Tuy nhiên, nền kinh tế vẩn còn chịu sự tác động lớn của mặt trái sự phát triển kinh tế mà cụ thể là kinh tế vĩ mô mất ổn định, nợ công tăng dần,môi trường sinh thái bị hủy hoại nặng, tìn
Trang 1MỞ ĐẦU
Trên nhiều diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế cũng như trong cácchính sách, chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triển bền vữngđang nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại ỞViệt Nam, phát triển bền vững là một trong những nội dung cơ bản để thực hiệnđổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng hàngđầu mà nền kinh tế hướng tới Văn kiện Đại hội đại biểu của Đảng lần thứ XII
khẳng định: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế
nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Kiênquyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủnghĩa Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao
vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới” 1
Trong thời gian, Việt Nam cũng đã phát triển nhanh, mạnh về nhiều mặtkinh tế - xã hội Tuy nhiên, nền kinh tế vẩn còn chịu sự tác động lớn của mặt trái
sự phát triển kinh tế mà cụ thể là kinh tế vĩ mô mất ổn định, nợ công tăng dần,môi trường sinh thái bị hủy hoại nặng, tình trạng phân hóa giàu nghèo gia tăng…Điều đó đòi hỏi là phát triển kinh tế theo hướng bền vững là một vấn đề cầnđược xem xét về mặt nhận thức cũng như về hoạt động thực tiễn phát triển kinh
tế của đất nước Vì lẽ đó, tác giả lựa chọn “ Phát triển kinh tế Việt Nam theo
hướng bền vững” làm đề tài tiểu luận môn học
Nội, tr.20
Trang 2Nội dung của phát triển kinh tế bao hàm sự biến đổi nhiều mặt như thayđổi cơ cấu kinh tế, khía cạnh xã hội, môi trường chứ không chỉ dừng lại duy nhất
ở mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà thôi, do vậy phát triển kinh tế, biểu hiện nộidung rộng lớn hơn tăng trưởng kinh tế Là một quá trình thay đổi theo hướnghoàn thiện, sự hoàn thiện được giới hạn bởi những mục tiêu cơ bản của sự pháttriển, những mục tiêu cơ bản mà quá trình phát triển kinh tế hướng đền đó là:
Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn Đây chính làđiều kiện để thực hiện được các mục tiêu khác của quá trình phát triển Thật vậynền kinh tế có tăng trưởng thì ngân sách nhà nước ngày càng được mở rộng, thunhập của dân cư ngày càng được nâng lên và như vậy người dân có điều kiệnnâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần thông qua việc Nhànước tăng cường đầu tư cho các cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội như: giáo dục,chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình y tế, văn hóa, xóa đói giãm nghèo
Sự hoàn thiên hướng tới đó là phải làm thay đổi được cơ cấu kinh tế, bởi
vì bất kỳ một sự phát triển kinh tế của một quốc gia nào cũng phải phát triển từthấp đến cao, và là một sự chuyển dịch từ một nền kinh tế nông nghiệp truyềnthống sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại và các ngành dịch vụ được pháttriển Sự thay đổi cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn, trong đó cónhững thay đổi về cấu trúc tỷ lệ trong tổng sản lượng quốc gia của các ngành
Trang 3kinh tế, nguồn lao động, thành phần kinh tế, vùng kinh tế… Những thay đổi cơcấu này phải theo xu hướng được đánh giá là ngày càng tiến bộ
Phát triển kinh tế phải cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộphận dân cư đó chính là múc hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển kinh tế Mứchưởng thụ của đại bộ phận dân cư là hưởng thụ về vật chất như điện, nước, thôngtin liên lạc, dinh dưỡng… và về tinh thần như đáp ứng được nhu cầu giải trí, vănhóa - nghệ thuật Bên cạnh đó vấn đề quyền con người, thực hiện dân chủ, mức
độ công bằng xã hội, an ninh an toàn cũng phải được đãm bảo
Trong quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo gìn giữ và bảo vệ môi
trường sinh thái tự nhiên Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong sự phát triển
kinh tế ngày nay đang được các chính phủ của các quốc gia trên thế giới quantâm, và không ít các hội nghị khu vực, thế giới đã phát đi thông điệp kêu gọi mọingười thực hiện bảo vệ môi trường sinh thái, nếu xét về một khía cạnh sự hưởngthụ của con người thì đây cũng là việc cải thiện mức sống
Tuy nhiên, phát triển kinh tế là một quá trình, các yếu tố kinh tế luôn biến
động không ngừng theo những chiều hướng tích cực cũng như tiêu cực, do đóvấn đề mà các quốc gia đặt ra là làm sao mà làm cho nền kinh tế được phát triểntrên cơ sở thực hiện tốt các mục tiêu cơ bản và đồng thời hạn chế tối đa nhữngmặt trái do phát triển kinh tế mang lại Kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giớinhận định rằng quá trình phát triển kinh tế có nhiều vấn đề cần phải lưu tâm giảiquyết nếu không thì sẽ trả giá rất đắt trong phát triển, đó chính là những mặt tráicủa phát triển kinh tế như:
