩ năng học tập, giải toán theo hướng tích cực

- Trong từng tiết học giáo viên cần cho học sinh làm việc cá nhân và nhómnhiều hơn để khai thác kiến thức toán học theo hướng phát huy tính tích cực củahọc sinh.Phát huy tốt theo hướng tích cực của chương trình VNEN

2 Đối với học sinh:

- Học sinh cần chuẩn bị kĩ bài cũ ở nhà và chuẩn bị trước bài mới theo lờigiáo viên dặn dò, để học sinh xác định trước yêu cầu nội dung bài học Đồng thờixác lập được mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành

- Thường xuyên ôn tập, củng cố kiến thức cũ để khai thác kiến thức mới dễdàng hơn

- Học sinh luôn tiếp thu và sáng tạo những kĩ năng giải toán từ dễ đến khóhơn, nâng cao dần

Trang 16

- Học sinh hình thành bản thân tính độc lập, tự giác, tính tích cực trong họctập, tránh ỷ lại và làm việc theo kiểu “chủ quan”, đối phó hoặc lơ là….Trong đókhông loại trừ đôi bạn học tốt, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

3 Đối với nhà trường:

- Nhà trường phải đi vào thực tế, tổ chức chuyên đề của những sáng kiếnkinh nghiệm về môn toán cấp tiểu học được đạt giải từ cấp trường trở lên để giáoviên làm tư liệu nghiên cứu, áp dụng trong giảng dạy học sinh tiểu học về môntoán Đồng thời giáo viên tiếp thu những kinh nghiệm quí báu đó để áp dụng vàolớp học mình đang giảng dạy.Tôi tin rằng học sinh ngày càng nâng cao chấtlượng học tập và đạt được những hiệu quả mà chúng ta hằng mong đợi

Trang 17

IX/ TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Hai đề bài kiểm tra lần 1 và lần 2

- Bảng phân loại 4 kiểu bài tính giá trị biểu thức

- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu kì III 2007)

(2003 Tác giả Nguyễn Trường Khôi với bài “Dẫn dắt hoạt động của lớp học khidạy các bài lập bảng nhân” Tạp chí thế giới trong ta – tháng 2/ 2004

- Tài liệu hướng dẫn giảng dạy các môn học lớp 3 cho các vùng miền (BộGiáo dục và Đào tạo)

- Tài liệu Giáo dục tiểu học tập 23/2006 “Những đổi mới ở giáo dục tiểuhọc” của Vụ Giáo Dục Tiểu học

- Một số vấn đề dạy học môn toán lớp 4 ( chương trình tiểu học mới) của

Đỗ Đình Hoan – Nguyến Áng Giáo dục tiểu học tập 15/2005

- Tài liệu dạy và học ngày nay: một số ý kiến về “cách dạy Toán 5 Để họcsinh cả lớp đều được làm việc” của Nguyễn Thiện

- Tài liệu hướng dẫn học môn Toán 3 Tập 1A- 1B (Sách thử nghiệm) Theo

CT VNEN (Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Trang 19

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Năm học 2012 – 2013

I.Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường Tiểu học Lý Tự trọng.

1.Tên đề tài: Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị của biểu thức cho học sinh lớp 3A năm học 2012 – 2013

2.Họ và tên tác giả: Trần Tăng

3.Chức vụ: Giáo viên

4.Nhận xét của chủ tịch HĐKH:

a/ Ưu điểm : ……

b/ Hạn chế : ……

5.Đánh giá, xếp loại: Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH trường Tiểu học Lý Tự Trọng thống nhất xếp loại:………

Những người thẩm định Chủ tịch HĐKH

(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) II.Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD& ĐT Hiệp Đức Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT Hiệp Đức thống nhất xếp loại:………

Những người thẩm định Chủ tịch HĐKH

(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

Trang 20

I/ TÊN ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN DẠNG TÍNH GIÁ TRỊ CỦA BIÊU THỨC CHO HỌC SINH LỚP 3/A – NĂM HỌC : 2012- 2013 II/ ĐẶT VẤN ĐỀ :

1.Tầm quan trọng của đề tài:

Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ IX của Đảng đã chỉ rõ “ Phát triển giáodục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp hoá, hiện đạihoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Mục tiêu của giáo dục hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.Môi trường giáo dục của trường Tiểu học là cái nôi cung cấp cho học sinh nhữngtri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triểnnhân cách

Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triểnnhững cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Trong các mônhọc ở tiểu học, môn Toán có vị trí rất quan trọng

Trong chương trình dạy – học toán ở Tiểu học, chương trình toán lớp 3đóng một vai trò trọng yếu Lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học,phải chuẩn bị đầy đủ kiến thức cho cơ sở ban đầu, để học sinh học tốt giai đoạncuối của bậc Tiểu học và tiếp các cấp học sau nầy

Một yếu tố quan trọng trong môn toán là liên quan mật thiết đến phép x, : ,

+, - , tìm x rồi đến những bài toán hợp liên quan Điều 5 luật giáo dục đã chỉ ra

phương hướng “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tư duy, sáng tạo cho người học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên” Tại Điều 28 của luật giáo dục cũng đã qui định “ Phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác sáng tạocủa học sinh phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh”

Vậy người thầy giáo rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học theo chươngtrình dạy- học Trường học kiểu mới Việt Nam (VNEN)

Trong nghị quyết Đại hội Đảng lần IX cũng đã nêu ra “ Tăng cường đôi mớiphương pháp giảng dạy, phát huy sáng tạo của người học, coi trọng thực hành,ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt học chay”

Để thực hiện những quan điểm đổi mới nói trên thì trong dạy học nóichung, dạy học môn toán nói riêng, “Rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trịcủa biểu thức cho học sinh lớp 3/a năm học 2012-2013” Đối với bản thân tôi

Trang 21

thấy rất cần thiết trong việc dạy học môn Toán lớp 3 ở dạng này Vì bản thân tôi

đã thành công trong nhiều năm học qua Song năm học 2012-2013 theo chươngtrình dạy học VNEN Trong một tiết học Toán chẳng hạn, học sinh chưa thựchiện hết các hoạt động thì được phép thực vào tiết buổi chiều Đây là một quytrình dạy học phù hợp với đề tài, mà tôi đã và đang nghiên cứu

2.Lý do chọn đề tài:

Trong nhiều năm dạy học, cấp Tiểu học Riêng đối với lớp 3, bản thân tôiđược liên tục giảng dạy lớp 3 ở những năm gần đây, ở nhiều trường, nhiều lớp,nhiều đối tượng học sinh Trên thực tế của từng lớp, từng trường nói riêng đều cómột số em giỏi toán và một số em yếu toán, năng lực học tập của học sinh chưađồng đều Những em giỏi thì say mê học tập Những em yếu thì lười học, sợ học

và chán học Để đảm bảo chất lượng học tập của các em trong một lớp, một khốilớp…,phải đồng đều như nhau Để phát huy trí tưởng tượng, rèn luyện học sinh

tư duy, trừu tượng Để nâng dần kiến thức học sinh yếu, kém tiến kịp học sinhkhá, giỏi về thực hiện giải các bài toán dạng tính giá trị biểu thức Nên tôi đã

chọn đề tài “ Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp 3/a-Năm học: 2012- 2013 ”.

3.Mục đích nghiên cứu:

Mục đích giúp các em học môn toán lớp 3, giải toán về dạng tính giá trịbiểu thức thành thạo và học tập tốt hơn Góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáodục, phát triển tư duy, sáng tạo tìm tòi học tập để giờ học có sức hấp dẫn, kíchthích hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nắm vững bài học và thêm yêumôn học toán Đồng thời là một nghiên cứu miệt mài sáng tạo của một giáo viênTiểu học, cùng với ngành Giáo dục góp phần dạy học tích cực để rèn luyện chohọc sinh những kĩ năng trong học tập có hiệu quả, như chương trình VNEN, hiệnnay trên toàn quốc đang bắt đầu thực hiện năm học 2012-2013

4.Giới hạn của đề tài:

Việc giáo dục học sinh chăm chỉ học tập, tập trung học tập và rèn luyện kĩnăng giải dạng toán tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp 3 Tôi đã nghiên cứumột số biện pháp để rèn luyện kĩ năng, nhằm nâng cao chất lượng đồng đều ởmôn học toán cho học sinh, thông qua các tiết học chính khoá và các tiết học phụđạo bồi dưỡng buổi chiều như CT VNEN đã triển khai

5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Chương trình dạy-học toán lớp 3 Học sinh chưa thực hiện thành thạo giảitoán dạng tính giá trị biểu thức Từ đó tôi đã tìm ra biện pháp rèn kĩ năng giảitoán dưới dạng tính giá trị biểu thức cho học sinh của lớp

- Giáo viên và học sinh lớp 3/a trường tiểu học Lý Tự Trọng Hiệp ĐứcQuảng Nam

III/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Trang 22

Bản thân tôi rèn luyện kĩ năng giải toán dưới dạng tính giá trị của biểuthức Nhằm bồi dưỡng sự tự tin, tính liên tục và kế thừa, rèn luyện kĩ năng thựchành, để từ đó hình thành cho học sinh những biện pháp rèn kĩ năng giải toánđược hoàn thiện và thành thạo hơn trong học tập.

