Trong năm 2019, Luật chứng khoán sửa đổi và Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi đã được Quốc hội thông qua, cùng với đó là Quyết định số 242/QĐ-TTg 2019 phê duyệt Đề án cơ cấu lại TTCK và b
Trang 1THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2019 VÀ TRIỂN VỌNG 2020
Năm 2019, hệ thống tài chính Việt Nam đã làm tốt chức năng cung ứng và phân
bổ vốn cho nền kinh tế nhờ môi trường vĩ mô ổn định, thanh khoản dồi dào và diễn biến tích cực của thị trường vốn Hoạt động của thị trường tài chính ổn định với việc các ngân hàng ngày càng đáp ứng tốt hơn các chuẩn mực về quản trị và kết quả kinh doanh khả quan hơn Xu hướng tài chính số đem lại những thay đổi nhanh chóng cho mọi mặt hoạt động của ngành tài chính - ngân hàng, tạo nên diện mạo mới, cơ hội và thách thức cho hệ thống tài chính trong tương lai…v.v Bài viết tập trung vào: (i) những kết quả nổi bật, thách thức, tồn tại; (ii) xu hướng thị trường tài chính năm 2020, và (iii) một số kiến nghị.
1 Thị trường tài chính Việt Nam năm 2019
Mặc dù trong năm 2019 nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, rủi ro và bất ổn, nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực Tăng trưởng GDP dự kiến đạt 7%, lạm phát được kiểm soát dưới 3%, thâm hụt ngân sách giảm về mức khoảng 3,5% GDP, tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài/GDP giảm dần, hoạt động xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài khả quan, tỷ giá ổn định, lãi suất có xu hướng giảm nhẹ Trong bối cảnh đó, hệ thống tài chính vừa là nhân tố quan trọng đóng góp vào thành công chung, vừa nhận được động lực để phát triển với nhiều kết quả nổi bật, nhưng vẫn còn tồn tại những vấn đề then chốt cần giải quyết trong thời gian tới
1.1 Những kết quả đáng khích lệ
Trước hết là ba lĩnh vực thuộc thị trường tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) đều có mức tăng trưởng khá (trên 10%) và lành mạnh hơn Khu vực chứng
khoán tăng trưởng tốt giúp cơ cấu hệ thống tài chính cân bằng hơn Tính đến cuối tháng
11/2019, quy mô vốn hoá thị trường cổ phiếu đã đạt hơn 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cuối năm 2018, tương đương 80% GDP, vượt chỉ tiêu 70% GDP đề ra tại Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Dù vậy, đến
hết ngày 18/12/2019, chỉ số chứng khoán VNindex chỉ tăng khá khiêm tốn, tăng 7,25%
so với đầu năm, chứng tỏ niềm tin của nhà đầu tư còn chưa vững chắc và hoạt động của một số lĩnh vực, ngành (như nông nghiệp, khoáng sản, phân bón, thép…v.v.) còn khó khăn
Hình 1: Chỉ số TTCK các nước hết ngày 20/12/2019 so với đầu năm
Trang 2ex
Kosp
i (Ko
rea)
PSEi
hil)
Nikk
ei 30
0
India
BSE
Shan
ghai
Comp
DJ A
sia P
acifi
c
DJIA
S&P 5
00
7.250%
-1.820% .580%
7.990%
4.680%
4.110%
27.460%
21.280%22.930%
34.510% 28.500%
Nguồn: Bloomberg, WSJ (2019).
Về huy động vốn từ TTCK, theo UBCK, tổng mức huy động vốn từ thị trường cổ
phiếu đạt 242 ngàn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm và dự báo đạt khoảng 300 ngàn tỷ đồng cả năm 2019 Ngoài ra, đến hết tháng 10/2019, nhà đầu tư ngoại mua ròng khoảng 16 ngàn tỷ đồng trên cả 2 thị trưởng cổ phiếu và trái phiếu.