Vấn đề về môi trường sinh thái: Trong quá trình phát triển kinh tế, nếu tậptrung đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở đánh đổi bằng việc khaithác quá mức tài nguyên thiên nhiên như khai thác rừng bừa bãi, lạm sát thủy
Trang 4sản, lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp, các chất thải công nghiệp… sẽ làmhủy hoại đến môi trường sinh thái và môi trường sống của con người
Gánh nặng về nợ của quốc gia: Do đẩy nhanh việc huy động vốn trong
quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, chiến lược huyđộng vốn quá nhấn mạnh việc huy động vốn từ bên ngoài chưa chú ý đến nguồnlực từ trong nước sẽ dẫn đến hệ quả là kinh tế có tăng trưởng nhưng lại phụthuộc nhiều vào nguồn lực bên ngoài, nợ nần triền miên tạo nên gánh nặng choquốc gia
Sự phân hóa giàu nghèo: Mặc dù nền kinh tế có tăng trưởng và tăng
trưởng nhanh, nhưng sự hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng này được thực hiện bởimột bộ phận nhỏ dân cư trong khi đó phần lớn dân cư vẫn trong tình trạng thunhập thấp và nghèo đói, đà này làm cho sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầnglớp dân cư ngày càng lớn
Vấn đề chuẩn mực đạo đức xã hội: Đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế cũng cóthể làm mai một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, và thay vào đó là lốisống thực dụng lệ thuộc và tôn trọng vào sức mạnh của đồng tiền, chạy theo lợinhuận… từ đó thiếu sự quan tâm đến lợi ích của cộng đồng, chuẩn mực đạo đức
xã hội thay đổi thậm chí sự đổi thay về đạo đức len lõi vào trong mỗi gia đìnhdẫn đến văn hóa tốt đẹp của dân tộc bị suy giảm, tỷ lệ ly hôn gia tăng, nảy sinhnhiều tội phạm, nhiều tội ác
2 Phát triển kinh tế bền vững
Từ những mặt trái xuất hiện trong sự phát triển kinh tế đòi hỏi phát triểnkinh tế phải cần phải quan tâm tới sự phát triển toàn diện, mà cụ thể là phát triểnkinh tế cần hướng tới một sự phát triển bền vững Trái ngược với hiểu biết phổbiến phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được hiểu là sự phát triển đượcduy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự nỗ lực liên tục nhằm
Trang 5đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực Phát triển bền vững không đượccoi là một mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là một quá trình duy trì sự cânbằng cơ học của đòi hỏi của con người với tính công bằng, sự phồn vinh, chấtlượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường tự nhiên
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện chính thức vào năm 1987 trongbáo cáo của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới - hay còn gọi là báo cáoBrundtland và chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ đó đến nay Kể từ saubáo cáo Brundtland, khái niệm bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp cácquốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gở bế tắc trong các
vấn đề trong phát triển Khái niệm chỉ ra: Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Khái niệm này chủ yếu là nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quảcác nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con ngườitrong quá trình phát triển Hiện nay khái niệm này còn được đề cập hoàn chỉnhhơn, trong đó còn lưu tâm đến yếu tố tài nguyên, môi trường, yếu tố xã hội Tạihội nghị thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại Johannesbug ( Cộng hòaNam Phi ) năm 2002 đã thống nhất khái niệm phát triển bền vững như là một quátrình phát triển có sự kết hợp hài hòa giữa các mặt phát triển : Tăng trưởng kinh
tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Mục tiêu phát triển bền vững đó là phải hướng tới và tạo lập được sự pháttriển toàn diện trên 3 khía cạnh cơ bản: Môi trường bền vững, xã hội bền vững
và kinh tế bền vững Yêu cầu đặt ra đối với từng khía cạnh:
Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì
sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyênthiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác
Trang 6những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục
hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự pháttriển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực pháttriển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bảnthân và có điều kiện sống chấp nhận được
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững
Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc vớinhững nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng nhữngnguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cáchbình đẳng Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinhdoanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản - sựbình đẳng Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cảmọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giớihạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bảncủa con người