Từ cơ sở sơ đẳng ban đầu sẽ giúp các em học tốt hơn đối với môn toán.Kết quả cao hơn (giáo viên theo dõi , điều tra, kiểm tra nhiều lần trong quá trìnhrèn luyện, kiểm tra tự phát hiện, tránh sai sót), dẫn đến kết quả cao trong học tập,tạo niềm tin, hưng phấn và ý thức tự giác, học sinh tự đánh giá quá trình học tậpcủa học sinh

IV/CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Lớp 3/a: Tổng số: 29/14 nữ

Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng việt, môn Toán có vịtrí rất quan trọng, là nền móng ban đầu của các cấp học sau nầy Chương trìnhTiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến thức môn toánnói chung và kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểu thức nói riêng Đó là vìnhững lý do sau:

Chương trình toán 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1,2 và 3,4 Họcsinh được củng cố mở rộng phép cộng, trừ và làm phép nhân chia Đồng thời rènluyện kĩ năng tính toán cho học sinh về 4 phép tính: cộng, trừ, nhân, chia trongphạm vi 1 000 (trong học kì I), trong phạm vi 10 000, 100 000 (trong học kì II)của lớp 3 và các dạng giải toán điển hình Vì vậy đối với việc giải toán trongtừng tiết học, để học sinh yếu kém giải toán tính giá trị của biểu thức đúng, quả

là khó khăn, cả về trả lời lẫn tính toán Kinh nghiệm một số năm học qua, khigiáo viên cùng học sinh dạy và học những tiết học tính giá trị biểu thức vừa xongthì vẫn còn một số học sinh yếu chưa có kĩ năng giải toán dạng tính giá trị biểuthức

Toán học với tư cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giớithực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cầnthiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động đó cũng là những công cụ rất cần thiết đểhọc các môn học khác, để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và để hoạtđộng có hiệu quả trong thực tiễn

Nhưng trên thực tế đối với học sinh đại trà (kể cả học sinh yếu, kém) khigiải dạng toán tính giá trị biểu thức, các em rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khảnăng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế”

Bằng phương pháp điều tra, tiếp xúc với học sinh lớp 3, cũng như quathực tế giảng dạy tôi nhận thấy:

Với thực tế học sinh lớp của tôi, còn một số em giải toán dạng tính giá trịbiểu thức thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhầm lẫn về thứ tự, phéptính, nhiều khi làm bài chưa có kĩ năng phán đoán, suy luận, không biết làm thếnào? Các em rất sợ học môn toán là môn “thể thao trí tuệ”, vừa giúp các em giải

Trang 23

trí tinh thần, vừa giúp việc dạy học tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viênphải suy nghĩ, nghiên cứu, quan tâm Trong đó “cách giải toán dạng tính giá trịbiểu thức” là chú trọng trong chương trình toán 3 Vậy trong quá trình dạy họctôi đã thực hiện một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải dạng toán nầy.

V/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

A/ Điều tra phân loại:

1 Điều tra phân loại học sinh yếu kém toán ở lớp:

-Những em yếu kém về môn toán Dĩ nhiên giải toán dạng tính giá trị biểuthức, các em không thực hành được với những học sinh còn yếu, kém Ngay từđầu năm học, tôi đã phân loại đối tượng học sinh để có kế hoạch kèm cặp cùngnhóm học tập và Hội đồng tự quản mà học sinh đã tự bầu chọn ngay từ đầu năm,hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em, từng bạn

-Lớp 3/a năm học 2012-2013 các em:“ Lý Phong, D L Huyền Vi , Tr Th.Trâm, D T Ánh Tuyết, P Thanh Khương , Nguyễn T Sang, N T Hồng Oanh,Trần Oai Sơn, Ng Tấn Tài, Hồ Trịnh Xuân Công …”, là những em giải toán cònyếu Các em không biết giải, hay là giải sai, tính giá trị biểu thức sai, không nắmvững phương pháp làm bài… Tôi luôn luôn quan tâm động viên các em chămhọc, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phánđoán tìm cách giải đúng

Trong khi chấm bài, chữa bài của học sinh khi cần cứu trợ, tôi ghi nhật kílại từng chi tiết lỗi sai của các em Tổng hợp tất cả những lỗi sai sót thường gặp

mà học sinh thể hiện ở bài giải, để chữa sai cho cả lớp trong giờ lên lớp, giờ phụđạo, giờ học 2b/ ngày…, và cho học sinh tự chấm chữa theo đôi bạn học tốt (họcnhóm) dưới sự hướng dẫn của thầy giáo.Vì phần bài học “Tính giá trị của biểuthức có 4 quy tắc, khi truyền thụ kiến thức cho học sinh các em tiếp thu được bàihọc Song các em chưa có sự sáng tạo tư duy tốt nên đôi lúc giải bài tập vẫn cònsai nhiều Bởi vì, chỉ có 4 quy tắc trên, mà thực ra là 48 biểu thức (dạng 2 phéptính) Vậy tôi phải phân ra từng nhóm biểu thức cụ thể, để truyền thụ kiến thứcthực tế, có tính khoa học, lô- gic Nhằm đáp ứng với nhu cầu của lứa tuổi họcsinh lớp 3 và phù hợp tâm lý đồng đều với các đối tượng học sinh Từ đó các em

dễ nhớ, khắc sâu được kiến thức và nắm được cách làm bài

2 Về phép cộng trừ:

Muốn thực hiện tính giá trị biểu thức đúng Giáo viên phải kiểm tra, rènluyện kĩ năng cộng, trừ các số trong phạm vi 1 000 nhân chia các số có 2, 3 chữsố… với số có 1 chữ số

Ngoài việc nhận biết ý nghĩa của phép cộng trừ 2 số, học sinh còn phải có

kĩ năng cộng trừ nhẩm trong các trường hợp đơn giản như: cộng trừ với sốkhông, cộng trừ 2 số có 1 chữ số, 2 số tròn chục, 2 số tròn trăm, cộng trừ số có 2chữ số với số có 1 chữ số có nhớ 1,2 lần

Ví dụ: 64 + 7; 64 – 7; 76 + 35; …

Trang 24

Hoặc số tròn chục bé hơn 100

Ví dụ: 64 + 30; 64 – 30; 50 + 40; 90 - 60

Biết đặt tính đúng và biết thử lại kết quả tìm được một cách thành thạo.Vận dụng tính chất giao hoán của phép cộng, quan hệ ngược nhau giữaphép công, phép trừ để làm tính nhân

Ở lớp 2 các em đã học bảng nhân, chia từ 2- 5 lên lớp 3 các em học bảngnhân từ 6-9 và bảng chia từ 6-9 Học sinh phải thuộc các bảng nhân, bảng chia Giáo viên thường xuyên kiểm tra bảng nhân chia bằng nhiều cách, để học sinhvận dụng vào tính nhẩm, tính nhanh các phép nhân, chia trong bảng và nói ngayđược:

-Nhân một số với một vẫn bằng chính số đó; Chia một số cho một vẫnbằng chính số đó; Số 0 nhân với số nào vẫn bằng 0; Số 0 chia cho số nào khác 0cũng bằng 0

-Tính nhanh được các phép nhân chia 10, 100

-Biết đặt tính và làm đúng các phép nhân, chia số có 2,3 chữ số với số cómột chữ số trong phạm vi 1000

-Giải được các bài tập tìm X trong phạm vi 100 rồi 1000

-Nắm và vận dụng được một số tính chất và qui tắc của phép nhân, chia đểthực hiện tính nhanh như:

.Biết “Tích không đổi khi ta đổi chỗ các thừa số với nhau”

.Biết, từ phép nhân : 13 x 3 = 39 Suy ra 39 : 3 = 13

.Biết, cách tính hợp lý kết quả “Nhân, chia” một tổng (hay hiệu) với một số

Nắm được cách tìm một thừa số chưa biết, tìm số bị chia, số chia chưa biết

và vận dụng vào các bài tập “Tìm X” trong phạm vi 1000 Các biện pháp đó giáoviên phải rèn luyện cho học sinh nắm vững các kiến thức yêu cầu trên Từ đó họcsinh phải nắm về: Muốn tính giá trị biểu thức, thì ta phải nhận biết Thế nào làbiểu thức số ? Đây là một vấn đề quan trọng, mà tôi muốn đề cập đến

4 Về biểu thức số:

-Nhận biết được biểu thức số, đọc và viết được các biểu thức tổng, hiệu,tích, thương của hai số

Ngày đăng: 03/06/2020, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w