Đặc biệt, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) có khối lượng phát hành khá
ấn tượng là 237 nghìn tỷ đồng đến hết tháng 11/2019 (tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018) Quy mô thị trường TPDN đến nay đạt khoảng 10% GDP (cao hơn mức 8,6% GDP của năm 2018), vượt mục tiêu 7% GDP năm 2020 của Chính phủ Trong khi đó, đến hết tháng 11/2019, quy mô thị trường TPCP tương đương 25% GDP Kết quả này giúp tỷ lệ
vốn hóa 2 thị trường cổ phiếu và trái phiếu đạt mức khoảng 115% GDP (vượt kế hoạch
100% GDP đến năm 2020 của Chính phủ)
Đồng thời, TTCK năm 2019 đón nhận một số sản phẩm mới như chứng quyền
bảo đảm (covered warrants), hợp đồng tương lai TPCP… góp phần đa dạng hóa kênh đầu
tư, kinh doanh và kiểm soát rủi ro
Trong khi đó, khu vực các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng trưởng khá tốt và chuẩn mực hơn Theo số liệu mới nhất của NHNN, đến hết tháng 11/2019, tín dụng tăng
khoảng 11,5%, cả năm 2019, ước tăng khoảng 13% Bước điều chỉnh lại trong nhịp tăng trưởng tín dụng năm 2019 được đánh giá là cần thiết sau những năm tăng trưởng nóng vừa qua với mức tăng bình quân 15-16%/năm và tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên đến 133% cuối năm 2018 (tương đối cao so với mức độ phát triển và thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam)
Quy mô khu vực bảo hiểm còn nhỏ bé song tốc độ tăng trưởng tốt Theo Hiệp
hội Bảo hiểm, đến hết tháng 11/2019, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 456.823 tỷ đồng, tăng 20,2% so với đầu năm; đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 379.240 tỷ đồng, tăng 20%; tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 140.911 tỷ đồng, tăng 20,5% so với đầu năm
Cùng với sự phát triển tích cực của thị trường tài chính truyền thống, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và theo mô hình mới cũng có những bước phát triển nhanh.
Đặc biệt, bốn năm qua Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các công ty công
Trang 3nghệ tài chính (Fintech), từ số lượng 40 Fintech năm 2016 lên 154 Fintech đến tháng
6/2019, với giá trị giao dịch thị trường Fintech từ mức 4,4 tỷ USD lên khoảng 9 tỷ USD năm 2020 (theo HCA) Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghệ, viễn thông (gọi tắt là
Bigtech) cũng bắt đầu triển khai dịch vụ thanh toán và sẽ phát triển mạnh khi sản phẩm
tiền di động (Mobile Money) được cấp phép, sẽ cạnh tranh trực tiếp và hợp tác với trung gian tài chính truyền thống, tạo hệ sinh thái và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tại Việt Nam
Hai là các yếu tố vĩ mô về tài khóa, tiền tệ đã và đang được củng cố, với những tấm đệm (buffer) vững chắc hơn, được quốc tế ghi nhận Trong năm 2019, lãi suất liên
ngân hàng nhìn chung ổn định với xu hướng đi xuống là chủ yếu Lãi suất cho vay cơ bản
ổn định, lãi suất huy động có xu hướng tăng nhẹ trong 10 tháng đầu năm và đồng loạt giảm nhẹ sau động thái hạ trần lãi suất huy động của NHNN vào tháng 11/2019 Tỷ giá
tiếp tục ổn định, giá trị đồng VND được nâng cao, đến hết ngày 20/12/2019, tỷ giá giao dịch gần như không thay đổi, tỷ giá trung tâm tăng 1,45% so với đầu năm Dự trữ ngoại
hối cao kỷ lục (ở mức khoảng 73 tỷ USD vào cuối tháng 10/2019, tương đương khoảng 15,5 tuần nhập khẩu) Khu vực TCTD cơ cấu lại tín dụng theo hướng tăng trưởng tín dụng tập trung vào các ngành sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và giảm tín dụng vào những ngành rủi ro Đồng thời, Chính phủ đã kiểm soát khá tốt các yếu tố làm gia tăng nợ công bao gồm giảm bội chi ngân sách từ mức cao 6,28% GDP năm 2015 và 5,52% năm 2016 xuống khoảng 3,4% GDP cuối năm 2019) Năm 2019 tỷ lệ nợ công/GDP khoảng 56,1%, giảm so với mức 62-64% giai đoạn 2016-2018 Nhờ đó, xếp hạng thị trường tài chính Việt Nam năm 2019 tăng 3,5 điểm và tăng 10 bậc (theo WEF)
Hình 2: Xếp hạng hệ thống tài chính của các nước ASEAN và Hàn Quốc năm 2019
0 20
40
60
80
100
120
98 88 58
15
2
97
16
43 18
60
Trang 4Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF (2019).