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Quan niệm về phát triển bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm,nội dung của nó đã được thể hiện trong các chủ trương nghị quyết, tại các Đại hộiĐảng toàn quốc, đặc biệt quan niệm về sự phát triển bền vững đã được thể hiện rõnét trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001 - 2010 và Chiến lược pháttriển kinh tế xã hội 2011 - 2020 Để chỉ đạo thực hiện thành công Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng ta đã đưa ra 5 quan điểm phát triển, trong
đó, quan điểm đầu tiên là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững,phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”
Trang 7Để đánh giá được sự phát triển kinh tế ớ Việt Nam theo hướng bền vữngcần nghiên cứu về thực trạng phát triển của đất nước ta trong thời gian qua trêncác khía cạnh của phát triển bền vững để từ đó tìm ra những giải pháp phù hợptrong từng giai đoạn kinh tế
1 Về mặt kinh tế
Để phản ánh về thực trạng sự phát triển kinh tế, cần xem xét một số chỉtiêu kinh tế của Việt Nam trong thời gian gần đây như sau:
1.1 Sự tăng trưởng kinh tế
Sự tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua các chỉ tiêu như: Quy mô sảnlượng quốc gia (GDP hoặc GNP); thu nhập bình quân trên đầu người (PCI) và tốc
độ tăng trưởng về sản lượng, thu nhập bình quân trên đầu người Qua nghiên cứuthực tế sự phát triển kinh tế Việt nam, tăng trưởng kinh tế của nước ta thể hiện:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2001-2010 duy trì từ 6% đến 9%; Năm
2011 tăng trưởng kinh tế là 5,89%; Năm 2012, là 5,03%; Năm 2013 là 5,42%; Năm
2014 là 5,98%; Năm 2015 là 6,68%; Năm 2016 là 6,21% So sánh với các nướctrong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một nước có tăng trưởng GDP cao nhất
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam hàng năm cho thấy thiếu sự
ổn định mặc dù ưu tiên tăng trưởng kinh tế luôn được coi trọng hàng đầu Quy mônền kinh tế đã gia tăng nhanh nhưng không đều do nền kinh tế nước ta là nhỏ đứngthứ 60 - 70 trên thế giới, dân số đông hơn 90 triệu dân đứng thứ 13 trên thế giới.Chính vì thế, nhiệm vụ tăng nhanh quy mô là rất khó thực hiện trong khi phải đốiđầu với cái gọi là “Bẫy thu nhập trung bình” và tăng trưởng không bền vững
Từ phân tích tích trên, cho thấy nền kinh tế Việt nam phụ thuộc quá lớnvào biến động kinh tế thế giới, các yếu tố sản xuất cơ bản là lao động, vốn, đấtđai và khoa học công nghệ của Việt nam thiên lệch và thiếu ổn định Theo như
dự đoán của các chuyên gia kinh tế và mục tiêu phấn đấu của chính phủ đề ra thì
Trang 8tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 là khoảng 6,7%; như vậy thì thu nhập bìnhquân trên đầu người sẽ tăng không đáng kể trong khi áp lực giá cả tăng cao gâykhó khăn cho toàn bộ đời sống xã hội và phát triển kinh tế quốc gia
1.2 Sự thay đổi cơ cấu kinh tế
Một là, cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế: Đây là chỉ tiêu phản ánh tầm
quan trọng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nó được biểu hiện bằng tỷtrọng giá trị đóng góp của các ngành trong cơ cấu GDP
Trong từng giai đoạn, cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơcấu GDP ngày càng tăng, khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP ngày càng giảm.Điều này được thể hiện ở chỗ: tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đãgiảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000;20,9% năm 2005, và đến năm 2008 còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP
đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%;năm 2005: 41% và đến năm 2008 là 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưabiến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm2005: 38,1%; năm 2008 là 38,7% Năm 2010 tỷ trọng của nông nghiệp trongGDP là 20,58 %, ngành công nghiệp là 41,1%, ngành dịch vụ là 38,32%; Năm
2015 tỷ trọng của nông nghiệp là 17,4%, ngành công nghiệp là 44,1%, ngànhdịch vụ là 38,5%
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đi theo hướng tích cực, tuy nhiên vẫncòn rất chậm Nếu so sánh với các nước có thu nhập trung bình, Việt nam có tỷtrọng của khu vực dịch vụ trong GDP cò thấp nhiều (Các nước thu nhập trungbình là 51%)
Hai là, cơ cấu lao động: Đây chính là một chỉ tiêu biểu hiện tầm quan trọng
của từng ngành kinh tế trong việc sử dụng nguồn lao động xã hội Thực trạng của
Trang 9cơ cấu lao động của Việt nam qua các giai đoạn thể hiện như sau: Cơ cấu laođộng trong nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005) giảm xuống 48,2% (năm 2010);trong công nghiệp và xây dựng từ 18,2% (năm 2005) tăng lên 22,4% (năm 2010);dịch vụ từ 24,7% (năm 2005) tăng lên 29,4% (năm 2010) Cơ cấu lao động trongnông nghiệp năm 2012 là 47,5%, công nghiệp là 21,1%, dịch vụ là 31,4%.
Ta thấy rằng cơ cấu lao động theo ngành kinh tế ở Việt Nam có xu hướnggắn liền sự phát triển của các ngành kinh tế, xu hướng tỷ trọng lao động tronglĩnh vực nông nghiệp giảm dần, công nghiệp và dịch vụ tăng dần Tuy nhiên sựdịch chuyển còn chậm là do Việt Nam có điểm xuất phát là một nước nôngnghiệp và trình độ trong nhận thức để chuyển đổi nghề của đại bộ phận dân cưcòn thấp
Ba là, cơ cấu hoạt động ngoại thương: Trong thời đại ngày nay, với sự toàn
cầu hoá đang phát triển mạnh và phổ biến nền kinh tế của một quốc gia phải là mộtnền kinh tế mở, Việt nam cũng không thể ngoài quy trình đó Khi tham gia vào
thương mại quốc tế, các nước thường tham gia vào xuất nhập khẩu hàng hoá
Tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP nhìn chung tăng dần theothời gian, và có giảm trong năm 2009 đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới, và bắt đầu hồi phục lại vào năm 2010 Trong 3 năm liên tiếp(2012-2014), cán cân thương mại đạt mức cân bằng và có thặng dư nhẹ, xuhướng thâm hụt thương mại đang bắt đầu quay lại trong năm 2015 Theo ướctính, kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm
2014 Tăng trưởng xuất khẩu năm 2015 tiếp tục suy giảm so với các năm trước
đó, giảm dần từ mức 15,4% năm 2013 và 13,6% năm 2014 Trong đó, xuất khẩuchủ yếu vẫn nằm ở nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với mức tăngtrưởng 13,8% so với năm 2014 (18,5% nếu không tính dầu thô), chiếm tỷ trọng70,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Khu vực trong nước thậm chí còn suy
Trang 10giảm 3,5%, làm giảm 1,2 điểm phần trăm trong tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa.Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và đạtmức 165,6 tỷ USD trong năm 2015 Về cơ cấu, nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếuvào nhóm hàng tư liệu sản xuất, chiếm tới 91,3% kim ngạch nhập khẩu Như vậytrình độ mở cửa của Việt nam trong thời gian qua có xu hướng chuyển dịch theohướng trình độ mở ngày càng cao.
2 Về mặt xã hội
Khi xem xét việc phát triển kinh tế theo hướng bền vững, vấn đề xã hộiđược xem xét tới trên phương diện là sự tiến bộ xã hội Tiến bộ xã hội được cóthể được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu khác nhau cũng như những quan niệm khácnhau, nhưng vấn đề cuối cùng của tiến bộ xã hội chính là sự phát triển conngười, tiến bộ xã hội được xem xét trên các mặt: Tuổi thọ, trình độ giáo dục, thunhập dân cư của quốc gia
2.1 Tuổi thọ
Tuổi thọ của dân cư phản ánh kết quả cuối cùng của tiến bộ xã hội nhưmôi trường sống, chăm sóc sức khỏe, thu nhập điều kiện lao động tác động đếnđời sống dân cư Gắn liền với quá trình phát triển kinh tế tuổi thọ trung bình của
cư dân và chỉ số tuổi thọ luôn được cải thiện theo thời gian Hiện nay theo thống
kê, từ kết quả Bộ Y tế Việt Nam năm tuổi thọ trung bình của người Việt năm
2005 là 70 tuổi; năm 2010 là 72 tuổi; năm 2014 là 73,2 tuổi; năm 2015 là 73,3tuổi Qua thời gian tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã được cải thiện
Do tuổi thọ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như về địa lý như khí hậu,thiên tai; yếu tố xã hội như giáo dục, tội phạm, kinh tế, y tế, chiến tranh Nêndựa vào chỉ số tuổi thọ của Việt nam gia tăng, ta có thể kết luận các yếu tố về địa
lý , xã hội của Việt Nam trong thời gian qua đã được cải thiện đáng kể mà cụ thể: