1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam

162 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.9Tính cấp thiết của đề tài Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm bậc nhất của mọi doanh nghiệp, bởi vìhiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng kết hợp các yếu tốđầu vào, cho phép tối thiểu hóa các chi phí trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu sinh lợi. Qua đó, hiệu quả kinh doanh sẽ phản ánh khả năng của nhà lãnh đạo trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, khả năng sử dụng các nguồn lực nhằm hoàn thành mục tiêu và đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh.Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt mang tính toàn cầu như hiện nay. Thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó các yếu tố liên quan đến nhà lãnh đạo được xem là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Nhà lãnh đạo là người không thể thiếu trong bất kì một doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp nhỏ, dù trong lĩnh vực sản xuất hay cung cấp dịch vụ,không những thế, nhà lãnh đạo còn ảnh hưởng đến sự thỏa mãn và thành tích của những người mà họ lãnh đạo (Bass, 1990) vànhà lãnh đạo xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Trong các yếu tố thuộc lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, kỹ năng lãnh đạo chính là khả năng thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động của nhà lãnh đạo, thể hiện sự thành thạo của người lãnh đạo khi vận dụng kiến thức có được vào trong thực tế thực hiện chức năng lãnh đạo nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.Nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp phải thực hiện nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau nên cần có nhiều kỹ năng khác nhau. Trong khi đó, ngành dệt may Việt Nam là một ngành đã và đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã và sẽ góp phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Bởi vì, trong các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, ngành dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao, ngành dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động, góp phần nâng cao mức sống và ổn định xã hội, ngoài ra, sự phát triển của ngành dệt may còn là tiền đề để phát triển các ngành công nghiệp khác. Chính vì vậy, nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và các doanh nghiệp luôn không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và quyết liệt mang tính toàn cầu như hiện nay. Cho đến thời điểm hiện tại, các chủ đề về kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong ngành dệt may tại Việt Nam nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả thì chưa có công trình nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may. Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam” để nghiên cứu. Theo đó, luận ánsẽ nghiên cứusự ảnh hưởng củakỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và nghiên cứunhững kỹ năng gì ảnh hưởng đến từng khía cạnh nào của hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung. Đồng thời, luận án cũng thực hiện đánh giá thực trạng về kỹ năng của nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, và trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển kỹ năng lãnh đạo, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. 1.10Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận ántừ lâu đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả trên khắp thế giới.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

1.2.1 Nghiên cứu liên quan đến kỹ năng lãnh đạo 2

1.2.2 Nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 8

1.2.3 Mối quan hệ giữa lãnh đạo và hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 12

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định khoảng trống nghiên cứu 14

1.4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16

1.4.1 Mục đích nghiên cứu 16

1.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 17

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 17

1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

1.7 Phương pháp nghiên cứu 18

1.8 Kết cấu của luận án 19

Tiểu kết chương 1 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 22

2.1 Cơ sở lý thuyết về kỹ năng lãnh đạo 22

2.1.1 Khái niệm về lãnh đạo và nhà lãnh đạo 22

2.1.2 Khái niệm kỹ năng lãnh đạo 28

2.1.3 Các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp 29

2.1.4 Các yếu tố cấu thành kỹ năng lãnh đạo 30

2.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 34

2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 34

2.2.2 Hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 37

2.2.3 Một số đặc trưng của hệ thống đo lường hiệu quả kinh doanh 41

Trang 5

nghiệp 42

2.3 Ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 42

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 47

2.4.1 Mô hình nghiên cứu tổng quát 47

2.4.2 Mô hình nghiên cứu chi tiết và các giả thuyết nghiên cứu 48

Tiểu kết chương 2 52

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54

3.1 Quy trình nghiên cứu 54

3.2 Giai đoạn 1- xây dựng và mã hóa thang đo 54

3.2.1 Thang đo kỹ năng lãnh đạo và mã hóa thang đo 55

3.2.2 Thang đo hiệu quả kinh doanh và mã hóa thang đo 59

3.3 Nghiên cứu định tính 64

3.3.1 Phỏng vấn 65

3.3.2 Đánh giá kết quả, điều chỉnh thang đo, thiết kế bảng câu hỏi chính thức 65

3.4 Nghiên cứu định lượng và viết báo cáo 68

3.4.1 Thực hiện khảo sát chính thức 69

3.4.2 Kiểm tra và hoàn thiện dữ liệu, kiểm định thang đo, kiểm định mô hình, giả thuyết nghiên cứu và viết báo cáo 70

Tiểu kết chương 3 75

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 76

4.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 76

4.1.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp và xuất khẩu 76

4.1.2 Thị trường chủ yếu 76

4.1.3 Phương thức sản xuất chủ yếu 77

4.1.4 Lao động trong ngành dệt may 78

4.1.5 Số lượng và quy mô doanh nghiệp trong ngành dệt may 79

4.1.6 Một số chỉ tiêu tài chính của một số doanh nghiệp dệt may tiêu biểu 79

4.2 Thống kê mô tả mẫu 79

4.3 Kết quả kiểm định thang đo 82

Trang 6

4.3.2 Kết quả kiểm định EFA 85

4.3.3 Kết quả kiểm định CFA 89

4.4 Kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 96

4.5 Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 98

4.5.1 Kiểm định mô hình SEM sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 98

4.5.2 Kiểm định ước lượng mô hình bằng Bootstrap 103

4.5.3 Kiểm định mở rộng mô hình nghiên cứu 104

4.5.4 Kiểm định phương sai đa biến 1 chiều 109

Tiểu kết chương 4 110

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ THẢO LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113

5.1 Thảo luận về các kết quả nghiên cứu chính của luận án 113

5.1.1 Thực trạng về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các kỹ năng của nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 113

5.1.2 Sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 118

5.2 Một số kiến nghị của tác giả liên quan đến đề tài nghiên cứu cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 120

5.2.1 Phát triển kỹ năng lãnh đạo thông qua các chương trình đào tạo 122

5.2.2 Phát triển kỹ năng lãnh đạo thông qua học tập từ kinh nghiệm thực tế 127

5.2.3 Phát triển kỹ năng lãnh đạo thông qua tự trau dồi từ bản thân nhà lãnh đạo 131

5.3 Một số đóng góp của đề tài 132

5.4Định hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả 134

Tiểu kết chương 5 135

KẾT LUẬN 136

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 151

Trang 7

Từ viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh

CFA Phân tích nhân tố khẳng định Confirmatory Factor Analysis

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

EFA Phân tích nhân tố khám phá Exploratory Factor Analysis

ROA Tỷ suất sinh lợi trên tài sản Return on Assets

ROE Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở

ROI Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư Return on InvestmentSEM Mô hình cấu trúc tuyến tính Structural Equation ModelingSMEs Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Small and Medium Enterprises

Trang 8

t

g

1 Bảng 3.1: Thang đo kỹ năng lãnh đạo và mã hóa thang đo 58

2 Bảng 3.2: Thang đo hiệu quả kinh doanh và mã hóa thang đo 64

3 Bảng 3.3: Thang đo hiệu quả kinh doanh điều chỉnh và mã hóa thang

đo

67

4 Bảng 4.1: Chỉ số sản xuất công nghiệp và xuất khẩu hàng dệt may

Việt Nam từ 2013 đến năm 2018

8 Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lần 1 Cronbach’s Alpha thang đo kỹ

11 Bảng 4.8: Ma trận Pattern thang đo kỹ năng lãnh đạo 85

12 Bảng 4.9: Ma trận Pattern thang đo hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp

86

14 Bảng 4.11: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu

thị trường đối với thang đo kỹ năng lãnh đạo

89

15 Bảng 4.12: Kết quả tính độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích

đối với thang đo kỹ năng lãnh đạo

91

16 Bảng 4.13: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu

thị trường đối với thang đo hiệu quả kinh doanh

92

17 Bảng 4.14: Kết quả tính độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích

đối với thang đo hiệu quả kinh doanh

Trang 9

21 Bảng 4.18: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu

thị trường đối với mô hình nghiên cứu chi tiết của luận án

99

22 Bảng 4.19: Kết quả phân tích mô hình SEM chi tiết sự ảnh hưởng của

kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt

may Việt Nam

100

24 Bảng 4.21: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu

thị trường đối với mô hình nghiên cứu tổng quát của luận án

103

25 Bảng 4.22: Các trọng số chưa chuẩn hóa phân tích Bootstrap 104

26 Bảng 4.23: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu

mở rộng với dữ liệu thị trường (lần 1)

105

27 Bảng 4.24: Kết quả phân tích SEM lần 1 mô hình nghiên cứu mở

rộng

105

28 Bảng 4.25: Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiê ncứu

mở rộng với dữ liệu thị trường (lần 2)

106

29 Bảng 4.26: Kết quả phân tích SEM lần 2 mô hình nghiên cứu mở

rộng

106

Trang 10

t

1 Hình 4.1: Mô hình phân tích CFA thang đo kỹ năng lãnh đạo 91

2 Hình 4.2: Mô hình phân tích CFA thang đo hiệu quả kinh doanh 93

3 Hình 4.3: Mô hình phân tích CFA tổng thể 2 thang đo 95

4 Hình 4.4: Phân tích SEM mô hình nghiên cứu chi tiết 100

5 Hình 4.5 Phân tích SEM mô hình nghiên cứu tổng quát 103

6 Hình 4.6: Phân tích SEM đối với mô hình nghiên cứu mở rộng lần 2 108

Trang 11

t

g Danh mục sơ đồ

1 Sơ đồ 1.1: Kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

của Việt Nam

7

2 Sơ đồ 2.1: Các yếu tố cấu thành kỹ năng lãnh đạo của Mumford và cộng

sự

32

3 Sơ đồ 2.2: Khung đo lường hiệu quả kinh doanh của Brown 39

4 Sơ đồ 2.3: Ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả lãnh đạo theo

Kehinde, J.S Jegede, C.A và Akinlabi, H.B

43

5 Sơ đồ 2.4: Ảnh hưởng của kỹ năng đến hiệu quả lãnh đạo của Md

Atiqur Rahman Sarker và cộng sự

44

6 Sơ đồ 2.5: Ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh tại

các DNNVV trên địa bàn Hà Nội của Đỗ Anh Đức

45

7 Sơ đồ 2.6: Ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh tại

các DNNVV khu vực Bắc Miền Trung của Lê Thị Phương Thảo

46

3 Biểu đồ 5.2: Ma trận GAP về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các

kỹ năng làm việc với con người

115

4 Biểu đồ 5.3: Ma trận GAP về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các

kỹ năng kinh doanh

116

5 Biểu đồ 5.4: Ma trận GAP về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các

kỹ năng chiến lược

117

Trang 12

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.9 Tính cấp thiết của đề tài

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm bậc nhấtcủa mọi doanh nghiệp, bởi vìhiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng kết hợp các yếutốđầu vào, cho phép tối thiểu hóa các chi phí trong hoạt động kinh doanh nhằm đạtđược mục tiêu sinh lợi Qua đó, hiệu quả kinh doanh sẽ phản ánh khả năng của nhàlãnh đạo trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, khả năng sửdụng các nguồn lực nhằm hoàn thành mục tiêu và đạt được hiệu quả cao nhất tronghoạt động kinh doanh.Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn không ngừng hoàn thiện vànâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắtmang tính toàn cầu như hiện nay

Thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp, trong đó các yếu tố liên quan đến nhà lãnh đạo được xem là yếu tố cóảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Nhà lãnh đạo làngười không thể thiếu trong bất kì một doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp lớn haydoanh nghiệp nhỏ, dù trong lĩnh vực sản xuất hay cung cấp dịch vụ,không những thế,nhà lãnh đạo còn ảnh hưởng đến sự thỏa mãn và thành tích của những người mà họlãnh đạo (Bass, 1990) vànhà lãnh đạo xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức củadoanh nghiệp

Trong các yếu tố thuộc lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo được xem là một trong nhữngyếu tố quan trọng nhất Bởi vì, kỹ năng lãnh đạo chính là khả năng thực hiện các côngviệc, biến kiến thức thành hành động của nhà lãnh đạo, thể hiện sự thành thạo củangười lãnh đạo khi vận dụng kiến thức có được vào trong thực tế thực hiện chức nănglãnh đạo nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.Nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp phải thựchiện nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau nên cần có nhiều kỹ năng khác nhau.Trong khi đó, ngành dệt may Việt Nam là một ngành đã và đang phát triển mạnh

mẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng của nền kinh tếquốc gia, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã và sẽ gópphần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Bởi vì, trong các mặthàng công nghiệp xuất khẩu, ngành dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao,ngành dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động, góp phần nâng cao mức sống và ổn

Trang 13

định xã hội, ngoài ra, sự phát triển của ngành dệt may còn là tiền đề để phát triển cácngành công nghiệp khác Chính vì vậy, nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt mayViệt Nam và các doanh nghiệp luôn không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quảkinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh cạnhtranh gay gắt và quyết liệt mang tính toàn cầu như hiện nay.

Cho đến thời điểm hiện tại, các chủ đề về kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong ngành dệt may tại ViệtNam nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau Tuynhiên, theo nghiên cứu của tác giả thì chưa có công trình nào nghiên cứu về mối quan

hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Do

đó, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam” để nghiên cứu

Theo đó, luận ánsẽ nghiên cứusự ảnh hưởng củakỹ năng lãnh đạo đến hiệu quảkinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và nghiên cứunhững kỹnăng gì ảnh hưởng đến từng khía cạnh nào của hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp dệt may Việt Nam nói chung Đồng thời, luận án cũng thực hiện đánh giá thựctrạng về kỹ năng của nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, và trên cơ

sở đó, luận án đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển kỹ năng lãnhđạo, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

1.10 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận ántừ lâu đã nhận được rấtnhiều sự quan tâm của các học giả trên khắp thế giới

1.10.1 Nghiên cứu liên quan đến kỹ năng lãnh đạo

Lãnh đạo và vấn đề liên quan đến lãnh đạo từ lâu đã là một chủ đề thu hút rấtnhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới, và sự quan tâm này chưabao giờ dừng lại Cho đến thời điểm hiện tại, đã có hàng ngàn nghiên cứu khác nhau

về lãnh đạo và các nghiên cứu này tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Để thuận tiệntrong việc nghiên cứu về lãnh đạo, các nhà nghiên cứu cũng đã tổng hợp và hệ thốnghóa lý thuyết lãnh đạo theo nhiều cách khác nhau Theo Yulk, G., (2013), các lý thuyết

và nghiên cứu thực tiễn về lãnh đạo có thể được phân chia thành 5 hướng tiếp cận sau:

Trang 14

(1) phẩm chất lãnh đạo, (2) lãnh đạo hành vi, (3) tiếp cận theo hướng ảnh hưởng/quyền lực, (4) lãnh đạo tình huống, và (5) nghiên cứu tích hợp.

Nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo được xem là trung tâm của lý thuyết lãnh đạophẩm chất và lãnh đạo theo tình huống, và đã có rất nhiều học giả nghiên cứu trực tiếp

và gián tiếp về kỹ năng lãnh đạo (Bass, 1990)

Xét theo nội dung nghiên cứu, các nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo có thể đượcphân chia thành 2 nhóm nghiên cứu chính, đó là: nhóm nghiên cứu khám phá những

kỹ năng mà nhà lãnh đạo cần có và nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa kỹ nănglãnh đạo và hiệu quả của lãnh đạo Chi tiết như sau:

- Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu khám phá những kỹ năng mà một người sẽtheo đuổi một sự nghiệp lãnh đạo hoặc nổi trội như một lãnh đạo không chính thứctrong một nhóm cần có (Katz 1955; Lord, De Vader và Alliger 1986; Stogdill 1974;Mumford và cộng sự 2000; Moore, L L., và Rudd, R D 2004; Mumford, Campion vàMorgeson 2007; Da’as, R A 2017) Hướng nghiên cứu này thường dựa vào vai trò,nhiệm vụ, chức năng của người lãnh đạo trong doanh nghiệp, từ đó đề xuất các kỹnăng lãnh đạo cần có để thực hiện công việc một cách tốt nhất nhằm đạt được mục tiêucủa doanh nghiệp cho các đối tượng nghiên cứu khác nhau,có thể là lãnh đạo trong cáclĩnh vực ngành nghề khác nhau hoặc lãnh đạo trong các doanh nghiệp có quy mô khácnhau

Nghiên cứu “Những kỹ năng của một nhà quản lý hiệu quả” của Katz (1955) cóthể được xem là một những nghiên cứu tiên phong về kỹ năng lãnh đạo Bởi vì, nghiêncứu này xuất hiện vào thời điểm mà hầu hết các nghiên cứu đều tập trung xác định cácphẩm chất cần có của lãnh đạo, và các phẩm chất này được coi là bẩm sinh.Katz(1955) đã vượt qua giới hạn đó bằng cách nhấn mạnh bên cạnh các đặc điểm và tínhcách bẩm sinh, lãnh đạo cần phải sử dụng các kỹ năng để thực hiện công việc một cáchhiệu quả Và đặc biệt là các kỹ năng này có thể phát triển được nếu học tập và thựchành qua thời gian Với quan điểm lãnh đạo là người hiểu rõ tầm nhìn chiến lược,nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức, quản lý hoạt động của người khác và chịu tráchnhiệm trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức, Katz (1955) cho rằng, một nhà lãnhđạo thành công phải có ba kỹ năng cơ bản sau: kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng con người và

kỹ năng nhận thức Kỹ năng kỹ thuật là sự hiểu biết và sự thành thạo trong một loại

Trang 15

công việc hoặc hoạt động cụ thể, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến phương pháp,quy trình, thủ tục hoặc kỹ thuật Kỹ năng con người là những kiến thức và khả nănglàm việc với con người, trong khi kỹ năng kỹ thuật tác động đến đồ vật là chủ yếu Kỹnăng con người giúp cho người lãnh đạo làm việc hiệu quả với nhân viên, đồng nghiệp

và lãnh đạo cấp trên trong việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức Kỹ năng này đượcbiểu thị trong cách một cá nhân nhận thức cấp trên, đồng nghiệp và cấp dưới cũng nhưcách cá nhân này hành động sau đó Người có kỹ năng con người phát triển cao làngười nhận thức được những thái độ, và niềm tin của chính mình đối với các cá nhânkhác hay đối với các nhóm, là người có khả năng thấy được tính hữu ích và những hạnchế của các cảm giác này Và kỹ năng thứ ba là kỹ năng nhận thức Kỹ năng nhận thức

là khả năng làm việc với những ý tưởng và khái niệm, và là thành tố chính trong việcxây dựng tầm nhìn và hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp Trong ba kỹ năng, thì

kỹ năng kỹ thuật là quen thuộc nhất, vì nó cụ thể nhất và là kỹ năng cần có của hầu hếtmọi người, kỹ năng con người thì quan trọng đối với mọi cấp lãnh đạo trong doanhnghiệp, trong khi đó kỹ năng kỹ thuật là cần thiết đối với các nhà lãnh đạo cấp thấphơn, và kỹ năng nhận thức thì lại quan trọng đối với các nhà lãnh đạo cấp cao trongdoanh nghiệp

Tiếp theo đó, Mann (1965)cho rằng, người giám sát của một tổ chức nên có kỹnăng kỹ thuật, kỹ năng quan hệ con người, và năng lực quản trị (được xem là tương tựnhư kỹ năng nhận thức) Theo đó, người giám sát là người hướng dẫn và kết hợp cácnhiệm vụ và hoạt động của những người theo sau trong nhóm của họ, và liên kết cáchoạt động này tới hoạt động của các nhóm công việc khác ở cấp thấp hơn hoặc caohơn Mintzberg (1973) đã quan sát các nhà quản lý về công việc và thấy rằng, bêncạnh các kỹ năng truyền thống như là chỉ đạo và kiểm soát, nhà quản lý còn sử dụngmột số kỹ năng như tạo điều kiện, ảnh hưởng, huấn luyện, đàm phán và giải quyết vấnđề.Đầu những năm 1990, một nhóm các nhà nghiên cứu, dưới sự tài trợ của quân độiHoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, cho rằng hiệu quả lãnh đạo dựa trên ba yếu tố, đó

là kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo, kỹ năng đánh giá xã hội và kiến thức (Mumford

và cộng sự 2000) Mumford và cộng sự(2000) đã đặt các kỹ năng đượcphát triển ởtrung tâm thành tích lãnh đạo ở tất cả các cấp quản lý, trong khi Katz và Mann đề xuấtcác kỹ năng khác nhau cho các cấp quản lý khác nhau.Mặc dù sự phân loại này phức

Trang 16

tạp hơn so với mô hình của Katz (1955) và Mann (1965), nhưng sự phân loại kỹ nănglãnh đạo này hấp dẫn với bất kỳ ai quan tâm đến việc trở thành một nhà lãnh đạo hiệuquả (Northouse, 2007).

Những năm gần đây, với những thay đổi đáng kể về môi trường kinh doanh vàmôi trường làm việc, trí tuệ cảm xúc cũng được nghiên cứu như là một trong những kỹnăng cần có của nhà lãnh đạo Trí tuệ cảm xúc được định nghĩa như là khả năng củacác cá nhân để theo dõi cảm xúc của chính họ và của người khác, phân biệt giữa cáccảm xúc và sử dụng thông tin này để hướng dẫn suy nghĩ và hành động(Goleman,1998)

Sau đó, dựa trên cơ sở các nghiên cứu đã có trước đó về kỹ năng lãnh đạo,Mumford, Campion và Morgesonđã thực hiện tách ghép và đề xuất nhà lãnh đạo cần

có 4 kỹ năng, đó là: kỹ năng nhận thức, kỹ năng con người, kỹ năng kinh doanh, và kỹnăng chiến lược (Mumford, Campion và Morgeson, 2007)

Ngoài ra, tùy thuộc vào đối tượng và mục tiêu nghiên cứu khác nhau, các nhà

nghiên cứu đề xuất một số kỹ năng cần thiết cho nhà lãnh đạo như: kỹ năng ra quyết định (Edmunds, 1998); kỹ năng tạo động lực nhóm (Edmunds, 1998); kỹ năng hoạch định (Edmunds 1998; Marshall-Mies và cộng sự 2000); động cơ (Connelly và cộng sự

2000; Mumford và cộng sự 2000)…

- Bên cạnh nhóm nghiên cứu thứ nhất như trình bày trên, một số tác giả đi theonhóm nghiên cứu thứ hai là nghiên cứu về mối quan hệ giữa kỹ năng của nhà lãnh đạo

và hiệu quả lãnh đạo trong vị trí quản lý hiện tại của nhà lãnh đạo Chi tiết nhóm

nghiên cứu này sẽ được trình bày chi tiết trong mục 1.2.3 trang 12.

Xét theo nghiên cứu về các yếu tố cấu thành kỹ nănglãnh đạo, các nghiên cứu về

kỹ năng lãnh đạo trên thế giới thường sử dụng một trong ba hướng nghiên cứu là bayếu tố cấu thành kỹ năng lãnh đạo của Katz (1955), các yếu tố cấu thành kỹ năng lãnhđạo của Mumford và cộng sự (2000), hoặc mô hình bốn yếu tố cấu thành kỹ năng lãnhđạo của Mumford, Campion và Morgeson (2007) Chi tiết về các yếu tố cấu thành này

sẽ được trình bày chi tiết tại mục 2.1.4 trang 30.Ngoài ra, dựa vào các yếu tố cấu

thành trên, tùy theo đối tượng nghiên cứu khác nhau, các tác giả cũng đề xuất bổ sung

một số kỹ năng khác như:giá trị cá nhân (Edmunds, 1998; Lord và Hall, 2005; Kalargyrou, Pescosolido và Kalargiros, 2012); các kỹ năng kiến thức liên quan đến

Trang 17

ngành (Robbins, Bradley và Spicer, 2001; Moore và Rudd, 2004; Connelly và cộng

sự, 2000; Mumford và cộng sự, 2000); kỹ năng giao tiếp (Edmunds, 1998; Moore và Rudd, 2004); kỹ năng xây dựng giải pháp (Mumford và cộng sự, 2000; Mumford và cộng sự, 2000; Marshall-Mies và cộng sự, 2000); kỹ năng ra quyết định (Edmunds, 1998); kỹ năng tạo động lực nhóm (Edmunds, 1998); kỹ năng hoạch định (Edmunds, 1998; Marshall-Mies và cộng sự, 2000); động cơ (Connelly và cộng sự, 2000; Mumford và cộng sự, 2000); trí tuệ cảm xúc (Goleman, 1995; Goleman, Boyatzis và

McKee, 2002; Mayer và Salovey, 1995)

Xét theo phạm vi không gian nghiên cứu, thì các nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạotrên thế giới được thực hiện trong nhiều lĩnh vực ngành nghề và quy mô doanh nghiệpkhác nhau Cụ thể, nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo trong quân đội (Zaccaro và cộng

sự, 2000); nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo trong giáo dục (Kalargyrou, Pescosolido vàKalargiros, 2012; Da’as, R A., 2016); nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo trong lĩnh vực

y tế (Zilz, D A và cộng sự 2004;Robbins, C J và cộng sự, 2001); nghiên cứu về kỹnăng lãnh đạo trong hoạt động ngân hàng ngân hàng (Kehinde,J.S và cộng sự 2012);nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo tại các doanh nghiệp dịch vụ công (Haq, S 2011);Mumford, Campion và Morgeson 2007); nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo trong cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa (Kunene, T R 2009)…

Trực tiếp nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo tại Việt Nam gồm có luận án Tiến sĩ

nghiên cứu về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanhcủa Việt Nam của Nguyễn Thị Thu Trang (2016) và bài viết về kỹ năng lãnh đạo củacác trưởng khoa tại một trường đại học khu vực tại Việt Nam được đăng tại Hội nghịquốc tế về cải cách giáo dục lần thứ 7 (ICER 2014) của Hung, N M., Tesaputa, K., &Sri-ampai, A (2014)

Với mục đích là phân tích và đưa ra giải pháp để phát triển kỹ năng lãnh đạotrong doanh nghiệp, Nguyễn Thị Thu Trang (2016) đã sử dụng mô hình của WarrenBlank (2007) để đánh giá kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanhcủa Việt Nam Theo đó, kỹ năng lãnh đạo được chia thành 3 nhóm kỹ năng chính vớitổng cộng là 15 kỹ năng, đó là: kỹ năng nền tảng, kỹ năng ảnh hưởng và kỹ năng địnhhướng lãnh đạo Kỹ năng nền tảng bao gồm 6 kỹ năng: kỹ năng lãnh đạo bản thân; kỹnăng xây dựng chiến lược; kỹ năng xác lập kỳ vọng và mục tiêu; kỹ năng quản lý thời

Trang 18

gian; kỹ năng ra quyết định và am hiểu chuyên môn nghiệp vụ Kỹ năng ảnh hưởngbao gồm 5 kỹ năng: tạo ảnh hưởng; kỹ năng giao tiếp và thuyết trình; kỹ năng đàmphán, giải quyết xung đột; xây dựng môi trường có tính khích lệ; xây dựng và pháttriển mối quan hệ Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo bao gồm 4 kỹ năng: trao quyềncho cấp dưới; định hướng kết quả; phát triển nhân viên; thích ứng và quản lý thay đổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có duy nhất một kỹ năng mà tất cả các nhà lãnhđạo đều đánh giá tốt là kỹ năng hiểu biết về lĩnh vực hoạt động kinh doanh, các kỹnăng còn lại được đánh giá chỉ ở mức trên trung bình Nghiên cứu này đã làm rõ cơ sở

lý luận về lãnh đạo và kỹ năng lãnh đạo, đưa ra nội dung cơ bản của phát triển kỹ nănglãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam Thế nhưng, phạm vinghiên cứu của đề tài còn hạn chế, ngoài ra, đề tài cũng chưa phân tích chuyên sâu về

Kỹ năng giao tiếp và thuyết trình

Kỹ năng đàm phán và giải quyết xung độtXây dựng môi trường có tính khích lệXây dựng và phát triển mối quan hệ

Kỹ năng nền tảng

Kỹ năng lãnh đạo bản thân

Kỹ năng xây dựng chiến lược

Kỹ năng xác lập kỳ vọng và mục tiêu

Kỹ năng quản lý thời gian

Kỹ năng ra quyết định

Am hiểu chuyên môn nghiệp vụ

Sơ đồ 1.1: Kỹ năng lãnh đạo trong các DN ngoài quốc doanh của Việt Nam

Kỹ năng định hướng lãnh đạo

Trao quyền cho cấp dướiĐịnh hướngkeết quảPhát triển nhân viênThích ứng và quản lý thay đổi

(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Trang, 2016)

Trang 19

mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như: văn hóa vùng miền, bằng cấp, tới các nhóm kỹnăng lãnh đạo.

Khác với cách tiếp cận trên, Hung, N.M và cộng sự (2014) đã kế thừa các yếu tốcấu thành kỹ năng lãnh đạo của Katz (1955), Mumford, Campion và Morgeson (2007),Jones và Rudd (2007), Cheng, H C (2011) và Kalargyrou và cộng sự (2012) và đềxuất đánh giá kỹ năng của trưởng khoa của 5 trường cao đẳng thuộc trường Đại họcHuế bao gồm 6 nhóm kỹ năng chính: kỹ năng nhận thức; kỹ năng con người; kỹ năngkinh doanh; kỹ năng chiến lược; kỹ năng giao tiếp và kỹ năng trí tuệ cảm xúc Kết quảnghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ năng kinh doanh là quan trọng nhất, quan trọng tiếp theo là

kỹ năng chiến lược, kỹ năng con người, kỹ năng trí tuệ cảm xúc, kỹ năng nhận thức và

kỹ năng giao tiếp Xét về mức độ đáp ứng, thì kỹ năng chiến lược được đánh giá caonhất, tiếp đến là kỹ năng kinh doanh, kỹ năng trí tuệ cảm xúc, kỹ năng con người, kỹnăng nhận thức và kỹ năng giao tiếp, và các kỹ năng lãnh đạo của trưởng khoa chỉđược đánh giá ở mức trên trung bình Mặc dù nghiên cứu đã đạt được một số kết quảnhư trình bày trên, thế nhưng đối tượng nghiên cứu lại khá hẹp, chỉ trong phạm vi củatrường Đại học Huế, đồng thời nghiên cứu cũng chưa làm rõ sự khác nhau về kỹ nănglãnh đạo giữa đặc điểm của lãnh đạo, do đó kết quả nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng.Nhìn chung, các nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo rất phong phú và đa dạng về nộidung, về các yếu tố cấu thành và được thực hiện trong nhiều lĩnh vực ngành nghề vàquy mô khác nhau Hầu hết các nghiên cứu khẳng định kỹ năng lãnh đạo có vai trò rấtquan trọng và ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp

1.10.2 Nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh rất phong phú, đadạng, và thường được tiếp cận theo ba hướng chủ yếu sau:

- Thứ nhất là đánh giá hiệu quả kinh doanh và đề xuất giải pháp nâng caohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến hiệu quảkinh doanh tại Việt Nam đều tập trung vào hướng này Các nghiên cứu tiếp cận theohướng này thường dựa trên cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh để thực hiện đánh giáhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, sau đó, tìm kiếm các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng

Trang 20

cao hiệu quả kinh doanh cho các đối tượng nghiên cứu khác nhau (Chu Thị Thủy2003; Nguyễn Văn Tạo 2004; Nguyễn Thị Mai Hương 2008; Đoàn Ngọc Phúc 2014)

- Thứ hai, nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp (Nguyễn Ngọc Tiến 2015;Kaplan, R.S and Norton, D.P., 1996;Neely, A., Gregory, M, và Platts, K 1995; Hudson, M., Smart, A and Bourne, M.,2001;Santos, J.B and Brito, L.A.L., 2012) và nghiên cứu về hoạt động đánh giá hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp (Đỗ Huyền Trang 2012; Trần Thị Thu Phong 2012).Giống với các nghiên cứu trên, các nghiên cứu tiếp cận theo hướng này cũng đi nghiêncứu cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nghiên cứu các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, điểm khác biệt là cácnghiên cứu tiếp cận theo hướng này sau đó đi sâu phân tích đặc thù của từng ngànhnghề và đề xuất hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thực hiện đánh giá hiệu quả kinhdoanh cho từng đối tượng nghiên cứu

- Thứ ba, nghiên cứu hiệu quả kinh doanh trong mối quan hệ tương tác vớicác yếu tố khác như: ảnh hưởng của giải quyết tranh chấp trong mua bán quốc tế vàhiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam (Bùi Ngọc Sơn,2012); cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (San, O.T and Heng, T.B.,2011; Saeed, M.M., và cộng sự, 2013); nghiên cứu về tác động của quản trị doanhnghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp (Đoàn Ngọc Phúc 2014; Sami,H., và cộng sự, 2011; Wu, M.C., và cộng sự 2009; Khatab, H., và cộng sự, 2011); vànghiên cứu mối quan hệ giữa sự lãnh đạo và hiệu quả doanh nghiệp Các nghiên cứucủa nước ngoài thường tập trung theo hướng tiếp cận này

Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và gốc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đềxuất hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau

- Với quan điểm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu

hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh, các tác giả Bùi Xuân Phong (2004),

Nguyễn Văn Công (2005), Nguyễn Thị Mai Hương (2008), Đoàn Ngọc Phúc (2014)cho rằng, doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất, suất hao phí

và sức sinh lợi để đánh giá hiệu quả kinh doanh Sức sản xuất cho biết khả năng tạo rakết quả sản xuất từ các yếu tố đầu vào Suất hao phí là chỉ tiêu cho biết để có một đơn

Trang 21

vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay lợi nhuận, doanh nghiệp phải hao phí baonhiêu đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào Sức sinh lợi phản ánh một đơn vị yếu tố đầuvào hay một đơn vị đầu ra mang lại mấy đơn vị lợi nhuận.Trong một nghiên cứu khác,Nguyễn Văn Công (2009) cho rằng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thểhiện qua ba nội dung là hiệu suất hoạt động, hiệu năng hoạt động và hiệu quả hoạtđộng Hiệu suất hoạt động phản ánh sự tương quan giữa kết quả sản xuất đầu ra vớilượng chi phí hay yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất đầu ra Hiệu năng hoạtđộng thể hiện khả năng hoạt động mà doanh nghiệp có thể đạt được khi sử dụng cácyếu tố đầu vào hay khi tiến hành từng hoạt động và thường được thể hiện thông quacác chỉ tiêu phản ánh tốc độ vòng quay của các yếu tố đầu vào Cuối cùng là hiệu quảhoạt động, được đo bằng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị yếu tố đầu vào Hiệu quảhoạt động là biểu hiện của hiệu quả kinh doanh vì mục đích cuối cùng của kinh doanh

là lợi nhuận Trong khi đó, Đỗ Huyền Trang (2012) cho rằng có thể sử dụng ba chỉtiêu sau để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể: chỉ tiêu phản ánhhiệu suất sử dụng, tốc độ luân chuyển và suất sinh lời của chi phí hoặc các yếu tố đầuvào Trong đó, suất sinh lời là nhóm chỉ tiêu chính để đánh giá hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp là cao hay thấp Mặc dù các hướng tiếp cận trên đều đề xuất ba chỉtiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh với các tên gọi khác nhau, nhưng xét về bản chất thìkhá giống nhau Các chỉ tiêu đều là phản ánh sự tương quan giữa kết quả đầu ra vớicác yếu tố đầu vào; khả năng sử dụng các yếu tố đầu vào và cuối cùng là khả năng tạo

ra lợi nhuận từ các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Đồng thời, các nghiên cứu trêncũng nhấn mạnh đến vai trò của chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

- Với quan điểm kết quả hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp là lợinhuận, nên các tác giả Josette Peyrard (2005), Ngô Thế Chi – Nguyễn Trọng Cơ(2008), Nguyễn Tấn Bình (2010), Nguyễn Ngọc Tiến (2015) cho rằng khi phân tíchhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chỉ cần chú trọng đến phân tích khả năng sinhlợi

- Với quan điểm doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, chịu sự tác động vàchi phối trong sự quản lý chung của Nhà nước, do đó hiệu quả kinh tế của doanhnghiệp phải gắn liền với hiệu quả xã hội Từ đó, các tác giả cho rằng doanh nghiệp nênphân tích thêm một số chỉ tiêu dưới gốc độ hiệu quả xã hội như: thuế (Nguyễn Văn

Trang 22

Tạo 2004; Huỳnh Đức Lộng 1999; Đỗ Huyền Trang 2012; Nguyễn Ngọc Tiến 2015);thu nhập bình quân người lao động (Huỳnh Đức Lộng 1999; Nguyễn Ngọc Tiến 2015;Chu Thị Thủy 2003); một số chỉ tiêu liên quan đến ngoại tệ (Nguyễn Thị Mai Hương,2008) và một số chỉ tiêu phi tài chính khác.

- Khác với cách tiếp cận trên trên, các tác giả (Kaplan, R.S and Norton,D.P 1996; Neely, A., Gregory, M and Platts, K 1995; Hudson, M., Smart, A andBourne, M 2001; Đặng Thị Hương 2010;Santos, J.B and Brito, L.A.L 2012; NgôQuý Nhâm 2011; Nguyễn Minh Tâm 2014; Lê Thị Phương Thảo 2016) cho rằng cácthướt đo tài chính mang tính ngắn hạn và chỉ phản ánh kết quả quá khứ, do đó các tácgiả đã bổ sung các thước đo là động lực phát triển doanh nghiệp trong tương lai Cácmục tiêu và thước đo đánh giá hiệu quả của một tổ chức xuất phát từ bốn viễn cảnh: tàichính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi phát triển Xét ở góc độ tài chính thìcác chỉ số về lợi nhuận được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Các mục tiêu trong viễn cảnh khách hàng có thể đo lường qua: mức độhài lòng của khách hàng, giữ chân khách hàng, thu hút khách hàng, lợi nhuận từ kháchhàng, tỷ trọng khách hàng mục tiêu thường được sử dụng Trong viễn cảnh quy trìnhnội bộ, doanh nghiệp phải xác định được các quy trình nội bộ cốt lỗi mà doanh nghiệpcần đầu tư để trở nên vượt trội Có thể dùng các chỉ tiêu như: tốc độ và chi phí chonghiên cứu phát triển sản phẩm mới và dịch vụ, thời gian hay chi phí giải quyết đơnhàng, công suất máy móc thiết bị, giao hàng đúng hẹn, … để đo lường chất lượng củaquy trình nội bộ Và cuối cùng là viễn cảnh học hỏi và phát triển, bao gồm 3 nguồnchính: con người, các hệ thống và các quy trình tổ chức Mô hình này là một hệ thốngbao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, được xây dựng cân bằng với nhau, hỗtrợ nhau, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau

Hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh tại Việt Nam đều có chung mộthạn chế là quá tập trung và nhấn mạnh vào các chỉ số tài chính để đánh giá hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp Một số học giả cho rằng, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkinh doanh bị ảnh hưởng bởi ngành nghề kinh doanh (Trần Thị Kim Thu 2006;Nguyễn Thị Mai Hương 2008; Đỗ Huyền Trang 2012; Nguyễn Ngọc Tiến 2015), do

đó, tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, các doanh nghiệp nên chọn hệ thống chỉ tiêuđánh giá hiệu quả kinh doanh phù hợp

Trang 23

1.10.3 Mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp

Như trình bày trên mục 1.2.1 trang2 và mục 1.2.2 trang8, nghiên cứu về mối

quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp (Connelly và cộng sự, 2000; Boyatzis 1982; Cheng, H C., 2011; Kehinde, J SJegede, C.A và Akinladi, H.B 2012; Abosede và cộng sự, 2011)là một trong nhữngnhánh nghiên cứu chính liên quan đến kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Các nghiên cứu này thường xác định kỹ năng của nhà lãnh đạo thôngqua kiểm tra, giải quyết tình huống, tự đánh giá hoặc được đánh giá bởi ngườikhác,sau đó, xác định sự ảnh hưởng của kỹ năng của nhà lãnh đạo đến hiệu quả lãnhđạo Hiệu quả lãnh đạo được đo lường thông qua hiệu quả thực hiện công việc của cánhân, của nhóm và của cả doanh nghiệp (Yukl,G., 2013) Bao gồm: doanh số, lợinhuận, thị phần, tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), tỉ suất lợi nhuận trên tài sản(ROA), sự hài lòng của nhân viên, tạo động lực cho nhân viên, phát triển kỹ năng nhânviên, chất lượng giải pháp

Connelly và cộng sự (2000) cho rằng kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo và kỹnăng phán xét xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả lãnhđạo được giá thông qua chất lượng các giải pháp giải quyết vấn đề của lãnh đạo vàthành tích của lãnh đạo Cheng, H C (2011) đã sử dụng hồi quy đa biến, hồi quy phâncấp và Anova để nghiên cứu về mối quan hệ giữa các kỹ năng lãnh đạo và hiệu quảlãnh đạo Kỹ năng lãnh đạo bao gồm kỹ năng nhận thức, kỹ năng con người, kỹ năngkinh doanh và kỹ năng chiến lược, hiệu quả lãnh đạo được đánh giá qua hiệu quả quản

lý chung, hiệu quả của lãnh đạo, hiệu quả của lãnh đạo so với các lãnh đạo khác… Kếtquả nghiên cứu cho thấy, kỹ năng kinh doanh là chìa khóa để các nhà lãnh đạo đượcđánh giá cao hơn về hiệu quả lãnh đạo.Kỹ năng kinh doanh của lãnh đạo càng cao, nhàlãnh đạo được đánh giá cao hơn về hiệu quả lãnh đạo, trong khi đó kỹ năng con ngườicàng cao có mối quan hệ kém với hiệu quả lãnh đạo càng cao Ngoài ra, kết quảnghiên cứu cũng chỉ ra rằng diện mạo bên ngoài của lãnh đạo như: chiều cao, sức hấpdẫn tổng quan có ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo Kehinde, J S Jegede, C.A vàAkinladi, H.B (2012) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả

tổ chức thuộc lĩnh vực ngân hàng tại Nigeria Theo đó, nghiên cứu cho thấy rằng kỹ

Trang 24

năng lãnh đạo có mối quan hệ đáng kể với hiệu quả của tổ chức và ảnh hưởng lớn đếnhiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hiệu quả lãnh đạo được đo lường thông quaROI và lợi nhuận trong dài hạn, kỹ năng lãnh đạo được đo lường thông qua 10 kỹ năngsau: kỹ năng lãnh đạo, sự đam mê, tổ chức, sự ủy quyền, quyền sở hữu và trách nhiệm,

kỹ năng truyền đạt hiệu quả, dũng cảm và thân thiện, lắng nghe người theo sau, hiểubiết về người theo sau Abosede, A J và cộng sự (2011) cho rằng, kỹ năng lãnh đạo

có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Nigeria

Tại Việt Nam, mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo, nhưngthông qua các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo, Đỗ Anh Đức (2014) và Lê ThịPhương Thảo (2016) cũng đánh giá sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quảcủa doanh nghiệp

Đỗ Anh Đức (2014) đánh giá kỹ năng của giám đốc DNNVV tại Hà Nội baogồm: (1) kỹ năng giải quyết vấn đề, (2) kỹ năng sử dụng quyền lực và gây ảnh hưởng,(3) kỹ năng tạo động lực cho nhân viên, (4) kỹ năng giao tiếp đàm phán, (5) kỹ năng

xử lý xung đột, (6) kỹ năng quản lý sự căng thẳng, (7) kỹ năng ủy quyền, (8) kỹ năngkiểm soát, (9) kỹ năng tin học, (10) kỹ năng ngoại ngữ.Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng

kỹ năng quản lý của giám đốc DNNVV có ảnh hưởng lớn nhất tới kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên, nghiên cứu này lại chỉ mới đánh giá kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ dựa vào yếu tố năng lực lãnh đạo,không quan tâm đến các yếu tố khác như vốn, quy mô, …Lê Thị Phương Thảo(2016)nghiên cứu ảnh hưởng của năng lực lãnh đạo của giám đốc các doanh nghiệpnhỏ và vừa khu vực Bắc miền trungđến kết quả hoạt động của doanh nghiệp DNNVVthông qua mô hình ASK.Theo đó, năng lực lãnh đạo được đánh giá thông qua ASK,kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên 4 phương diện, bao gồmtài chính: khách hàng, quy trình nội bộ và đào tạo Tương đồng với kết quả nghiên cứucủa Đỗ Anh Đức (2014), kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ năng lãnh đạo có tác độngmạnh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.Kỹ năng lãnh đạo trong mô hình nàybao gồm: (1) kỹ năng thấu hiểu bản thân, (2) kỹ năng cân bằng công việc và cuộcsống, (3) kỹ năng học hỏi, (4) kỹ năng giải quyết vấn đề, (5) kỹ năng giao tiếp lãnhđạo, (6) kỹ năng động viên khuyến khích, (7) kỹ năng phát triển đội ngũ, (8) kỹ nănggây ảnh hưởng và xây dựng hình ảnh, (9) kỹ năng thiết lập và lãnh đạo nhóm, (10) kỹ

Trang 25

năng xây dựng tầm nhìn và lên chiến lược, (11) kỹ năng tổ chức và triển khai côngviệc, (12) kỹ năng huy động và phối hợp các nguồn lực, (13) kỹ năng khỏi xướng sựthay đổi, (14) kỹ năng xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp.Tuy nhiên, nghiêncứu này còn giới hạn về vị trí địa lý và chưa làm rõ sự khác nhau trong ngành nghề cụthể.Hầu hết các nghiên cứu đều có cùng kết quả đánh giá là kỹ năng của lãnh đạo cácdoanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

1.11 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định khoảng trống nghiên cứu

Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu đã trình bày tại mục 1.2 trang 2, tác giả có một số đánh giá như sau:

Trên thế giới, các nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo rất phong phú, đa dạng, đượcthực hiện theo nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau, và được thực hiện trong nhiềulĩnh vực ngành nghề khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng kỹ năng có vaitrò rất quan trọng trong sự nghiệp của lãnh đạo, và các kỹ năng này không phải dobẩm sinh mà có, kỹ năng có thể hình thành và phát triển thông qua quá trình học tập,rèn luyện và thực hành qua thời gian Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kỹnăng lãnh đạo có vai trò to lớn, và có ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của doanhnghiệp.Trên cơ sở đó, các nghiên cứu đề xuất các chương trình và hoạt động đào tạonhằm nâng cao kỹ năng của lãnh đạo để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, từ đó nâng caohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu liên quan về hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp, thế nhưng các nghiên cứu về lãnh đạo và kỹ năng lãnh đạo còn khá hạnchế.Các nghiên cứu về lãnh đạo chủ yếu tập trung nghiên cứu năng lực của lãnh đạo

và phong cách lãnh đạo, một số ít nghiên cứu về vai trò và tố chất cá nhân của lãnhđạo trong doanh nghiệp.Hơn thế nữa, các nghiên cứu về lãnh đạo tại Việt Nam đều cóchung một hạn chế là chỉ mới nghiên cứu về lãnh đạo nói chung, lãnh đạo trong cácloại hình doanh nghiệp khác nhau, vị trí địa lý khác nhau, chưa đi sâu làm rõ sự khácnhau về lãnh đạo trong các ngành nghề khác nhau Nghiên cứu trực tiếp về kỹ nănglãnh đạo chỉ mới có Hung, Nguyen Manh và cộng sự (2014)nghiên cứu về kỹ nănglãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục, và Nguyễn Thị Thu Trang (2016) nghiên cứu pháttriển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam

Trang 26

Theo các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo, năng lực được cấu thành bởi 3 nhân

tố chính, đó là kiến thức, kỹ năng và phẩm chất/ thái độ (Lê Thị Phương Thảo 2016;

Đỗ Anh Đức 2014; Lê Quân và Nguyễn Quốc Khánh 2012) Theo đó, kiến thức đượchiểu là năng lực về thu thập dữ liệu, năng lực hiểu các vấn đề, năng lực ứng dụng,năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng lực đánh giá Kỹ năng chính là năng lựcthực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động Thông thường kỹ năng đượcchia thành các cấp độ chính như: bắt chước, ứng dụng, vận dụng, vận dụng sáng tạo.Thái độ hay phẩm chất thường bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận

và phản ứng lại các thực tế, xác định giá trị, giá trị ưu tiên Các phẩm chất và hành vithể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố chất cần có đểđảm nhận tốt công việc (Lê Quân và Nguyễn Quốc Khánh, 2012)

Trong khi đó, Yukl (2013) cho rằng năng lực (competency) thường là một sự kếthợp giữa các kỹ năng (Skills) và các đặc điểm (traits) có liên quan của lãnh đạo Đặcđiểm (traits) đề cập đến một loạt các thuộc tính cá nhân, bao gồm nhân cách/tính cách,khí chất, nhu cầu, động cơ, và giá trị, và kỹ năng (skills) đề cập đến khả năng (ability)làm một việc gì đó có hiệu quả Theo Katz (1955), một kỹ năng (skill) ngụ ý một khảnăng (ability), và khả năng này có thể được phát triển, không nhất thiết phải là bẩmsinh, và được thể hiện trong hoạt động, không chỉ đơn thuần là tiềm năng Lãnh đạocần có 3 kỹ năng, đó là: kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng con người và kỹ năng nhận thức.Theo Mumford và cộng sự (2000), lãnh đạo cần có kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹnăng phán xét xã hội.Theo Mumford, Campion và Morgeson (2007), lãnh đạo cần có

4 kỹ năng, đó là kỹ năng nhận thức, kỹ năng con người, kỹ năng kinh doanh và kỹnăng chiến lược.Từ đó cho thấy góc độ tiếp cận kỹ năng lãnh đạo và năng lực lãnhđạo là hoàn toàn khác nhau

Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàngtiêu dùng, góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề

và sinh hoạt (Nguyệt A Vũ2014) Theo Lê Hồng Thuận (2017), Ngành dệt may ViệtNam đã và đang phát triển mạnh mẽ, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quátrình tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia, tạo ra hàng triệu công ăn việc làm cho nngười lao động và góp phần rất lớn trong việc ổn định xã hội, nâng cao mức sống chongười dân Do đó, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may, cũng như sự

Trang 27

tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp dệt may có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xãhội của quốc gia

Những phân tích trên cho thấy “nghiên cứumối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo

và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam” là nghiên cứu mới,

không bị trùng lắp với các nghiên cứu đã có, có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn.Bởi vì:

- Xét về giá trị khoa học, luận ánhệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng lãnh đạo, cơ

sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, trên cơ sở kiểmđịnh kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận án sẽ góp phần vào việc củng cố lýthuyết về mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp

- Xét về thực tiễn, luận ánxác định các kỹ năng cần thiết cho các nhà lãnh đạo tạicác doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đánh giá thực trạng kỹ năng của nhà lãnhđạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, kiểm định mối quan hệ giữa kỹ năngcủa nhà lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.Trên cơ sở đó, luận ánđề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng của nhàlãnh đạo, làm tiền đề cho cải thiện và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp dệt may Việt Nam

1.12 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.12.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệuquả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung.Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, luận án xác định các kỹ năng cần thiết đối với nhà lãnh đạo tại các

doanh nghiệp dệt may Việt Nam

- Thứ hai, luận án đánh giá sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh

doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đồng thời luận án đánh giá chitiết sự ảnh hưởng của từng kỹ năng của nhà lãnh đạo đến từng khía cạnh củahiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

- Thứ ba, luận án đánh giá thực trạng mức độ thực hiện các kỹ năng trên của nhà

lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Trang 28

- Thứ tư, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển kỹ năng

của nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung, làm cơ sở

để cải thiện và nâng caohiệu quả kinh doanh trên nhiều khía cạnh tùy thuộc vàomục tiêu và định hướng phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

1.12.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu như trình bày trên, luận án sẽ thực hiệnmột số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

Thứ nhất, luận án nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ

đề nghiên cứu của luận án đểxác định khoảng trống nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu.Thứ hai, luận ánnghiên cứu cơ sở lý thuyết về kỹ năng lãnh đạo, cơ sở lý thuyết

về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và môhình nghiên cứu về mối quan hệ giữa kỹ năng của nhà lãnh đạo và hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Thứ ba, luận án phải xác định được phương pháp nghiên cứu phù hợp với vấn đềnghiên cứu của luân án, xây dựng quy trình nghiên cứu, xác định nguồn dữ liệu phục

vụ nghiên cứu, các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu phù hợp được sửdụng để thực hiện luận án

Thứ tư, luận án phải xác định được các kỹ năng cần có của nhà lãnh đạo tại cácdoanh nghiệp dệt may Việt Nam Đồng thời, luận án phải chỉ ra được mối quan hệgiữa kỹ năng của nhà lãnh đạo và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt mayViệt Namdựa trên kết quả phân tích từ những dữ liệu đã thu thập được

Và nhiệm vụ cuối cùng cũng không kém phần quan trọng của luận án là phải đưa

ra được một số kết luận về vấn đề nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và kiến nghịnhằm nâng cao kỹ năng của nhà lãnh đạo, làm tiền đề để nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

1.13 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ như nêu trên, luận án phải trả lời được câu hỏi

nghiên cứu chính là“Sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạođến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là như thế nào?”

Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu chính trên, luận án cần phải trả lời được một

số câu hỏi chi tiết cụ thể như sau:

Trang 29

Câu hỏi nghiên cứu thứ 1 là “Kỹ năng lãnh đạo của các doanh nghiệp dệt mayViệt Nam được đo lường như thế nào?”

Câu hỏi nghiên cứu thứ 2 là “Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt mayViệt Nam được đo lường như thế nào?”

Câu hỏi nghiên cứu thứ 3 là “Ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là như thế nào?”

1.14 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án:luận án nghiên cứu về sự ảnh hưởng của kỹ

năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nóichung

Phạm vi nghiên cứu của luận án:

- Phạm vi nội dung: luận ánnghiên cứu về sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạođến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Kỹ nănglãnh đạo ở đây được hiểu là kỹ năng của nhà lãnh đạo

- Phạm vikhông gian: luận án nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam nói chung.Theo Luật doanh nghiệp (2014), doanh nghiệp ViệtNam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng kí thành lập theo pháp luật ViệtNam và có trụ sở chính tại Việt Nam Do đó, doanh nghiệp dệt may Việt Namtrong phạm vi của luận án này được hiểu là doanh nghiệp Việt Nam hoạt độngtrong lĩnh vực dệt may

- Phạm vi thời gian: luận án được thực hiện trong khoảng thời gian từ đầu năm

2016 đến 2019.Việc phỏng vấn, điều tra, khảo sát các nhà lãnh đạo tại cácdoanh nghiệp dệt may Việt Nam được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 07năm 2018 đến tháng 04 năm 2019 Các đề xuất của luận án hướng đến năm2025

- Phạm vi về khách thể nghiên cứu: khách thể nghiên cứu của luận án là nhà lãnhđạo các cấp (bao gồm nhà lãnh đạo cấp cao, nhà lãnh đạo cấp trung và các nhàlãnh đạo cấp cơ sở) hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

1.15 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng phương pháp phântích và tổng hợp trên cơ sở sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định tính kết hợp nghiên

Trang 30

cứu định lượng Nghiên cứu định tính được sử dụng để kiểm định sơ bộ sự phù hợpcủa thang đo và mô hình nghiên cứu, nhằm chuẩn hóa thang đo và mô hình nghiên cứucho nghiên cứu định lượng ở giai đoạn tiếp theo Luận án thực hiện nghiên cứu địnhlượng bằng việc khảo sát chính thức nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp dệt may ViệtNam Việc khảo sát được thực hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau Dữ liệu sau khiđược thu thập sẽ được xử lý, tính toán và phân tích thông qua chương trình IBM SPSSStatistics 20 và AMOS20 để cho ra kết quả nghiên cứu Và cuối cùng, tác giả sử dụngkết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, tư duy, suy luận để đưa ra một số kếtluận về vấn đề nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp đối với kỹ năng lãnh đạo nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

- Nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý

dữ liệu

+ Nguồn dữ liệu: đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

+ Phương pháp thu thập dữ liệu:

Dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ các báo cáo nghiên cứu, sách, tạp chí chuyênngành, luận án, luận văn có hàm lượng khoa học cao, dữ liệu từ các cơ quan thống kênhư tổng cục thống kê, các hiệp hội…thông qua các công cụ tìm kiếm Google, googlescholar, từ các website chính thức của các tổ chức uy tín, các website đáng tin cậy nhưtập đoàn dệt may Việt Nam, hiệp hội các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, thư việnquốc gia Việt Nam trường Đại học Ngoại thương, trường Đại học Kinh tế Tp.HCM,Proquest, ScienceDirect,…

Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn nhàlãnh đạo và khảo sát nhàlãnh đạo tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

+ Phương pháp xử lý dữ liệu: dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được cập nhật, xử

lý, và tính toán qua phần mềm Excel, IBM SPSS Statistics 21, AMOS, sau đó truyxuất kết quả và viết báo cáo

Chi tiết về phương pháp nghiên cứu, luận án trình bày trong nội dung chương 3: phương pháp nghiên cứu trang 54.

1.16 Kết cấu của luận án

Bên cạnh lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các giấy tờ cần thiết và cácphụ lục có liên quan, luận án bao gồm 5 chương chi tiết như sau:

Trang 31

- Chương 1: Phần mở đầu

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Một số thảo luận và kiến nghị

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, nội dung chương 1 đã khái quát được các nội dung chính và các vấn đề

cơ bản mà luận án cần giải quyết Cụ thể:

- Nội dung chương cho thấy kỹ năng lãnh đạo có vai trò to lớn đối với hiệu quả kinh

doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dệt mayViệt Nam Bởi vì, ngành dệt may là một trong những ngành có vai trò rất quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Chính vì vậy, nghiêncứu về sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp dệt may Việt Nam là rất có ý nghĩa

- Ngoài ra, chương 1 đã tổng hợp, phân tích, so sánh, và đánh giá các công trình

nghiên cứu từ các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, các

kỷ yếu của các hội thảo khoa học… đã được nghiên cứu và công bố ở nước ngoài

và trong nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá tổng quantình hình nghiên cứu, có thể khẳng định rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu về

kỹ năng lãnh đạo, về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp , thế nhưng cácnghiên cứu về sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo đến hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp không nhiều, đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may Từ đó, luận ánxác định được khoảng trống nghiên cứu là “sự ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạođến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”

- Nội dung chương 1 cũng đã đưa ra các định hướng nghiên cứu thông qua mục đích

và nhiệm vụ nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Chương 1 cũng đã chỉ ra được một số phương pháp nghiên cứu chính được sử

dụng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của luận án Đồng thời, nội dung chươngcũng xác định được các nguồn dữ liệu, các phương pháp thu thập dữ liệu, phươngpháp xử lý dữ liệu để cho ra kết quả nghiên cứu

Trang 32

Trên cơ sở các định hướng nghiên cứu đã được xác định trong nội dung chương

1, việc nghiên cứu các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu là rất cầnthiết và các cơ sở lý thuyết này sẽ được thảo luận chi tiết trong nội dung của chươngtiếp theo

Trang 33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾTVÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết về kỹ năng lãnh đạo

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về lãnh đạo và nhà lãnh đạo

Lãnh đạo là một chủ đề đã xuất hiện từ lâu và nhận được rất nhiều sự quan tâmcủa rất nhiều học giả khắp nơi trên thế giới.Các nhà nghiên cứu thường định nghĩalãnh đạo theo quan điểm cá nhân và khía cạnh mà họ quan tâm nhất (Yukl,1989),chính vì vậy, cho đến thời điểm hiện tại có hàng trăm định nghĩa khác nhau vềlãnh đạo.Điển hình:

- Lãnh đạo có thể được định nghĩa về mặt đặc điểm cá nhân, hành vi lãnh đạo, cách

thức tương tác, mối quan hệ về vai trò, nhận thức của nhân viên, ảnh hưởng lênnhân viên, ảnh hưởng đến mục tiêu nhiệm vụ, và ảnh hưởng đến văn hóa của tổchức (Stogdill, 1974)

- Lãnh đạo là một quá trình tương tác, tập hợp bởi nhiều cá thể với những giá trị và

động cơ nào đó, cùng với các nguồn lực về kinh tế, chính sách khác nhau, trongbối cảnh mâu thuẫn và cạnh tranh, nhằm thực hiện những mục tiêu, do nhữngngười lãnh đạo cùng với người thừa hành tiến hành (Burns, 1978)

- Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng các hoạt động của một cá nhân hay một

nhóm người trong nỗ lực nhằm đạt mục tiêu và trong một hoàn cảnh thực tế cụ thể(Hersey và Blanchard, 1982)

- Lãnh đạo vừa là một quá trình và cũng là một tài sản Quá trình lãnh đạo là sự ảnh

hưởng không ép buộc nhằm hướng dẫn và phối hợp hoạt động của các thành viêntrong nhóm để đạt được mục tiêu Lãnh đạo là tài sản bởi đây là một tập hợpnhững đặc tính, phẩm chất của những cá nhân, những người đã sử dụng thànhcông những ưu thế đó vào việc gây ảnh hưởng (Jago, 1982)

- Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng các hoạt động của một nhóm được tổ chức hướng

tới việc đạt được mục tiêu (Rauch và Behling, 1984)

- Lãnh đạo là khái niệm liên quan đến việc nhìn rõ tầm nhìn của tổ chức, thể hiện

các giá trị và tạo ra môi trường mà trong đó mọi thứ có thể được thực hiện nhằmđạt được mục tiêu của tổ chức (Richards và Engle, 1986)

Trang 34

- Lãnh đạo là mối quan hệ ảnh hưởng giữa những người lãnh đạo và người chịu lãnh

đạo nhằm thực hiện những thay đổi hiện tại, đấy chính là sự phản ánh mục tiêu của

họ (Rost, 1993)

- Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến người khác để hiểu và thống nhất về những

gì cần phải được thực hiện và làm điều đó bằng cách nào, và quá trình tạo điềukiện thuận lợi cho những nỗ lực của cá nhân và tập thể nhằm đạt được các mụctiêu chung(Yukl,2013)

Các định nghĩa trên không hoàn toàn đúng, cũng không hoàn toàn sai, bởi theoCampell (1977)tùy thuộc vào đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, các học giả đưa ra cáckhái niệm khác nhau về lãnh đạo

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lãnh đạo, hầu hết các định nghĩa vềlãnh đạo cho rằng, lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng có chủ ý được tác động lên ngườikhác để hướng dẫn, tổ chức có hệ thống và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động

và mối quan hệ trong một nhóm hoặc một tổ chức Thế nhưng, quá trình này lại khácnhau trên nhiều khía cạnh, bao gồm sự khác nhau về tầm quan trọng của người tạo ra

sự ảnh hưởng, mục đích của những nỗ lực ảnh hưởng, cách thức tạo ra sựảnhhưởng.Sự khác nhau này phản ánh sự bất đồng sâu sắc trong việc nhận dạng, xác địnhnhà lãnh đạo và tiến trình lãnh đạo.Chính sự khác nhau giữa những nhà nghiên cứutrong nhận thức về lãnh đạo đã dẫn đến sự khác nhau trong lựa chọn định hướngnghiên cứu và sự khác nhau trong giải thích kết quả nghiên cứu (Yukl,2013).Đồng thờiKarmel (1978)cho rằng rất khó để xác định một định nghĩa duy nhất về lãnh đạo màbao hàm nhiều ý nghĩa và đủ cụ thể để đáp ứng như một hoạt động hóa của sự biếnđổi

Luận án này sử dụng định nghĩa về lãnh đạo của Yulk (2013, trang 23) để nghiên

cứu, “lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến người khác để hiểu và thống nhất về những gì cần phải được thực hiện và làm điều đó bằng cách nào, và quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho những nỗ lực của cá nhân và tập thể nhằm đạt được các mục tiêu chung” Bởi vì, theo định nghĩa này, lãnh đạokhông chỉ bao gồm những nỗ lực để ảnh

hưởng và tạo thuận lợi cho các công việc hiện tại của nhóm hoặc tổ chức, mà còn đảmbảo có sự chuẩn bị để thích ứng với những thách thức trong tương lai.Lãnh đạo bao

Trang 35

gồmcả hình thức ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp Tiến trình ảnh hưởng cóthể liên quan đến một lãnh đạo đơn lẻ hoặc có thể liên quan đến nhiều lãnh đạo

Nhà lãnh đạo có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của nhóm hoặc tổ chức thông qua:(1) lựa chọn mục tiêu và chiến lược để theo đuổi, (2) tạo động lực cho các thành viên

để đạt được các mục tiêu, (3) sự tin tưởng lãnh đạo và hợp tác giữa các thành viên, (4)

tổ chức và phối hợp hoạt động công việc, (5) phân bổ nguồn lực cho các hoạt động vàmục tiêu, (6) Phát triển kỹ năng và sự tự tin của nhân viên, (7) Học hỏi và chia sẻ kiếnthức mới với các thành viên, (8) Tham gia hỗ trợ và hợp tác từ bên ngoài, (9) thiết kếcấu trúc, chương trình và hệ thống chính thức trong tổ chức, và (10) chia sẻ niềm tin

và giá trị của các thành viên (Yulk, 2013)

Tương tự như khái niệm về lãnh đạo, cho đến thời điểm hiện tại, cũng có rấtnhiều cách hiểu khác nhau về nhà lãnh đạo

Theo Stogdill (1974), nhà lãnh đạo phải luôn được định nghĩa cùng với sự ràngbuộc của tính cách, cách ứng xử, ảnh hưởng đối với người khác, các chuỗi hoạt độngtương tác, quan hệ, vị trí quản lý, và nhìn nhận của người khác về tính hợp pháp củaquyền lực và sự tạo dựng ảnh hưởng

Theo Maxwell (1993),nhà lãnh đạo là người có khả năng gây ảnh hưởng

Peter, G., Northhouse (2004) định nghĩa rằng nhà lãnh đạo là cá nhân có khảnăng gây ảnh hưởng, kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các hoạtđộng có hiệu quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc

Theo Hogan, R and Kaiser, R.B., (2005),nhà lãnh đạo thường được định nghĩa lànhững người phụ trách, đứng đầu các tổ chức hoặc đơn vị của họ

Theo Yukl (2013), khái niệm nhà lãnh đạo và nhà quản lý có thể được sử dụngthay thế cho nhau, vàYukl (2013) cho rằng nhà lãnh đạo là những người giữ vị trí(chức vụ) trong doanh nghiệp, và họ được kỳ vọng để thực hiện chức năng lãnh đạotrong doanh nghiệp

Nguyễn Thị Thu Trang (2016), Trong doanh nghiệp, nhà lãnh đạo được xác định

từ vị trí, nhiệm vụ và hoạt động của họ đối với doanh nghiệp Nhà lãnh đạo thường làngười có vị trí dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo mà họ đảm nhiệm trong doanh nghiệp Họduy trì và phát triển doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh, ảnh hưởng đến

Trang 36

tính hiệu quả của tài chính, cách phát sinh tiền lời cho đơn vị, nâng cao năng suất vàhiệu quả lao động, sự hài lòng của nhân viên và khách hàng.

Từ những phân tích trên, đề tài cho rằng“nhà lãnh đạo chính là người giữ chức

vụ trong doanh nghiệp, thực hiện chức năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp thông qua ảnh hưởng đến người khác”.Nhà lãnh đạo có

thể xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.Ở cấp độ toàn bộdoanh nghiệp thì có tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc hoặc tương đương là nhàlãnh đạo Ở cấp độ phòng/ ban thì có trưởng phòng/ ban, phó trưởng phòng/ ban hoặctương đương là nhà lãnh đạo Ở cấp độ tổ nhóm thì có tổ trưởng/ trưởng nhóm hoặctương đương là nhà lãnh đạo.Chi tiết về các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp được

trình bày trong mục 2.1.3 trang 36.

Theo Gardner, J.W., (1988), nhà lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Xác định tầm nhìn và thiết lập mục tiêu

- Xây dựng giá trị bản thân Nhà lãnh đạo trong tổ chức và trong nhóm phải quan

tâm đến việc khẳng định giá trị bản thân Giá trị này không chỉ thể hiện ở nhữngtuyên bố bằng lời nói, mà còn trong các quyết định chính sách mà họ đã đưa ra,cũng như là cách thức nhà lãnh đạo thực hiện các chính sách đó

- Động viên nhân viên Nhà lãnh đạo cần thực hiện chức năng động viên, theo đó

nhà lãnh đạo sẽ tạo ra bầu không khí để nhân viên có niềm tự hào trong việcđóng góp quan trọng trong việc đạt được muc tiêu chung của doanh nghiệp

- Lập kế hoạch và thiết lập ưu tiên; tổ chức và xây dựng thể chế; giữ hệ thống

hoạt động; thiết lập chương trình nghị sự và ra quyết định; và thực thi phán xétchính trị

- Liên kết giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và liên kết giữa doanh nghiệp với

hệ thống bên ngoài Ngày nay, các nhà lãnh đạo phải thường xuyên đối với phóxung đột nội bộ và cả bên ngoài doanh nghiệp Nhà lãnh đạo sống trong môitrường thế giới tương tác, có sự tác động lẫn nhau Do đó, nhà lãnh đạo cầnphải dành xây dựng cộng đồng, giải quyết sự phân cực, tạo sự liên kết chặt chẽ

cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

- Hướng dẫn nhân viên.

Trang 37

- Thực hiện vai trò đại diện Nhà lãnh đạo là người đại diện cho doanh nghiệp,

nhà lãnh đạo thường nắm được nhu cầu và mục tiêu của doanh nghiệp trong bốicảnh rộng, và do đó họ hành động phù hợp với mục tiêu và định hướng củadoanh nghiệp

- Thực hiện sự thay đổi phù hợp với sự thay đổi của môi trường, đồng thời vẫn

bảo tồn được các giá trị sâu sắc của công ty, đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp

Bên cạnh khái niệm về nhà lãnh đạo, khái niệm về nhà quản lý cũng gây ra nhiềutranh luận giống như định nghĩa về lãnh đạo, sự khác nhau giữa lãnh đạo và quảnlýcũng đang là một vấn đề tranh cãi lớn

Một số tác giả (Bennis và Nanus, 1985; Zaleznik, 1977)cho rằng, sự lãnh đạo và

sự quản lý là khác nhau về chất và loại trừ lẫn nhau, và thậm chí sự khác biệt lớn nhấtgiả định rằnglãnh đạo và quản lý không thể xảy ra trong cùng một người Theo các tácgiả này, nhà lãnh đạo và nhà quản lý khác nhau về giá trị và tính cách.Nhà quản lý coitrọng sự ổn định, trật tự và hiệu quả, và chúng thương mang tính cá nhân, không thíchrủi ro và thường tập trung vào kết quả ngắn hạn Nhà lãnh đạo coi trọng sự linh hoạt,đổi mới, và thích ứng, họ quan tâm đến kết quả con người cũng như kinh tế, và họthường có viễn cảnh dài hạn về mục tiêu và chiến lược.Zaleznik (1977) cho rằng, nhàquản lý quan tâm về cách thức công việc được thực hiện, trong khi đó nhà lãnh đạo thìquan tâm đến những gì có ý nghĩa với con người Bản chất của sự khác biệt là nhà lãnhđạo ảnh hưởng đến sự cam kết, trong khi đó nhà quản lý chỉ đơn thuần là người thựchiện trách nhiệm ở vị trí công tác và thực thi quyền lực.Bennis and Nanus (1985) chorằng, nhà quản lý là người làm việc đúng cách và nhà lãnh đạo là người làm nhữngviệc đúng

Ở một góc độ khác, Kotter (1990) và Zaleznik (1977) cho rằng, mặc dù sự lãnhđạo và quản lý có một số điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều sự khác biệt Tươngđồng ở điểm cả nhà lãnh đạo và nhà quản lý đều liên quan đến việc thiết lập sự chỉdẫn, sắp xếp nguồn lực và động viên con người.Về sự khác biệt, các nhà quản lý thựchiện hoạch định và xây dựng ngân sách, trong khi nhà lãnh đạo thiết lập sự chỉ dẫn;nhàquản lý có mục đích hẹp và cố gắng duy trì trật tự, ổn định công việc và tổ chức nguồnlực, trong khi nhà lãnh đạo tìm kiếm phát triển những mục tiêu mới và phát triển tổ

Trang 38

chức;nhà quản lý kiểm soát và giải quyết vấn đề, trong khi nhà lãnh đạo tạo động lực

và truyền cảm hứng

Một số tác giả (Bass, 1990; Hickman, 1990; Kotter, 1988; Mintzberg, 1973;Rost, 1993)không cho rằng nhà lãnh đạo và nhà quản lý là những loại người khácnhau, họxem lãnh đạo và quản lý như các quá trình hoặc vai trò khác biệt, nhưng haiquá trình này khác nhau như thế nào thì tùy thuộc vào tác giả.Điển hình, TheoMintzberg (1973), lãnh đạo là một trong 10 vai trò của quản lý,lãnh đạo bao gồm sựđộng viên cấp dưới, tạo ra điều kiện thuận lợi để thực hiện công việc Kotter (1990)cho rằng quản lý tìm cách tạo ra khả năng dự đoán và trật tự, trong khi đó lãnh đạo tìmcách tạo ra sự thay đổi trong tổ chức.Cả hai vai trò đều cần thiết, và vấn đề quan trọnglúc này là phải duy trì được một sự cân bằng thích hợp, nếu không thì vấn đề sẽ xảy ra.Quá nhấn mạnh đến vai trò quản lý có thể ngăn cản việc đương đầu với mạo hiểm, tạo

ra sự quan liêu mà không có mục tiêu rõ ràng Quá nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo cóthể phá vỡ trật tự và tạo ra sự thay đổi không thực tế Theo Kotter (1990), tầm quantrọng của lãnh đạo và quản lý phụ thuộc một phần vào tình huống.Với một tổ chức lớnhơn và phức tạp hơn, quản lý trở nên quan trọng hơn.Khi môi trường bên ngoài năngđộng và không chắc chắc, lãnh đạo trở nên quan trọng hơn.Cả hai vai trò đều quantrọng đối với nhà quản trị trong một tổ chức lớn với môi trường năng động Khi Kotterthực hiện khảo sát các công ty lớn trong môi trường năng động, thì ông thấy rằng rất ítnhà quản trị có thể thực hiện hiệu quả đồng thời cả hai chức năng này.Rost (1993) địnhnghĩa quản lý như là mối quan hệ quyền lực tồn tại giữa một nhà quản lý và ngườithừa hành để sản xuất và bán sản phẩm và dịch vụ Lãnh đạo như là mối quan hệ ảnhhưởng đa chiều giữa nhà lãnh đạo và nhân viên với mục tiêu chunglà đạt được sự thayđổi thực sự Nhà lãnh đạo và người theo sau ảnh hưởng lẫn nhau khi họ tương tác vớinhau trong những cách không bắt buộc để quyết địnhhọ muốn thay đổi gì Nhà quản trị

có thể là nhà lãnh đạo, nhưng chỉ khi họ có mối quan hệ ảnh hưởng này.Rost (1993)cho rằng lãnh đạo thì không cần thiết cho một nhà quản trị hiệu quả trong sản xuất vàbán hàng hóa - dịch vụ Tuy nhiên, lãnh đạo thì cần thiết khi tổ chức cần thực hiệnnhững sự thay đổi lớn, bởi vì quyền lực hiếm khi đủ cơ sở để đạt được cam kết từ cấpdưới hoặc gây ảnh hưởng đến những người cần hợp tác như đồng nghiệp, người bênngoài doanh nghiệp

Trang 39

Kotterman (2006)cho rằng rất hiếm khi con người có những kỹ năng để đáp ứngnhư là một nhà lãnh đạo truyền cảm hứng và một nhà quản lý chuyên nghiệp Đại đa

số trong các tổ chức phức tạp, hai vai trò khác nhau này rất khó để đồng hóa trong mộtngười, và có xu hướng thiết lập một tập hợp các kỹ năng lãnh đạo để quản lý nơi làmviệc

Trong khi đó, Gardner (1990)viết rằng, khái niệm nhà quản lý thường đề xuấtmột cá nhân, người giữ vị trí hướng dẫn trong một tổ chức, là một người tổ chức cácchức năng, sử dụng nguồn lực và tạo ra sự sử dụng tốt nhất của con người Tuy nhiên,khi so sánh với nhà lãnh đạo, nhà quản lý tại nơi làm việc thì thường chung chung.Khác với Kotter (1990) và Zaleznik (1977), Gardner (1990) cho rằng sự khác nhaugiữa nhà lãnh đạo và nhà quản trị là không phân biệt.Nhà lãnh đạo – nhà quản lý thìliên quan đến suy nghĩ dài hạn, phát triển tầm nhìn của tổ chức, đạt được mục tiêu vàgiá trị dài hạn, và động viên những người khác

Theo Mintzberg (2009),thayvì cố gắng chỉ ra sự khác biệt giữa nhà lãnh đạo vànhà quản lý, chúng ta nên khuyến khích tất cả những nhà quản lý là những nhà lãnhđạo, và nên định nghĩa sự quản lý như là sự lãnh đạo

Theo Yukl (2013),hầu hết các học giả dường như đồng ý rằng thành công nhưmột nhà quản lý hoặc một nhà quản trị trong tổ chức hiện đại cũng có liên quan đếnlãnh đạo Chính vì vậy, vấn đề làm thế nào để tích hợp hai quy trình này đã nổi lênnhư một vấn đề quan trọng và phức tạp trong nghiên cứu về tổ chức.Sự lãnh đạo và sựquản lý là tương đương và đồng nghĩa nhau, vì nó liên quan đến trách nhiệm giám sát,đào tạo và phát triển kỹ năng của người khác (Yukl và Lepsinger, 2005), và nhà lãnhđạo và nhà quản lý có thể được sử dụng thay thế cho nhau (Yukl 2013; Kehinde vàcộng sự 2012; Kalargyrou, V., 2009)

Những phân tích trên cho thấy, sự khác nhau giữa lãnh đạo và quản lý, nhà lãnhđạo và nhà quản lý rất là khác nhau, chưa thống nhất và tùy thuộc vào tác giả

Đồng quan điểm với Mintzberg (2009), Yukl (2013), Kehinde và cộng sự (2012),

và Kalargyrou, V., (2009), luận án cho rằng tất cả những nhà quản lý là những nhàlãnh đạo, và nên định nghĩa sự quản lý như là sự lãnh đạo,và khái niệm về nhà quản lý

và nhà lãnh đạo được sử dụng thay thế cho nhau trong luận án này

2.1.2 Khái niệm kỹ năng lãnh đạo

Trang 40

Trên thế giới, Katz (1955)cho rằngkỹ năng là khả năng biến kiến thức thành hànhđộng, Katz (1955) nhấn mạnh một kỹ năng là một khả năng, và khả năng có thể đượcphát triển thông qua học tập và thực hành, không nhất thiết là bẩm sinh, và đượcchứng minh trong thực hiện công việc, chứ không đơn thuần là tiềm năng TheoAttewell (1990),kỹ năng là một khái niệm mơ hồ và phức tạp, kỹ năng bao gồm sựthông thạo về thể chất và tinh thần, cũng như sự khéo léo về thể chất.Kỹ năng khôngchỉ là khả năng làm điều gì đó, mà nó còn hàm ý gợi lên hình ảnh về chuyên môn.TheoHiệp hội Quản lý nguồn nhân lực (2008), kỹ năng là khả năng thực hiện một hoạt độngthuộc về trí tuệ mà góp phần vào thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ công việc.TheoNahavandi (2000),một kỹ năng được định nghĩa là một tài năng có được mà một ngườiphát triển liên quan tới một nhiệm vụ cụ thể.Theo Yukl (2013), kỹ năng là khả năngthực hiện một cái gì đó bằng một cách hiệu quả Kỹ năng có thể được hình thành thôngqua học hỏi và di truyền.Theo từ điển Oxford, kỹ năng là khả năng làm tốt điều gì đó.Tại Việt Nam, theo Đỗ Anh Đức (2014), kỹ năng là khả năng, mức độ thành thạo

để tiến hành một hoạt động nhất định thông qua quá trình ứng dụng các kiến thức cóđược để hoàn thành nhiệm vụ được giao Ngoài ra, kỹ năng là khả năng thực hiện côngviệc, biến kiến thức thành hành động (Lê Quân, Nguyễn Quốc Khánh 2012; Lê ThịPhương Thảo 2016) Theo Tra từ (hệ thống từ điển online), kỹ năng là khả năng vậndụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thựctế

Từ những nghiên cứu về kỹ năng và nhà lãnh đạo như trên, luận án cho rằng:“kỹ năng lãnh đạo chính là khả năng thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động của nhà lãnh đạo, thể hiện sự thành thạo của người lãnh đạo khi vận dụng kiến thức có được vào trong thực tế thực hiện chức năng lãnh đạo nhằm đạt được mục tiêu

đã đề ra”.Nhà lãnh đạo tại các doanh nghiệp phải thực hiện nhiều chức năng và nhiệm

vụ khác nhau nên cần có nhiều kỹ năng khác nhau

2.1.3 Các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp, nhà lãnh đạo thường được phân chia thành 3 cấp: nhà lãnhđạo cấp cao, nhà lãnh đạo cấp trung và nhà lãnh đạo cấp cơ sở

- Nhà lãnh đạo cấp cao: là những nhà lãnh đạo hoạt động ở cấp bậc cao nhất trong

một doanh nghiệp Họ chịu trách nhiệm về những thành quả cuối cùng của một tổ

Ngày đăng: 03/06/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Bình (2010), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thốngkê
Năm: 2010
6. Đỗ Anh Đức, 2014, Nâng cao năng lực quản lý của giám đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản lý của giám đốc doanh nghiệp nhỏ vàvừa trên địa bàn Hà Nội
7. Quốc Hội, 2014, Luật doanh nghiệp, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp
11. Quang Nam, 2019, Vinatex: Phát triển chiều sâu cho tăng trưởng toàn diện, Dệt may và thời trang Việt Nam, số 369 tháng 5/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vinatex: Phát triển chiều sâu cho tăng trưởng toàn diện
12. Nguyễn Văn Ngọc, 2006, Từ điển Kinh tế học, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Kinh tế học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốcdân
13. Ngô Quý Nhâm, 2014, Những yêu cầu về năng lực lãnh đạo với giám đốc điều hành ở Việt Nam, Tạp chí KTĐN, Số 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu về năng lực lãnh đạo với giám đốc điềuhành ở Việt Nam
14. Bùi Xuân Phong (2004), Phân tích hoạt động kinh doanh. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Bùi Xuân Phong
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
15. Trần Thị Thu Phong (2012), Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong cáccông ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Thu Phong
Năm: 2012
16. Đoàn Ngọc Phúc (2014), Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Ngọc Phúc
Năm: 2014
17. Lê Quân – Nguyễn Quốc Khánh, 2012, Đánh giá năng lực giám đốc điều hành doanh nghiệp nhỏ Việt Nam qua mô hình ASK, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực giám đốc điều hànhdoanh nghiệp nhỏ Việt Nam qua mô hình ASK
18. Nguyễn Minh Tâm, 2014, Mối quan hệ giữa lãnh đạo ba chiều và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa lãnh đạo ba chiều và kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp. Trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam
22. Nguyễn Văn Thắng, 2015, Thực hành nghiên cứu trong kinh tế và quản trị kinh doanh, Trường Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành nghiên cứu trong kinh tế và quản trị kinhdoanh
23. Lê Thị Phương Thảo, 2016, Nghiên cứu năng lực lãnh đạo của giám đốc các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực Bắc miền Trung, Luận án Tiến sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Huế - Đại học Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng lực lãnh đạo của giám đốc các doanhnghiệp nhỏ và vừa khu vực Bắc miền Trung
2. Bộ Công thương (2014), Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
3. Ngô Thế Chi – Nguyễn Trọng Cơ (2008), Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài Chính Khác
4. Nguyễn Văn Công (2005), Chuyên khảo về báo cáo tài chính và lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Văn Công (2009), Giáo trình Phân tích kinh doanh, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
8. Đặng Thị Hương (2010), Áp dụng thẻ điểm cân bằng tại các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQGHN Khác
9. Nguyễn Thị Mai Hương (2008), Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, Luận án Tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 10. Huỳnh Đức Lộng (1999), Hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNhà nước, Luận án Tiến Sỹ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w