Ba là, hệ thống tài chính hoạt động ngày càng lành mạnh, an toàn, chuẩn mực hơn và tiệm cận thông lệ quốc tế Đến nay, đã có 18 ngân hàng thương mại (NHTM)
được NHNN công nhận đáp ứng chuẩn Basel II về tỷ lệ an toàn vốn Hoạt động của
các NHTM ngày càng hướng đến chuẩn mực và an toàn khi Thông tư 22/2019/TT-NHNN được ban hành vào tháng 11/2019 (hiệu lực từ ngày 1/1/2020) theo hướng căn chỉnh dòng vốn tín dụng đối với thị trường bất động sản lành mạnh hơn, sát nhu cầu thực hơn và quản lý thanh khoản hệ thống TCTD chặt chẽ hơn (giảm dần tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung-dài hạn về mức 30% từ ngày 1/10/2022) Kết quả xử lý nợ xấu tiếp tục khả quan, đặc biệt từ khi có sự ra đời của Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu của Quốc
Hội (hiệu lực từ ngày 15/8/2017) Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 8/2019 là 1,98%, tăng nhẹ so với mức 1,89% cuối năm 2018 Tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ xấu bán cho VAMC chưa xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) ở mức 4,84%, giảm
mạnh so với mức 10,08% cuối năm 2016 và mức 5,85% cuối năm 2018 Với đà này, khả năng đưa tỷ lệ nợ xấu gộp xuống dưới 3% cuối năm 2020, đạt mục tiêu nêu tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg (2017) về cơ cấu lại hệ thống TCTD và xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 Về hiệu quả hoạt động, đến hết tháng 11/2019, giá cổ phiếu của nhóm các NHTM và công ty bảo hiểm niêm yết tăng gần 15%
Bốn là, hành lang pháp lý dần được hoàn thiện Có thể thấy, hệ thống pháp luật
chi phối lĩnh vực tài chính-ngân hàng ngày càng hoàn thiện, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống Trong năm 2019, Luật chứng khoán sửa đổi và Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi đã được Quốc hội thông qua, cùng với đó là Quyết định số 242/QĐ-TTg (2019) phê duyệt Đề án cơ cấu lại TTCK và bảo hiểm đến năm
2020 và định hướng đến năm 2025, Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Chỉ thị số 06/CT-TTg (2019) về tăng cường giải pháp đảm bảo an toàn QTDND, Nghị định 88/NĐ-CP (2019) về xử phạt hành chính trọng lĩnh vực tiền tệ-ngân hàng, và hàng loạt các Nghị định khác, Thông tư hướng dẫn triển khai thực hiện, đã tạo hành lang pháp lý tương đối đồng bộ, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong hệ thống tài chính-tiền tệ, từ đó giúp hệ thống hoạt động ngày càng ổn định, lành mạnh hơn Nghị quyết 02 (tháng 1/2019) của Chính phủ đánh dấu bước tiến về định hướng thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, trong đó cho phép nghiên cứu thúc đẩy dịch vụ tiền di động (mobile money) và các hình thức thanh toán điện tử khác
Năm là, xu hướng tài chính số, đặc biệt là Fintech, ngân hàng số phát triển nhanh: theo NHNN, 94% ngân hàng Việt Nam bắt đầu triển khai hoặc xây dựng chiến
lược chuyển đổi số, trong đó có 19 TCTD đang triển khai mô hình ngân hàng số và nhận được phản hồi tích cực về chất lượng dịch vụ, 78 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán qua internet và 41 đơn vị cho phép người dùng thanh toán trên điện thoại di động Giờ đây, ngân hàng số đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh
của nhiều ngân hàng Hệ sinh thái ngân hàng dần hình thành, gồm 3 lớp dịch vụ: (i) lớp
