CAC PHƯƠNG PHAP xếp HẠNG TIN DỤNG DOANH NGHIỆP điển HINH TREN THẾ GIỚI
Trang 1CAC PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI - PHẦN 1
( Rating.com.vn - Friday 11.11.11 10:49 pm )
Xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả
nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp xếp hạng tín dụng chính là mô hình toán học và phương pháp chuyên gia:
1 Mô hình toán học xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
Trước khi quyết định đánh giá tín nhiệm và ước lượng rủi ro tín dụng phát triển thành những mô hình toán học và thống kê, việc cấp tín dụng hoàn toàn dựa trên phương pháp xét đoán Phương pháp này sử dụng mọi loại thông tin liên quan đến khách hàng mà các chuyên viên tín dụng thấy cần thiết và dùng các phán đoán chủ quan để đánh giá rủi ro
Phương pháp xét đoán do vậy có nhiều thiếu sót Đầu tiên, phương pháp không đáng tin cậy vì nó phụ thuộc vào cách thức của mỗi chủ nợ; thứ hai, quyết định có thể thay đổi từ người này sang người khác nên khó tranh luận và truyền thụ; thứ ba là không thể giải quyết với số lượng lớn hoặc phải duy trì một hệ thống chuyên viên phân tích chi phí cao
Vì vậy, khi có sự phát triển của khoa học thống kê, những phương pháp phân tích, phân lớp và dự báo nhanh chóng được ứng dụng và đã bổ sung hiệu quả cho phương pháp truyền thống, từ lượng hóa các chỉ tiêu đến dự báo rủi ro tín dụng Hiện nay, các ứng dụng thống kê trong xếp hạng tín nhiệm lại đang chuyển mình từ mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro tín dụng sang mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ nợ (chủ yếu là các ngân hàng)
1.1 Chỉ số Z của Edward I Altman
Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I Altman (1968), Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA)
Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:
X1= Vốn luân
Trang 2chuyển
Tổng tài sản
Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1
X2 =
Lợi nhuận giữ
lại
Tổng tài sản
Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian
Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận Theo một nghiên cứu của Dun radstreet (1993), khoảng 5 công ty phá sản chỉ hoạt động trong 5 năm
X3 =
EBIT
Tổng tài
sản
Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó Vì vậy, tỷ số này, theo Atlman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lợi
X4 =
Giá thị trường của vốn cổ
phần
Giá sổ sách của nợ
Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi
Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công
ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đây là một phiên bản đã được sửa đổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của trái phiếu (1959) Nếu tỷ số này thấp hơn 1 3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao
Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị sổ sách của vốn cổ phần
X5 = Doanh thu
Tổng tài sản
Đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác
Trang 3 Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao
X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau
Một số nghiên cứu vào thập niên 196 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là tỷ số rất tốt
để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòng tiền và khấu hao của các doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số Z của Altman không bao gồm các tỷ số có liên quan đến dòng tiền Điều này khá phù hợp với thực trạng về thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hơn nữa chỉ số Z đã được sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác 95 đối với mẫu dữ liệu) và nhiều nước khác thì rất có thể cũng sẽ thực hiện tốt tại Việt Nam trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay dự báo phá sản
Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5
Nếu Z >2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Nếu 1.8< Z <2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z' = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
Nếu Z' > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Nếu 1.23 < Z' < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
Nếu Z' <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao
Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp
Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra
Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
Nếu Z" >2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Nếu 1.2 < Z" < 2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ
Trang 4phá sản
Nếu Z <1.1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao
Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 7 công ty để cho
ra chỉ số Z" điều chỉnh:
Z"điều chỉnh = 3.25 + Z" = 3.25 + 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1 5X4
Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S P Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp chuyên gia
Nguồn: Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm"
Để xem xét chỉ số Z hoạt động như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam, tác giả lấy ví
dụ về Công ty cổ phần ông ạch Tuyết ( T) - công ty niêm yết điển hình có nhiều triệu chứng đang trước ngưỡng phá sản trong năm qua (Tháng 7 2 8, Ngân hàng Hàng hải Việt Nam bắt đầu gửi thông báo nợ quá hạn đến T)
T đã cổ phần hóa từ năm 1997 và là công ty sản xuất nên áp dụng công thức:
Vì trong hai năm 2 6 và 2 7, các cổ đông không biết là T bị lỗ, cộng với tính
Trang 5không hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nên giá cổ phiếu vẫn gia tăng theo thị trường Nếu giá thị trường không thay đổi gì so với năm 2 5 thì chỉ số Z năm 2 6
và 2 7 lần lượt là 1.64 và 1 4, tức là chỉ số Z giảm dần từ 2.41 điểm (2 2) đến -0.41 điểm (2 8)
Từ kết quả này, cho thấy, chỉ số Z phản ánh gần sát với tình trạng thực tế mà T đang gánh chịu và cũng minh chứng phần nào tính hữu dụng của chỉ số Z nói riêng và mô hình toán học dự báo phá sản nói chung tại Việt Nam Tuy nhiên, để ứng dụng tốt vào thực tế thì chỉ số Z hay các mô hình định lượng phải được hiệu chỉnh, được xây dựng trên dữ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam, qua kiểm định cụ thể thì hiệu quả mới chính thức được công nhận và nâng cao
1.2 Chỉ số Zeta
Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 9 trước khi phá sản 1 năm
và chính xác trên 7 từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ các trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:
X1 = EBIT
Tổng tài sản
Tổng tài sản không bao gồm các lợi thế thương mại và tài sản vô hình trong các biến số
X2 = Mức ổn định thu nhập
Chỉ tiêu này đo lường sai số chu n trong xu hướng của X1 trong vòng 5 đến 1 năm Rủi ro kinh doanh thường được biểu hiện thông qua sự dao động của thu nhập nên biến số này t ra có hiệu quả đặc biệt
Trang 6 ên cạnh đó, Altman cũng đánh giá thông tin chứa đựng trong một vài biến số tương tự để đo lường những rủi ro có thể xảy ra đối với công ty Những biến số này có ý nghĩa nhưng nó không được đưa vào mô hình
X3 = EBIT
Lãi vay
Tỷ số này được chuyển sang thước đo log cơ số 1 để chu n hóa và làm cho khác biệt giữa các tỷ số không quá lớn
Lãi vay bao gồm lãi phải trả cho các tài sản thuê ngoài
X4 = Lợi nhuận giữ lại
Tổng tài sản
X5 = Tài sản lưu động
Tổng tài sản
X6=
Vốn cổ phần
thường
Tổng vốn
Vốn cổ phần thường được tính bằng giá trị thị trường bình quân trong thời gian 5 năm
Tổng vốn = Vốn cổ phần thường + cổ phần ưu đãi + nợ + tài sản thuê ngoài đã được vốn hóa
X7 = Quy mô (tổng tài sản)
iến số này được điều chỉnh tùy theo những thay đổi trong báo cáo tài chính
Quy mô tài sản cũng được chuyển sang thước đo log cơ số 1 để chu n hóa phân phối của biến
Mô hình này được nhiều ngân hàng ở các nước áp dụng và phát triển thành các mô hình khác để xếp hạng khách hàng đi vay như mô hình mạng nơ ron thần kinh (neural network), mô hình dựa trên mức tăng giá thị trường
2 Phương pháp chuyên gia
Nghiên cứu thực nghiệm của ina Lehmann (2 3) với 2 , quan sát trong dữ liệu tín dụng doanh nghiệp vừa và nh của Đức, nhằm giải quyết vần đề mà theo cách diễn đạt của ông là: các nhân tố mềm có thật sự cải thiện khả năng dự báo của hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ ở các ngân hàng mà đã được xử lý dựa trên các nhân tố cứng hay chưa? Các nhân tố mềm là các thông tin định tính, các điều chỉnh chủ quan của chuyên viên phân tích tín dụng; các nhân tố cứng là các tỷ số tài chính và dữ liệu tài khoản thanh toán
Trang 7của công ty vay nợ Lehman so sánh hai mô hình hồi quy Logistic: một không bao gồm các nhân tố mềm, hai bao gồm các nhân tố mềm và kết quả cho thấy các nhân tố mềm thật sự có thể cải thiện khả năng dự báo mức tín nhiệm của các công ty Và đây cũng là cách mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới đang sử dụng: kết hợp các nhân tố mềm với các nhân tố cứng
2.1 Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch
Fitch xếp hạng doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định lượng Phương pháp phân tích của Fitch bao gồm phân tích dữ liệu tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm Mục tiêu chủ yếu trong cách tiếp cận của Fitch là phân tích so sánh mà Fitch sử dụng để đánh giá sức mạnh của mỗi doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh trong mối quan hệ với các doanh nghiệp khác trong cùng một nhóm các doanh nghiệp tương đồng Thêm vào đó, phân tích độ nhạy cũng được thực hiện thông qua một vài kịch bản để đánh giá khả năng của doanh nghiệp khi đương đầu với những thay đổi trong môi trường kinh doanh Một nhân tố xếp hạng then chốt theo Fitch là tính linh hoạt tài chính mà nó dựa phần lớn vào khả năng tạo ra dòng tiền tự do từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích định tính gồm có phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp trong ngành, năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán
Rủi ro ngành: Fitch xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp trong bối cảnh chung của ngành mà nó hoạt động Những ngành tăng trưởng thấp, cạnh tranh ở mức cao, đòi h i vốn lớn, có tính chu kỳ hay không ổn định thì rủi ro vốn có sẽ lớn hơn các ngành ổn định với ít đối thủ cạnh tranh, rào cản gia nhập ngành cao, nhu cầu có thể dự báo dễ dàng
Môi trường kinh doanh: Fitch khảo sát tỉ mỉ những rủi ro và cơ hội có thể tác động đến ngành từ sự thay đổi tập quán tiêu dùng, dân số, khoa học kỹ thuật Ví dụ, kết cấu dân
số ngày càng già đi cho thấy một sự sụt giảm trong triển vọng ngành bán lẻ và một sự gia tăng triển vọng của ngành dịch vụ tài chính
Vị thế công ty: một vài nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sự xuất hiện các sản ph m thay thế, khả năng mặc cả với người mua và người bán Để duy trì vị thế của mình các công ty phải dựa vào
sự đa dạng hóa sản ph m, bán hàng trải đều khắp các khu vực, đa dạng hóa khách hàng
và người cung ứng, quản lý tốt chi phí sản xuất
Về năng lực của ban quản trị: các đánh giá về chất lượng quản trị thường mang tính chủ quan do đây là một yếu tố định tính Nên người ta thường thông qua các chỉ tiêu tài chính
để làm thước đo năng lực ban quản trị, điều này sẽ khách quan và dễ so sánh hơn Fitch cũng đánh giá thành tích của ban quản trị thông qua khả năng tạo ra sự hài hòa về mọi
Trang 8mặt trong doanh nghiệp, duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh và củng cố vị thế công ty trên thị trường
Về kế toán: mục tiêu của phân tích kế toán là nghiên cứu chính sách kế toán như nguyên
lý kế toán, phương pháp định giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao, nhận diện thu nhập, cách xử lý tài sản vô hình và kế toán ngoài bảng Sau đó điều chỉnh và trình bày lại báo cáo tài chính của doanh nghiệp để có thể so sánh với các công ty khác, tránh xảy ra tình trạng khác biệt về chính sách kế toán
Phân tích định lượng
Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo (coverage) và đòn b y Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cung cấp cho doanh nghiệp sự đảm bảo rủi ro tín dụng nhiều hơn là từ nguồn tài trợ bên ngoài Và Fitch quan tâm tới phân tích xu hướng của một nhóm các tỷ số hơn việc phân tích bất kỳ một tỷ số riêng lẻ nào
Fitch sử dụng một cách đa dạng các thước đo định lượng về dòng tiền, thu nhập, đòn b y
và các khoản đảm bảo nợ để đánh giá rủi ro tín dụng Fitch cũng nhấn mạnh vai trò của EBITDA - một thước đo quan trọng về khả năng tạo ra thu nhập chưa tính đến đòn b y tài chính và được sử dụng phổ biến trong quá trình định giá Sau đây là những thước đo chính mà Fitch dùng để phân tích rủi ro tín dụng :
Trang 92.2 Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của S&P
Cũng như Fitch, phương pháp xếp hạng của S P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng S P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong quá khứ Về phân tích khả năng sinh lợi, theo tiêu chu n xếp hạng doanh nghiệp 2 6, là một phần trong bước phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp nhưng theo tiêu chu n xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp 2 8, S P nhấn mạnh khả năng sinh lợi như một phần của bước đánh giá rủi ro kinh doanh và năng lực cạnh tranh
Trong quy trình xếp hạng, S P không phân loại theo tính chất của dữ liệu mà phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Trang 10Rủi ro kinh doanh bao gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh vị thế doanh nghiệp trong ngành lợi thế kinh tế, khả năng sinh lợi trong sự so sánh với các doanh nghiệp khác trong nhóm tương đồng S P nhấn mạnh nhân tố chính trong rủi ro kinh doanh là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vì các vấn đề phân tích trong rủi ro kinh doanh hay trong phân tích định tính của Fitch, S P và Moody's hầu hết là giống nhau nên sẽ không được nhắc lại
Rủi ro tài chính gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách và thông tin kế toán, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán ngắn hạn Để đánh giá khả năng trả nợ, S P đưa ra một số tỷ số chính để phân tích:
2.3 Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Moody's