dịch vụ lõi ngân hàng (core) gồm các dịch vụ cơ bản như thanh toán, tín dụng, tài trợ thương mại…; (ii) lớp dịch vụ hệ sinh thái ngân hàng (banking ecosystems) gồm các dịch vụ như quản lý chi tiêu, giáo dục, kế toán, quản lý thuế…; và (iii) lớp dịch vụ phi ngân hàng (non-banking ecosystems) gồm các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, viễn thông, chứng khoán…v.v.Theo đó, hệ sinh thái ngân hàng Việt Nam tập trung vào lớp
Trang 5dịch vụ lõi ngân hàng và bước đầu có lớp dịch vụ hệ sinh thái ngân hàng; trong đó các ngân hàng đi đầu trong chuyển đổi số như Vietcombank, BIDV, Vietinbank, VPBank, Techcombank, TPBank…v.v đã bước đầu hình thành hệ sinh thái ngân hàng, còn lại vẫn chủ yếu trong lớp dịch vụ ngân hàng lõi Tất cả những việc như thế này đều nhằm mục đích chính là tăng trải nghiệm khách hàng
Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển nhanh với nhiều sản phẩm, tiện ích
ngân hàng mới, hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin (đến hết tháng 8/2019, tổng giá trị giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đạt trên 104 triệu giao dịch, tăng 19,57% về số lượng và 26,66% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2018)
1.2 Một số thách thức, tồn tại đối với hệ thống tài chính Việt Nam
- Một là, rủi ro, thách thức từ bên ngoài: xu hướng suy giảm kinh tế toàn cầu sẽ
ảnh hưởng đáng kế đến kinh tế trong nước do Việt Nam là nước có độ mở lớn trên thế giới (tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2019 tương đương 200% GDP) Do đó, hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ chịu rủi ro nhất định dưới tác động kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại Theo WB, kinh tế thế giới tăng trưởng khoảng 2,5% năm
2019 (giảm từ mức 2,8% năm 2018), và dự báo tăng khoảng 2,6% năm 2020 Lo ngại tăng trưởng kinh tế thấp hơn cũng là nguyên nhân khiến Chính phủ, NHTW và Bộ tài chính các nước thực hiện chính sách tiền tệ, tài khóa nới lỏng để vực dậy tăng trưởng.
Tính đến hết quý 3/2019, đã có 60 NHTW các nước cắt giảm lãi suất 113 lần trên toàn
cầu, gồm cả Cục Dự trữ liên bang Mỹ - Fed, Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ECB và một số NHTW các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga….và một số nước giảm thuế, tung các gói kích thích kinh tế Trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu, nới lỏng tài khóa và/hoặc tiền tệ nhiều có thể dẫn tới nguy cơ lạm phát hoặc bong bóng tài sản trong thời gian tới
- Hai là, vẫn còn mất cân đối trong hệ thống tài chính Việt Nam khi khu vực
TCTD vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản hệ thống và đảm nhận cả vai trò chính trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, tiềm ẩn rủi ro về kỳ hạn, thanh khoản và tín dụng (do qui mô tín dụng khá lớn và gần 50% nguồn vốn trung-dài hạn vẫn từ hệ thống TCTD)
Bảng 1: Qui mô và cơ cấu hệ thống tài chính Việt Nam 2015-2019
Nghìn tỷ VND % GDP Cơ cấu(%) Nghìn tỷVND % GDP Cơ cấu(%) Nghìn tỷVND % GDP Cơ cấu(%)
TTS TCTD 7.319,3 174,6 76,5 11.064,2 199,9 68,0 11.214,7 202,6 66,2
Ngân hàng 7.153,8 170,6 74,8 10.783,2 194,8 66,2 10.922,6 197,3 64,5 Phi ngân hàng 165,5 3,9 1,7 281,0 5,1 1,7 292,1 5,3 1,7
Nhân thọ 36,7 0,9 0,4 88,0 1,6 0,5 44,195 0,8 0,3 Phi nhân thọ 32,0 0,8 0,3 45,7 0,8 0,3 25,209 0,5 0,1
Vốn hóa TTCK 2.174,1 51,9 22,7 5.082,7 91,8 31,2 5.647,2 102,0 33,4
Cổ phiếu (cả upcom) 1.420,6 32,0 14,9 3.961,4 75,0 24,3 4.527,9 75,0 26,7
Trái phiếu 753,5 16,1 7,9 1.121,3 27,4 6,9 1.119,4 27,4 6,6
Toàn hệ thống 9.562,06 228,1 100,0 16.280,6 294,1 100,0 16.931,3 305,9 100,0
Nguồn: NHNN, UBCKNN, BTC và ước tính của Viện ĐT & NC BIDV.
Trang 6- Ba là, rủi ro tiềm ẩn từ thị trường TPDN: thị trường TPDN trong năm 2019
phát triển rất mạnh mẽ do: (i) tín dụng trung dài hạn bị siết chặt hơn do các TCTD phải đảm bảo tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và hệ số an toàn vốn, trong khi
đó (ii) các điều kiện phát hành TPDN được nới lỏng hơn theo Nghị định 163 (2018); và (iii) diễn biến khó lường trên thị trường cổ phiếu, bất động sản khiến có hiện tượng chuyển dịch kênh đầu tư Tuy vậy, thị trường TPDN tiềm ẩn nhiều rủi ro do còn thiếu minh bạch thông tin, chưa thống nhất đầu mối quản lý, xuất hiện hiện tượng phát vỡ mặt bằng lãi suất (nhiều doanh nghiệp phát hành trái phiếu với lãi suất lên tới 14%, thậm chí 20%/năm)
- Bốn là, thể chế hệ thống tài chính còn một số bất cập, cần sớm hoàn thiện Đó
là, (i) chưa có Nghị định về thị trường mua-bán nợ trong bối cảnh cần đa dạng hóa nhà đầu tư, các định chế tài chính cần đa dạng hóa nhằm phân bổ rủi ro hợp lý hơn; (ii) vẫn còn một số vướng mắc liên quan đến giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn, nộp thuế
và phí liên quan đến sang tên tài sản bảo đảm, cách hiểu và áp dụng khác nhau trong công tác xét xử, thi hành án theo Nghị quyết 42 của Quốc Hội, khiến tiến trình xử lý nợ xấu, đấu giá tài sản đảm bảo còn nhiều khó khăn; (iii) chưa có khung pháp lý quản lý, giám sát đối với tập đoàn tài chính; (iv) một số mô hình kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ (cho vay ngang hàng, Fintech, huy động vốn cộng đồng, tiền kỹ thuật số, xác thực điện tử E-KYC….) chưa có hành lang pháp lý, (v) cần hoàn thiện một số qui định pháp lý theo yêu cầu hội nhập (CPTPP, EVFTA….) như vấn đề sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, giao dịch xuyên biên giới, niêm yết chéo giữa các sàn chứng khoán, an ninh mạng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng…v.v, (vi) Nghị định 20/2017 về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết chậm sửa đổi, trong đó quy định trần chi phí lãi vay gây khó khăn cho hoạt động của một số doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh còn phải vay nợ nhiều
- Năm là, các NHTM gặp khó khăn trong tăng vốn: theo công bố của NHNN, hệ
số an toàn vốn (CAR) của toàn hệ thống đến cuối tháng 9/2019 đạt 12,02% giảm nhẹ so với mức 12,14% cuối năm 2018, trong đó CAR khối NHTMNN đạt 9,78% tăng so với mức 9,52%; khối NHTMCP đạt 10,81% giảm so với mức 11,24% cuối năm trước Bắt đầu từ năm 2020 khi các NHTM cần tuân thủ Thông tư số 41 (2016) của NHNN, khi hệ
số CAR của các NHTM Việt Nam cần tính toán đầy đủ theo chuẩn Basel II, thì hệ số CAR của các NHTM sẽ thấp hơn khá nhiều Trong khi đó, nhiều NHTM Việt Nam đối mặt với những thách thức lớn trong tăng vốn, đơn cử như trường hợp của VietinBank đã hết "room" để bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, Agribank gặp khó khăn trong tăng vốn do chưa cổ phần hóa, Nhà nước chưa cho phép giữ lại cổ tức, điều này ảnh hưởng lớn tới khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này
- Sáu là, rủi ro an ninh mạng ngày càng tăng trong khi nhiều tổ chức chưa quan tâm Theo Bộ Thông tin – Truyền thông, trong 9 tháng đầu năm 2019, có đến gần
3.500 sự cố tấn công mạng ở Việt Nam, tăng 104% so cùng kỳ, đặc biệt nhiều cuộc tấn công có chủ đích nhắm vào ngân hàng Trong khi chỉ có 25% tổ chức có khả năng ghi nhận tấn công mạng và có đến 30% doanh nghiệp chi ngân sách đầu tư cho an toàn thông tin dưới 10% trong tổng đầu tư về CNTT – một mức quá thấp so với rủi ro, tổn thất mà sự
cố tấn công mạng gây ra
- Bảy là, vấn đề giám sát, an toàn hệ thống còn bất cập, chủ yếu gồm: (i) giám
sát, ổn định tài chính-tiền tệ do nhiều nơi đảm trách, còn thiếu sự phối hợp giữa các cơ
Trang 7quan chức năng, (ii) vai trò của Uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia và Bảo hiểm Tiền gửi còn mờ nhạt, (iii) chưa có cơ chế, qui trình quản lý và giám sát các tập đoàn tài chính
và sản phẩm bán chéo (thí dụ, banca-assurance, cho vay chứng khoán, ủy thác đầu tư… v.v.), (iv) rủi ro hệ thống (có tính lan truyền) chưa được kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ, chưa
có cơ chế xử lý khủng hoảng, (v) hoạt động thanh tra, giám sát vẫn chủ yếu theo phương thức giám sát hành chính, thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro (risk-based supervision) chưa nhiều, (v) thiếu nguồn lực cần thiết (công nghệ tiên tiến, nhân lực có chất lượng, thông tin-dữ liệu…) để thực hiện, (vi) văn bản pháp quy còn thiếu tính nhất quán, tính đồng bộ, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin-dữ liệu, dẫn đến tăng gánh nặng báo cáo đối với các định chế tài chính (ĐCTC), và (vii) chế tài, cưỡng chế còn chưa đủ mạnh, dẫn đến vi phạm còn lặp lại…v.v
2 Một số xu hướng thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2020
- Qui định pháp lý ngày càng hoàn thiện và theo hướng chặt chẽ hơn: Trong
năm 2019, thể chế hệ thống tài chính đã được hoàn thiện thêm một bước Theo đó, việc thực hiện sẽ được triển khai ngày từ đầu năm 2020 (như Luật Chứng khoán sửa đổi, Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi (2019), Quyết định số 242 của Chính phủ về tái cơ cấu TTCK và bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng 2025, Chỉ thị 06 của Thủ tướng về củng
cố hệ thống QTDND, Quyết định 986/QĐ-TTg (2018) về Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, Chiến lược tài chính toàn diện, Nghị định 88 (2019) của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, Thông tư 22/2019/TT-NHNN, Thông tư 41/2016/TT-NHNN, Thông tư 58/2019/TT-BTC quy định về quản lý và sử dụng tài khoản Kho bạc Nhà nước mở tại NHNN và các NHTM… ) Việc thực hiện các qui định này đòi hỏi nguồn lực và ý thức đảm bảo tuân thủ, hướng đến chuẩn mực quốc tế của các ĐCTC trên thị trường; tuy nhiên, sẽ khiến hệ thống ổn định và lành mạnh hơn
- Xu hướng phát triển tài chính số, đặc biệt là ngân hàng số, Fintech mạnh mẽ hơn trong năm 2020: trong Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm
2025, định hướng đến năm 2030, ngân hàng số được xem là tương lai tất yếu của hoạt động ngân hàng Theo đó, trong năm 2020, các ngân hàng tiếp tục đầu tư cho ngân hàng
số và tăng cường ứng dụng công nghệ mới Trong 3 mảng hoạt động truyền thống của ngân hàng là huy động vốn, cho vay và thanh toán, các ngân hàng tiếp tục số hóa chủ yếu trong mảng thanh toán, bảo lãnh và cho ra đời các sản phẩm dựa trên ứng dụng chuỗi khối (blockchain), trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa qui trình (RPA) v.v Đồng thời, thanh toán không tiền mặt và cho vay trực tuyến tiếp tục phát triển mạnh mẽ với việc Chính phủ chính thức cho phép Mobile money triển khai và hành lang pháp lý chi phối Fintech, cho vay ngang hàng… được ban hành
- Xu hướng tái cơ cấu các ĐCTC được đẩy mạnh: năm 2020 là năm chốt thực
hiện các Đề án, kế hoạch 5 năm như Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016–
2020, Đề án số 1058 của Chính phủ về cơ cấu lại hệ thống TCTD giai doạn 2016-2020, Quyết định số 242/QĐ-TTg (2019) phê duyệt Đề án cơ cấu lại TTCK và bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 v.v Điều này đòi hỏi công cuộc tái cơ cấu các ĐCTC gắn với yêu cầu lành mạnh hóa hoạt động cần triển khai quyết liệt hơn và có kết quả cụ thể
Trang 8- Áp lực cạnh tranh gia tăng từ nước ngoài và trong nước: quá trình hội nhập
cùng cam kết mở cửa đòi hỏi Việt Nam phải xóa bỏ các hạn chế trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán và giao dịch tài chính xuyên biên giới ở mức ngang bằng với các nước thành viên khác của các tổ chức, hiệp định mà Việt Nam tham gia (nhất là CPTPP và EVFTA) Ở trong nước, các trung gian tài chính truyền thống sẽ bị cạnh tranh trực tiếp bởi các Fintech, Bigtech đang sẵn sàng cung cấp các dịch vụ tài chính hiện đại, tiện ích, chi phí thấp)…v.v
- Xu thế hợp tác, kết nối và liên kết gia tăng: theo đó, hợp tác giữa ngân hàng-bảo
hiểm (banca-assurance), giữa ngân hàng-chứng khoán (tăng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư – investment banking), ĐCTC – Fintech và Bigtech, ĐCTC – Regtech nhằm đảm bảo hiệu quả tuân thủ, giữa ĐCTC và các tổ chức khác tạo hệ sinh thái với ĐCTC làm trung tâm, trong đó môi trường ngân hàng mở (open banking) bắt đầu hình thành…v.v
- Xu hướng tăng đầu tư cho phân tích dữ liệu lớn (big data analytics) và an ninh mạng: với vai trò không thể thiếu của dữ liệu, các ĐCTC (kể cả cơ quan quản lý)
bắt đầu quan tâm hơn đến việc xây dựng và làm sạch cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu sử dụng AI, máy học (machine learning) để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức mình cũng như đánh giá, tìm hiểu nhu cầu, hành vi khách hàng tốt hơn Đồng thời, trong bối cảnh rủi ro an ninh mạng gia tăng trong khi đòi hỏi về quyền lợi của người tiêu dùng tài chính cũng tăng, yêu cầu các ĐCTC (kể cả cơ quan quản lý) quan tâm hơn đến an ninh mạng, vừa là bảo vệ cho khách hàng, vừa thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý cũng như bảo vệ chính mình
3 Một số kiến nghị
- Việt Nam cần ưu tiên khẩn trương hoàn thiện thể chế hệ thống tài chính;
trong đó, cần tập trung: (i) ban hành Nghị định về thị trường mua bán nợ, tháo gỡ vướng mắc liên quan đến xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc Hội; (ii) sửa Luật NHNN (2010) theo hướng tăng dần tính độc lập của NHNN, sửa Luật các TCTD (2010, 2017) nhằm tăng tính tự chủ, tính thị trường và minh bạch của các TCTD; qua đó tiếp tục giảm thiểu tình trạng sở hữu chéo, “sân trước, sân sau” và bổ sung qui định hoạt động mới như ngân hàng đầu tư, banca assurance, cũng như phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế (nhất
là theo CPTPP và EVFTA); (iii) sửa Luật Bảo hiểm tiền gửi (2012) theo hướng tăng vai trò, trách nhiệm của Bảo hiểm tiền gửi cũng như hạn mức đền bù cho phù hợp bối cảnh mới Đồng thời, (iv) bổ sung luật định chi phối hoạt động quản lý, giám sát tập đoàn tài chính, một số mô hình kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ (cho vay ngang hàng, Fintech, huy động vốn cộng đồng, tiền kỹ thuật số, mobile money, xác thực điện tử e-KYC….) theo hướng tạo điều kiện song vẫn đảm bảo kiểm soát rủi ro Đặc biệt cần sớm xây dựng khung pháp lý và cơ chế, chính sách mang tính khuyến khích các ĐCTC được tiến hành thử nghiệm những công nghệ mới (Sandbox) với một giới hạn nhất định, đặt dưới sự giám sát của cơ quan quản lý; và (v) sửa đổi Nghị định 20/2017 theo hướng nâng trần chi phí lãi vay, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
- Chú trọng nâng cao năng lực quản lý, giám sát, an toàn và ổn định hệ thống tài chính-tiền tệ Cụ thể hóa lộ trình và giải pháp thực hiện Luật Chứng khoán sửa đổi,
Quyết định 986/QĐ-TTg (2018) của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành ngân hàng, Quyết định số 242 của Chính phủ về tái cơ cấu TTCK và bảo hiểm; trong đó cần xây dựng kế hoạch hướng tới một NHTW độc lập và hiện đại hơn, các cơ quan quản
Trang 9lý, giám sát (UBCKNN, Cơ quan Thanh tra-giám sát ngân hàng, Cục Quản lý-giám sát bảo hiểm…) cần độc lập và được trao quyền nhiều hơn; chú trọng xây dựng mô hình quản lý-giám sát rủi ro hệ thống, mô hình ổn định tài chính-tiền tệ và cơ chế xử lý khủng hoảng; làm rõ và tăng vai trò của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Bảo hiểm tiền gửi; quan tâm nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý, giám sát, ổn định hệ thống tài chính tiền tệ (nhất là về nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở dữ liệu, kỹ năng phân tích &
dự báo…) Đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực của các ĐCTC, kể cả hệ thống tài chính vi mô; nâng cao và phát huy vai trò của các Hiệp hội ngành nghề (hiệp hội ngân hàng, hiệp hội kinh doanh chứng khoán, hiệp hội bảo hiểm )
- Đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu thị trường tài chính và các ĐCTC, lành mạnh hóa các ĐCTC hướng tới đạt chuẩn thông lệ quốc tế Tăng cường thanh tra,
giám sát; thực thi chế tài nghiêm minh đối với các vi phạm trên thị trường Tiếp tục phát triển, đa dạng hóa sản phẩm-dịch vụ chứng khoán; tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách (nhất là giữa CSTT và CSTK) nhằm đạt hiệu quả trong chính sách lãi suất, vốn trung dài hạn; và thúc đẩy tiến trình nâng hạng của TTCK Việt Nam
- Thực hiện quyết liệt các biện pháp tháo gỡ khó khăn về vốn chủ sở hữu cho các NHTM, đặc biệt là các NHTM có sở hữu Nhà nước chi phối, giảm thiểu thủ tục hành
chính trong xét duyệt phương án bán chiến lược, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa Agribank, cho phép giữ lại cổ tức, phát hành cổ phiếu cho CBNV (ESOP) …; xây dựng
cơ chế lâu dài về biện pháp tăng vốn cho các NHTM (thay vì xem xét từng năm một) nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính
- Tổ chức triển khai hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện, trong đó tập
trung vào các giải pháp như: (i) phát triển đa dạng các kênh phân phối như mô hình đại lý ngân hàng, kênh phân phối số, mở rộng bao phủ điểm cung cấp dịch vụ (gồm cả kênh số hóa) tới vùng nông thôn; (ii) đồng bộ và nhất quán thực hiện các giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; (iii) tăng cường năng lực các định chế tài chính đặc biệt như Ngân hàng Hợp tác xã, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ TDND, Tổ chức tài chính vi mô…; (iv) phát triển cơ sở hạ tầng tài chính (đẩy nhanh tiến trình xây dựng cổng thông tin TPDN, áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, hiện đại hóa hệ thống thanh toán bù trừ; cho phép thành lập Tổ chức xếp hạng tín nhiệm…); (v) xây dựng và thực thi chiến lược giáo dục tài chính; nâng cao nhận thức, ý thức yêu cầu công bố thông tin của nhà đầu tư, nâng cao nhận thức của ngân hàng và doanh nghiệp về tài chính xanh
- Có khung chính sách và biện pháp cụ thể nhằm hạn chế rủi ro hệ thống và màng lưới an toàn hệ thống: (i) nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách (coi đó là một
chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ - KPI) của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực này, (ii) nâng cao năng lực (nhất là về nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở dữ liệu…) của các cơ quan quản lý, (iii) nâng cao năng lực, quyền năng, tính độc lập của các cơ quan giám sát (Cơ quan bảo hiểm tiền gửi, Cơ quan thanh tra-giám sát, UBCKNN…) song vẫn đảm bảo tăng khả năng phối kết hợp, trong đó cần có cơ chế xử lý khủng hoảng, và (iv) tăng khả năng chống chịu của hệ thống tài chính đối với các cú sốc bên ngoài (nhất là tiếp tục tăng
dự trữ ngoại hối, đẩy nhanh xử lý nợ xấu, áp dụng chuẩn mực quản lý-giám sát, quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế…)
Trang 10TS Cấn Văn Lực & Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV