1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

110 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mục đích quản lý hạn ngạch: Để thực hiện chính sách quản lý mặt hàng và chính sách thuế đối với một số mặt hàng trong từng giai đoạn phát triển nhất định, cơ quan quản lý Nhà nước chuy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU

******************

NGUYỄN HỒNG QUÂN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ

TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU

******************

NGUYỄN HỒNG QUÂN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ

TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, tôi đã có cơ hội được học tập, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại

Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh “Hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là kết quả của quá trình nghiên cứu trong thời gian vừa qua

Xin tr n trọng cảm ơn Thầy Ts Nguyễn Thành Long đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn thạc sỹ này

Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Cục Hải quan Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban Lãnh đạo Phòng Thuế Xuất nhập khẩu, Ban lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép, các Ông/BàTrưởng/phó các bộ phận phòng ban, Chi cục đã tạo điều kiện về thời gian, công việc, các nguồn thông tin, tài liệu và sự

hỗ trợ nhiệt tình của người th n, đồng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể thầy giáo, cô giáo cùng các học viên Lớp Cao học Quản trị kinh doanh CH15Q2 tại Trường Đại Học Bà Rịa -Vũng Tàu đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tuy đã cố gắng nhưng với kinh nghiệm và thời gian hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để luận văn hoàn thiện hơn Tôi xin ch n thành cám ơn

Học viên

Nguyễn Hồng Quân

Trang 4

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đ y là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

T c giả

Nguyễn Hồng Quân

Trang 5

iv

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN II LỜI CAM ĐOAN III DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 1

1.1.NHƯNGVÂNĐÊ LY LUÂNCHUNGVÊ TRI GIA HAIQUAN 1

1.2.CÁCPHƯƠNGPHÁPXÁCĐINHTRI GIA HAIQUAN 4

1.3.HIÊPĐINHXACĐINHTRI GIA TINHTHUÊ HAIQUANCUAWTO 6

1.4.SỰCẦNTHIẾTPHẢIQUẢNLÝTRỊGIÁHẢIQUAN 13

1.4.1 Gian lận thương mại qua trị giá hải quan 13

1.4.2 Sự cần thiết phải chống gian lận trị giá hải quan 14

1.5.LỊCHSỬXÁCĐỊNHTRỊGIÁHẢIQUANỞVIỆTNAM 18

1.6.CÁCCHỈTIÊUĐÁNHGIÁHIỆUQUẢCÔNGTÁCQUẢNLÝTRỊ GIÁHẢIQUAN 25

1.6.1 Số lượng tờ khai phải kiểm tra trị giá hải quan 26

1.6.2 Số lượng tờ khai tham vấn giá 27

1.6.3 Số tờ khai phải x c định lại trị giá tính thuế và ấn định thuế 27

1.7.NHỮNGNHÂNTỐẢNHHƯỞNGĐẾNCÔNGTÁCQUẢNLÝTRỊ GIÁHẢIQUANTẠICỤCHẢIQUANTỈNHBÀRỊA-VŨNGTÀU 28

1.7.1 Những nhân tố thuận lợi 28

1.7.2 Những nhân tố không thuận lợi 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 33

2.1.KHÁIQUÁTVỀCỤCHẢIQUANTỈNHBÀRỊA-VŨNGTÀU 33

2.1.1 Lịch sử hình thành 33

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 34

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 36

2.2.THỰCTRẠNGCÔNGTÁCQUẢNLÝTRỊGIÁHẢIQUANTẠICỤC HẢIQUANTỈNHBÀRỊA–VŨNGTÀU 37

2.2.1 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 37

2.2.2 Tình hình thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2013 – 2017 44

Trang 6

v

2.2.3 Tình hình công tác quản lý nhà nước về trị giá hải quan tại Cục

Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 48

2.2.3.1 Công tác kiểm tra trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 48

2.3.ĐÁNHGIÁTHỰCTRẠNGCÔNGTÁCQUẢNLÝTRỊGIÁHẢI QUANTẠICỤCHẢIQUANTỈNHBÀRỊA–VŨNGTÀU 66

2.3.1 Những mặt đạt được 66

2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 70

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 80

3.1.MỤCTIÊUĐẶTRATẠICỤCHẢIQUANTỈNHBÀRỊA-VŨNG TÀU 80

3.1.1 Mục tiêu chung 82

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 82

3.2.GIẢIPHÁPHOÀNTHIỆNCÔNGTÁCQUẢNLÝTRỊGIÁHẢIQUAN TẠICỤCHẢIQUANTỈNHBÀRỊA-VŨNGTÀU 85

3.2.1 Rà soát, kiến nghị kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật 85

3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác tổ chức nhân sự 86

3.2.3 Tăng cường phối hợp trong nội bộ cũng như với c c cơ quan có liên quan 87

3.2.4 Xây dựng c c chương trình đào tạo nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp 89

3.2.5 Kiến nghị đối với c c cơ quan Nhà nước 91

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

WCO : Tổ chức hải quan thế giới

ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á

GATT : Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

C/O : Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa

TCHQ : Tổng cục hải quan

GTT22, GTT01 : Hệ thống cơ sở dữ liệu giá

KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan

UBND : Ủy ban nh n d n

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 8

vii

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 36

Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan hàng xuất khẩu 38

Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan hàng nhập khẩu 40

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Kết quả hoạt động của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra trị giá hải quan trong thông quan từ năm 2013 đến hết 31/12/2017 50 Bảng 3.3 Thống kê đối tƣợng hàng hóa phải xác định lại trị giá 52 Bảng 3.4 Thống kê chủ thể có dấu hiệu gian lận về trị giá hải quan (từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2017) 54 Bảng 3.5 Kết quả KTSTQ từ 01/01/2013 đến 31/12/2017 57

Trang 9

viii

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc gia nhập “sân chơi quốc tế” này đã đưa đến cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức

Các thành viên của WTO phải thực hiện các cam kết quốc tế nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước trong đó có hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu, cụ thể là từng bước giảm thuế suất tiến đến gỡ bỏ hàng rào thuế quan Việt Nam đã có nhiều có gắng trong việc cải thiện hoạt động quản lý trị giá và thuế xuất nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu mà cụ thể là trị giá hải quan vẫn còn nhiều bất cập như: việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá, thuế xuất nhập khẩu thay đổi thường xuyên, tình trạng gian lận thương mại đối với trị giá hải quan vẫn còn xảy ra khá phố biến trong lúc nhà nước chưa có biện pháp nào

tỏ ra thực sự hiệu quả để giải quyết vấn các đề này

Xuất phát từ những lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến trị giá hải quan, đánh giá tình hình quản lý trị giá hải quan tại Cục hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua từ đó đề ra giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược cho hoạt động quản lý trị giá hải quan đang là một đòi hỏi khách quan Hy vọng rằng, đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” sẽ góp phần vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nói trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và văn bản pháp lý về quản lý trị giá hải quan

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước về trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 10

ix

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vị không gian: tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũn g Tàu Phạm vi thời gian: giai đoạn từ năm 2013 cho đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định tính như thảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia, phân tích, thống kê mô tả từ các

số liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và một số nguồn thông tin khác

6 Bố cục của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý trị giá hải quan.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 11

ra vào những khu vực do các Lãnh chúa đó quản lý Theo ghi nhận của Tổ chức Hải quan Thế giới, các điều khoản đầu tiên về thuế Hải quan xuất hiện vào cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tại Mỹ và Ch u Âu Khi đó, người ta quy định phải thu một khoản thuế Hải quan nhất định đối với một số loại hàng hóa trong thương mại quốc tế

Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là một khoản tiền được tính dựa trên các căn cứ nhất định do đối tượng nộp thuế phải nộp vào

Ng n sách Nhà nước khi tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩu loại hàng hóa là đối tượng chịu thuế Hải quan qua biên giới quốc gia

Thuế Hải quan ngày càng phát triển và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Đặc biệt là những nước đang phát triển, do nhu cầu cần nguồn lực tài chính phục vụ các dịch vụ công và nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước, thuế suất thuế Hải quan thường cao và đánh vào hầu hết các mặt hàng nhập khẩu, theo đó Thuế Hải quan chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu

ng n sách, chẳng hạn, ở Pakistran, Thuế Hải quan chiếm từ 30 – 40% tổng thu ngân sách, ở Việt Nam trong những năm trước đ y Thuế Hải quan chiếm 25 – 30% tổng thu ng n sách…

Trong xu thế hội nhập và giao lưu thương mại toàn cầu, những yếu tố cơ bản của hệ thống Thuế Hải quan như biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa đã trở thành những nội dung quan trọng trong thỏa thuận thuế quan và thương mại giữa các quốc gia với nhau Vì vậy, ngày nay từ đầu thế kỷ XX, các nước kinh tế phát triển Ch u Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phương pháp xác định trị giá hải quan áp dụng thống nhất trên phạm

vi quốc tế

Trang 12

2

Khái niệm trị giá hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thành khi người ta bắt đầu chuyển dần đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sang đánh thuế theo trị giá hàng hóa Càng ngày, việc tính thuế dựa trên trị giá của hàng hóa càng phát triển, do vậy việc xác định trị giá hàng hóa một cách tùy tiện không còn phù hợp nữa, ở các khu vực lãnh thổ, các nước tìm cách x y dựng các cách tính toán giá trị của hàng hóa để tính thuế Mặc dù vậy, nhưng đến nay khi nói đến trị giá hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chẳng hạn:

- Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theo giá trị

- Trị giá hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu

- Trị giá hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng hóa đó

- Trị giá hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải quan

- Theo các chuyên gia Hải quan Nhật Bản thì trị giá hải quan là chỉ số thể hiện giá trị của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, ra hoặc vào lãnh thổ Hải quan, để phục vụ mục đích quản lý nhà nước về Hải quan theo từng thời

kỳ

Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá hải quan

như sau: Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan

Trị giá hải quan bao gồm trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu và trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu Các nước gia nhập Hiệp định trị giá GATT, trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I) quốc tế Còn trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6

Trang 13

3

phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá GATT/WTO và dừng lại ngay ở phương pháp đã xác định được trị giá Trị giá hải quan được xác định cho tất cả các loại hàng hóa do các tổ chức, cá nh n xuất khẩu, nhập khẩu không

ph n biệt có hợp đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thương mại hay không nhằm mục đích thương mại, hoạt động kinh doanh đầu tư hay sản xuất xuất khẩu

Trị giá hải quan được sử dụng chủ yếu vào nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu sử dụng vào các mục đích sau:

- Mục đích tính thuế: khởi thủy đầu tiên của việc xác định trị giá hải quan làn nhằm mục đích tính thuế, vì lẽ đó khi nói đến trị giá hải quan người ta thường đồng nhất với trị giá tính thuế

- Mục đích thống kê: Ngoài mục đích tính thuế, trị giá hải quan còn được

sử dụng cho mục đích thống kê, gồm thống kê kim ngạch xuất khẩu và thống kê Hải quan Qua hoạt động thống kê mà cụ thể là căn cứ vào các số liệu thống kê Nhà nước có cơ sở để thực hiện điều chỉnh chính sách quản lý các hoạt động thương mại, chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách quản lý Nhà nước về Hải quan cũng như chích sách thuế, qua đó thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nước

- Mục đích quản lý hạn ngạch: Để thực hiện chính sách quản lý mặt hàng

và chính sách thuế đối với một số mặt hàng trong từng giai đoạn phát triển nhất định, cơ quan quản lý Nhà nước chuyển ngành sử dụng hình thức cấp hạn ngạch, theo đó thông qua việc xác định trị giá hải quan Nhà nước thực hiện được mục đích quản lý hạn ngạch

- Mục đích xử phạt vi phạm các quy định về Hải quan: Trong quá trình thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thường xảy ra việc vi phạm các quy định về Hải quan như vi phạm các quy định về thủ tục Hải quan, về kiểm tra, giám sát Hải quan, về chính sách quản lý mặt hàng…, và xét về mặt nguyên tắc các hành vi vi phạm đó đều phải xử phạt theo quy định của pháp luật hiện hành, trong đó trị giá hải quan cũng là một trong những căn cứ để cơ quan

Trang 14

về cách thức xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sử dụng trong lĩnh vực thống kê hải quan

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN

Trên thế giới đã tồn tại rất nhiều hệ thống (phương pháp) xác định trị giá Hải quan, chẳng hạn:

- Giá thị trường trong các nước hiện hành, đ y là phương pháp do Anh đưa ra vào đầu Thế kỷ XX và được coi là bảo hộ hàng hóa được sản xuất tại Anh và bán tại các nước thuộc địa Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thị trường nước xuất khẩu Hệ thống xác định trị giá này được các nước thuộc “đế quốc Anh” áp dụng, gồm Canada, c, Nam Phi và Newzeland cũng áp dụng phương pháp này đến ngày 01/07/1982, trước khi Hiệp định Trị giá GATT/WTO được áp dụng

- Giá thị trường hợp lý, phương pháp này tương tự giá trị thị trường trong nước hiện hành nhưng nó mang tính linh hoạt hơn trong việc xác định giá nào được coi là giá thị trường hợp lý và quy định về việc tính trị giá trong cơ quan Hải quan có thẩm quyền đáng kể Phương pháp này chủ yếu được áp dụng ở khu vực Thái Bình Dương mà điển hình là Philippin

- Hệ thống giá bán của Mỹ, đ y là một phương pháp xác định trị giá được

áp dụng đối với số lượng hạn chế các loại hàng hóa nhập khẩu Trị giá Hải quan dựa trên sản phẩm cạnh tranh tại Mỹ Nhà sản xuất trong nước gián tiếp kiểm soát trị giá được áp dụng cho hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của mình

Trang 15

- Phương pháp dùng giá tối thiểu, theo phương pháp này cơ quan Hải quan đưa ra giá tối thiểu cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu mà không phản ánh giá thực tế của hàng hóa đó Phương pháp này được áp dụng rất phổ biến ở các nước kém phát triển vì phương pháp này dễ thực hiện và thu được nhiều thuế Cơ sở để ấn định giá tối thiểu thiếu tính khoa học do vậy tao ra những hành

vi ứng xử không tốt của cơ quan Hải quan và nhà nhập khẩu

- Phương pháp xác định trị giá theo “Giá thực tế”, phương pháp này được

áp dụng ở một số nước kém phát triển ở ch u Á Trị giá Hải quan được dựa trên giá bán buôn của hàng hóa nhập khẩu khi được bán ở nước nhập khẩu trừ đi 15% Điều này có nghĩa là thuế được tính theo trị giá được xác lập tại nước nhập khẩu sau khi hàng hóa đã được nhập khẩu Điều này g y khó khăn cho cơ quan Hải quan, khi một bộ hồ sơ về những giá được chấp nhận trước đó đang được lưu giữ cho phép nhà nhập khẩu khai báo “Giá thực tế” Thuế Hải quan được tính trên trị giá đã bao gồm cả các khoản phí Hải quan và được tính vào giá bán buôn Giống như phương pháp dùng giá tối thiểu, phương pháp này cũng tạo ra những hành vi ứng xử không tốt của cơ quan Hải quan và nhà nhập khẩu

- Phương pháp xác định trị giá Hải quan theo giá CIF đối với hàng nhập khẩu {giá CIF Chi phí mua hàng (C) Bảo hiểm (I) Cước phí (F) và giá FOB đối với hàng xuất khẩu {giá FOB chính là chi phí mua hàng (C)

- Xác định trị giá theo GATT (theo trị giá giao dịch) là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu

Trang 16

đề xác định trị giá Hải quan được đặt ra như một trở ngại quan trọng của tiến trình này Vòng đàm phán này được gọi là Vòng đàm pháp Tokyo, mà kết quả của nó là một Hiệp định mới về xác định trị giá Hải quan ra đời vào năm 1981

Năm 1994, Vòng đàm phán Uruguay kết thúc với kết quả là Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đi k m với việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới là một loạt các Hiệp định chung về nhiều lĩnh vực như thủ tục Hải quan, quản lý xuất xứ hàng hóa, ph n loại và xác định mã số hàng hóa, trị giá Hải quan của hàng hóa, v.v… ra đời

Hiệp định về trị giá Hải quan của hàng hóa có tên đầy đủ là Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT/WTO 1994, hay còn gọi là Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO Đối với các nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới, Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO buộc phải được áp dụng Đối với những nước muốn trở thành thành viên thì Hiệp định trở thành một trong những điều kiện tiên quyết đưa ra trong các cuộc đàm phán đa phương

Kết cấu và nội dung cơ bản của Hiệp định trị gi GATT WTO:

Kết cấu của Hiệp định gồm có 24 điều, được chia làm 4 phần, ngoài ra Hiệp định còn k m theo 3 Phụ lục và 1 Nghị định thư, cũng được công nhận là phần gắn liền với Hiệp định Cụ thể:

h n th nhất Các quy tắc xác định trị giá, từ Điều 1 đến Điều 17 Phần

này nêu lên 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan, được xếp theo trật tự ưu tiên:

- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu

Trang 17

7

- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng giống hệt nhập khẩu

- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng tương tự nhập khẩu

- Phương pháp trị giá khấu trừ

- Phương pháp trị giá tính toán

- Phương pháp dự phòng

h n th hai phần thực hiện Hiệp định, bao gồm cả tư vấn và giải quyết

tranh chấp, từ Điều 18 đến Điều 19

Hiệp định có hai Ủy ban: Ủy ban xác định trị giá Hải quan và Ủy ban kỹ thuật xác định trị giá Hải quan

Ủy ban trị giá Hải quan (gọi tắt là Ủy ban) hoạt động dưới sự bảo trợ của WTO, bao gồm các đại diện của các nước thành viên tham gia Hiệp định, trụ sở của Hội đồng đóng tại Geneve (Thụy Sỹ) Ủy ban bầu ra Chủ tịch từng nhiệm kỳ

và tổ chức các cuộc họp dưới sự bảo trợ của WTO nhằm tạo ra những cơ hội giúp đỡ các nước thành viên về những vấn đề liên quan đến công việc xác định trị giá Hải quan của mỗi nước, nhằm bảo vệ và khuyến khích chính sách thương mại quốc tế phát triển Mặt khác, Ủy ban này có thể tác động tới quá trình tham gia thực hiện Hiệp định cũng như có thể biết được thời điểm ấn định để tham gia của các thành viên

Tại kỳ họp thứ nhất vào tháng 01/1981, Ủy ban Trị giá đã chấp thuận vị trí quan sát viên thường trực của Hội đồng Hợp tác Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan Thế giới) và chức năng, nhiệm vụ đặc biệt của Hội đồng Hợp tác Hải quan do Hiệp định quy định

Ủy ban Kỹ thuật xác định Trị giá Hải quan (gọi tắt là Ủy ban kỹ thuật) dưới sự bảo trợ của WCO, có trụ sở đóng tại Brussels (Bỉ) Ủy ban Kỹ thuật xác định trị giá Hải quan này bao gồm đại diện Hải quan của các nước đã tham gia

ký kết Hiệp định cũng như của các nước đã tham gia ký kết Hiệp định cũng như của các quan sát viên và các Tổ chức thương mại Liên Chính phủ Tại Phụ lục II của Hiệp định đã nêu r Ủy ban Kỹ thuật này được thành lập nhằm đạt được sự

Trang 18

8

đồng nhất trong việc hướng dẫn, giải thích và áp dụng Hiệp định về mặt kỹ thuật xác định trị giá

Nhiệm vụ của Ủy ban K thuật gồm:

Kiểm tra các vấn đề kỹ thuật đặc biệt nảy sinh hàng ngày trong việc quản

lý hệ thống xác định trị giá Hải quan ở các nước thành viên

Tham vấn, nêu ra những giải pháp thích hợp đối với từng vấn đề vưỡng mắc được nêu ra

Nghiên cứu các văn bản pháp luật về trị giá, các phương pháp, thủ tục xác định trị giá trong thực tế để làm kết quả báo cáo, phát hành hàng năm

Cung cấp các tham vấn về những vấn đề liên quan đến xác định trị giá đối với hàng hóa nhập khẩu khi có bất kỳ một nước thành viên nào yêu cầu Các thông tin cung cấp như thế có thể dưới dạng văn bản bình luận hoặc giải thích

Tạo điều kiện thuận lợi để giúp đỡ về kỹ thuật xác định trị giá đối với các nước thành viên Đồng thời thực hiện những nhiệm vụ khác do Hội đồng Hợp tác giao cho

h n th a Các xử lý đặc biệt

Phần II của Hiệp định chỉ có 1 điều (Điều 20) với mục đích cải tiến các phương pháp xác định trị giá hòa hợp với việc xử lý hàng hóa nhập khẩu công bằng, bảo vệ lợi ích thương mại cho các nước đang phát triển Với quy định của Hiệp định về việc “xử lý khác biệt và xử lý đặc biệt” đối với các nước đang phát triển khi tham gia Hiệp định thì có thể được tạm hoãn áp dụng các điều khoản của Hiệp định trong vòng 5 năm và hoãn thực hiện một số quy tắc đặc biệt thêm khoảng 3 năm nữa (ví dụ có thể chậm áp dụng đoạn 2(b)(iv) của Điều 1 và Điều 6)

Đồng thời Hiệp định cũng nhất trí rằng các nước đang phát triển có thể nhận trợ giúp về kỹ thuật trên các mặt:

- Đào tạo cán bộ;

- Trợ giúp các mặt trong quá trình tham gia;

- Trợ giúp thông tin;

Trang 19

9

- Tư vấn về việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định v.v

h n th tư Các điều khoản cuối cùng

Phần này gồm các điều từ Điều 21 đến Điều 24, quy định các khoản về bảo lưu, luật pháp quốc gia, kiểm tra lại và Ban thư ký của Hiêp định

ác hụ lục và Nghị định thư

hụ lục Các chú giải từng điều khoản trong Hiệp định

hụ lục Quy định hoạt động của Ủy ban kỹ thuật về xác định Trị giá

Hải quan

hụ lục Quy định về quyền bảo lưu

Nghị định thư: Quy định các điều khoản có liên quan đến các vấn đề đặc biệt và những yêu cầu đặc biệt đối với các nước đang phát triển Bởi vì để triển khai thực hiện Hiệp định, nếu chỉ để một văn bản duy nhất về Điều VII của GATT thì các nước đang phát triển sẽ gặp một số khó khăn Do vậy, cần phải có một Nghị định thư đưa ra một số điều khoản đặc biệt để tạo điều kiện cho các nước đang phát triển như:

- Bỏ điều khoản về trị giá kiểm tra trước

- Có thể mở rộng phạm vi 5 năm bảo lưu áp dụng Hiệp định

- Có thể sử dụng bảng giá tối thiểu trên cơ sở hạn chế theo một số điều kiện nhất định

- Có thể đảo lộn trình tự áp dụng Điều 4

- Có thể bảo lưu sử dụng phương pháp khấu trừ

- Nghiên cứu các vấn đề đại lý bán hàng duy nhất, đại lý ph n phối và các đại lý chuyển nhượng

- Các quyền hạn của cơ quan Hải quan

- Các giải thích về giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán

Nghị định thư đã được các bên ký kết quy định rằng: Khi Hiệp định có hiệu lực thì các điều khoản của Nghị định thư sẽ được coi như là bộ phận của Hiệp định

Trang 20

- Loại trừ việc sử dụng trị giá Hải quan tùy tiện áp đặt

- Xúc tiến các mục tiêu của Hiệp định chung về thuế và thương mại

- Xóa bỏ việc coi trị giá Hải quan là công cụ để điều tiết xuất nhập khẩu

Nguy n tắc của Hiệp định hi x c định Trị gi Hải quan

- Hệ thống xác định trị giá của hàng hóa nhập khẩu theo mục đích Hải quan phải hợp lý, thống nhất và độc lập, hệ thống đó phải loại bỏ việc sử dụng trị giá Hải quan áp đặt hay hư cấu Điều này cũng có nghĩa là quy trình xác định trị giá không được sử dụng để làm hàng rào phi thuế quan đối với thương mại Một trong những mục tiêu có tính nguyên tắc của WTO là loại bỏ các biện pháp này

- Cơ sở để xác định trị giá của hàng hóa nhập khẩu theo mục đích Hải quan phải là trị giá giao dịch, với nghĩa rộng nhất trong chừng mực có thể Nói một cách đơn giản nhất, trị giá giao dịch được định nghĩa là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng nhập khẩu cộng thêm với các khoản điều chỉnh Trị giá giao dịch được coi là phương pháp chủ yếu để xác định trị giá theo Hiệp định này Trị giá giao dịch cho phép các doanh nghiệp dự đoán chính xác số thuế phải nộp đối với hàng nhập khẩu của họ Hơn nữa, trị giá giao dịch còn đảm bảo một mức độ chắc chắn cho các doanh nghiệp, bởi vì trị giá Hải quan của hàng nhập khẩu trước hết sẽ dựa trên giá thỏa thuận giữa người mua và người bán

Trị giá Hải quan phải được xác định dựa trên những tiêu chí đơn giản bình đẳng và nhất quán với các thông lệ thương mại Mặt khác, thủ tục áp dụng trị giá

Trang 21

- Thủ tục xác định trị giá không được sử dụng để chống phá giá Biện pháp chống phá giá đúng đắn phải áp dụng luật về chống phá giá Việc tùy ý

n ng trị giá tính thuế lên để tăng nguồn thu thuế nhập khẩu theo Hiệp định này

là không được phép Không được từ chối giá thỏa thuận giữa người mua với người bán chỉ vì lý do đơn giản: giá đó được coi là “quá thấp”

- Theo Hiệp định này, trị giá Hải quan cần được xác định căn cứ vào các

dữ liệu và thông lệ thương mại xung quanh việc bán hàng/giao dịch đó Mọi thông tin liên quan đễn xác định trị giá hàng nhập khẩu cần được tuyển chọn hoặc thu thập thông qua phản ánh của các thông lệ thương mại Cùng với việc tham khảo Chú giải tổng quát của Hiệp định, Hải quan của mỗi nước tham gia Hiệp định sẽ sử dụng các thông tin được chuẩn bị một cách nhất quán với các nguyên tắc kế toán phổ biến đã được chấp nhận (GAAP) Những thông tin sẽ được sử dụng, chẳng hạn như để xác định các khoản điều chỉnh theo trị giá giao dịch (các khoản trợ giúp), xác định lợi nhuận thường xuyên và khoản chi phí chung theo phương pháp trị giá suy diễn và xác định các chi phí nguyên vật liệu, bán thành phẩm, lợi nhuận và chi phí chung theo phương pháp trị giá tính toán Những thông tin này phải được chuẩn bị dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán

Trang 22

12

Điều 8.3 của Hiệp định quy định rằng các khoản cộng thêm vào giá thực

tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán được thực hiện theo Điều 8 phải căn cứ vào các dữ liệu khách quan và có thể định lượng được Điều này có nghĩa là khoản cộng thêm phải hoàn toàn căn cứ vào các yếu tố cụ thể, không có sự suy diễn các nh n, các yếu tố đó phải được xác định bằng các con số thực tế Các số liệu đó không được dựa trên những phán đoán ước lượng hay kinh nghiệm cá

nh n Quy định này nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất Hiệp định và loại bỏ việc áp dụng tùy tiện của Hải quan trước đ y Trong trường hợp thiếu những dữ liệu đó thì các khoản chi phí cộng thêm sẽ không được tính đến

C c phương ph p x c định trị giá hải quan của Hiệp định GATT/WTO

Hiệp định quy định có 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan:

- Phương pháp 1: Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu (Transaction Value)

- Phương pháp 2: Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt nhập khẩu (Identical Goods)

- Phương pháp 3: Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự nhập khẩu (Similar Goods)

- Phương pháp 4: Trị giá khấu trừ (Deductive Method)

- Phương pháp 5: Trị giá tính toán (Computer Method)

- Phương pháp 6: Phương pháp suy diễn, hay gọi là phương pháp dự phòng (Fall-back Method)

Các phương pháp này được áp dụng theo trình tự bắt buộc từ phương pháp thứ nhất đến phương pháp thứ sau Nếu không thể xác định trị giá tính thuế theo phương pháp thứ nhất thì phải áp dụng phương pháp thứ hai; Nếu không thể xác định trị giá tính thuế theo phương pháp thé hai thì phải áp dụng phương pháp thứ ba, và cứ như vậy, cho đến phương pháp cuối cùng Tuy nhiên, cũng

có một ngoại lệ trong trình tự áp dụng, đó là phương phá thứ tư Trị giá khấu trừ (Deductive Method) và phương pháp thứ Năm Trị giá tính toán (Computer

Trang 23

13

Method) có thể hoán đổi vị trí cho nhau Sở dĩ có thể hoán đổi, bởi việc tính toán, xác định trị giá tính thuế theo hai phương pháp này hầu hết dựa vào các tài liệu, số liệu, bằng chứng của doanh nghiệp Khi đó, chính doanh nghiệp là người biết r nhất có thể xác định trị giá theo phương pháp nào trong số hai phương pháp đó, để đề nghị cơ quan Hải quan áp dụng phương pháp thích hợp

1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN

1.4.1 Gian lận thương mại qua trị gi hải quan

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, cùng với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, gian lận trị giá hải quan ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Đ y được coi là một điểm yếu của hệ thống quản lý Hải quan ở các nước đang phát triển nói chung, và ở Việt Nam nói riêng

Gian lận trị giá hải quan là việc doanh nghiệp khai báo không chính xác trị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng những lợi ích không chính đáng

Gian lận qua trị giá hải quan được chia thành hai dạng:

- Khai báo trị giá hải quan thấp hơn trị giá thực của hàng hóa để trốn thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Khai báo trị giá hải quan cao hơn trị giá thực của hàng hóa (thường là hàng hóa nhập khẩu) để làm tăng vốn đầu tư, từ đó chuyển “lậu” lợi nhuận đầu

tư ra nước ngoài

Cùng với sự đa dạng của các hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, các hình thức gian lận thương mại qua trị giá hải quan cũng ngày càng phong phú Tuy nhiên, có thể tạm ph n chia các hình thức gian lận thương mại qua trị giá hải quan như sau:

- Ngụy tạo chứng từ liên quan đến xác định trị giá:

Doanh nghiệp có hai bộ chứng từ cho một đối tượng hàng hóa Trong đó, một bộ chứng từ thể hiện chính xác trị giá thực của lô hàng, và bộ chứng từ còn lại thể hiện trị giá “giả mạo” của hàng hóa Ví dụ như lô hàng có hai hóa đơn (Invoice), hai vận đơn (Bill of lading - B/L), hai phiếu đóng gói (Packing list)…

Trang 24

14

Cũng có trường hợp, doanh nghiệp chỉ có một bộ chứng từ của hàng hóa nhưng thực chất các chứng từ đó chỉ thể hiện một trị giá không thực Còn trị giá thực của lô hàng không được lập thành chứng từ cụ thể Tình huống này thường chỉ xảy ra khi giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu đã có sự cấu kết, hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là khi giữa hai bên có mối quan hệ đặc biệt

- Thủ tiêu hoặc từ chối cung cấp các chứng từ liên quan đến xác định trị giá:

Chứng từ là những bằng chứng quan trọng xác lập trị giá thực tế của lô hàng nhập khẩu Tuy nhiên, có nhiều trường hợp khi xác định trị giá hải quan, người nhập khẩu không xuất trình, thậm chí thủ tiêu các chứng từ cần thiết để cơ quan Hải quan không thể kiểm tra hay xác định đúng trị giá của hàng hóa Ví dụ trường hợp xác định trị giá bằng phương pháp khấu trừ, người nhập khẩu không xuất trình hóa đơn bán lại lô hàng tại thị trường trong nước

- Sử dụng các chứng từ “Dành riêng cho Hải quan” (For Customs purpose only):

Chứng từ “Dành riêng cho Hải quan” thường xuất hiện trong các trường hợp nhập khẩu mà người nhập khẩu và người xuất khẩu có quan hệ đặc biệt với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con Tức là công ty mẹ gửi hàng cho công ty con, không xảy ra giao dịch mua hàng Về nguyên tắc, đối với những trường hợp như vậy thì không được sử dụng phương pháp trị giá giao dịch Nhưng để “tận dụng cơ hội”, công ty mẹ có thể xuất một hóa đơn “dành riêng cho khai Hải quan” Công ty con sử dụng chính hóa đơn đó để làm thủ tục và khai báo trị giá hải quan của lô hàng

Sự gia tăng cả về số lượng lẫn tính phức tạp của các hành vi gian lận trị giá Hải quan đã g y ra những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, đến sự ổn định của xã hội cũng như chính trị

1.4.2 Sự cần thiết phải chống gian lận trị gi hải quan

Để nhận thức r sự cần thiết phải chống sự gian lận trị giá hải quan, trước hết ta cần phải làm r những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan

Trang 25

15

đến nền kinh tế, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội và hiệu quả quản lý kinh tế xã hội Từ đó, chứng minh sự cần thiết và cấp bách phải chống gian lận trị giá hải quan trong giai đoạn hiện nay

Hàng hoá nhập khẩu bị gian lận về trị giá dẫn đến gian lận về thuế, sẽ làm mất tính c n bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại, đồng thời làm thất thu thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác khác g y ảnh hưởng đến quá trình c n đối thu - chi ng n sách của Nhà nước, làm thất thoát ngoại tệ mạnh ra ngoài biên giới Thuế quan đánh trên hàng hoá xuất, nhập khẩu, nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu, bảo vệ và kích thích sản xuất nội địa Vì vậy, hàng nhập gian lận trị giá (gian lận thuế, trốn thuế) đã phá

vỡ cạnh tranh lành mạnh giữa hàng nội và hàng ngoại nhập

1.4.2.2 Ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Những hậu quả do gian lận trị giá hải quan g y ra đối với nền kinh tế và đối với nền văn hoá xã hội đã dẫn đến những tác hại về mặt chính trị, gây khó khăn cho sự quản lý Nhà nước Hàng gian lận thuế làm cho thị trường hỗn loạn, đời sống kinh tế của một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, tệ nạn xã hội phát triển; công bằng, văn minh xã hội không được thiết lập; nhà nước thất thu thuế nên không c n đối được thu - chi ngân sách, một số quỹ phúc lợi bảo hiểm xã hội bị giảm sút…

Gian lận trị giá hải quan vì những khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc trốn thuế đã bất chấp pháp luật, bất chấp chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước với những thủ đoạn tinh vi để thu lợi nhuận bất chính Những khoản lợi nhuận này tạo cho bọn buôn lậu giàu có và ăn chơi sa đoạ, phung phí, trong khi

Trang 26

16

đại bộ phận nh n d n làm ăn ch n chính thì sống khó khăn và ngh o khổ Chính

sự bất công đó đã làm nảy sinh t m lý coi thường pháp luật, coi thường Nhà nước, kèm theo khủng hoảng cả hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp

Một trong những hậu quả nữa của buôn lậu gây ra về mặt chính trị là tác hại của nó đối với chủ quyền và an ninh quốc gia Ngày nay, hoà bình, hợp tác

để phát triển đang trở thành xu hướng của thời đại, sức mạnh quân sự đang được thay thế bằng sức mạnh kinh tế Với ưu thế về kinh tế khoa học, kỹ thuật, các nước tư bản phát triển đã và đang thực hiện chiến lược “biên giới mềm” đẩy thế giới vào cuộc chiến tranh không có khói lửa - chiến tranh kinh tế Kinh tế thị trường là giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng kinh tế, nên các nước chậm phát triển đều có xu hướng phát triển kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ với nước ngoài để thu hút vốn và khoa học kỹ thuật tiên tiến Với chính sách mở cửa thì cuộc chiến tranh giành thị trường nổ ra không kém phần gay go so với các hình thức chiến tranh khác

Chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa với hình thức x m lăng mới, đó là “diễn biến hoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm”, hàng hoá đến đ u là biên giới đến đó - dần dần các nước chậm phát triển từng bước phụ thuộc vào kinh tế và cuối cùng phải phụ thuộc vào chính trị Trên thực tế, biên giới nhiều quốc gia vẫn còn nguyên vẹn, bộ máy nhà nước vẫn do những cán bộ trong nước điều hành, nhưng thực chất độc lập, chủ quyền lãnh thổ bị mất Vì vậy, bảo vệ an ninh biên giới không chỉ là việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà thực chất là bảo

vệ các tiềm năng - yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế Bảo vệ an ninh quốc gia góp phần bảo vệ vững chắc nguồn nhân lực, vật lực, tài lực là phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế và sự vững chắc của chế độ chính trị

1.4.2.3 Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế xã hội

Hơn thế nữa, gian lận trị giá hải quan còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối nền kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, đ y là những hậu quả trực tiếp

dễ nhìn nhận Một hậu quả khác không kém phần nguy hại là hậu quả của gian lận trị giá hải quan và gian lận thương mại nói chung dưới góc độ cả về vĩ mô và

Trang 27

17

vi mô Nó làm cho cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được tình hình xuất nhập khẩu và liên doanh đầu tư với ngoài; công tác điều hành của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn và hoạt động kém hiệu quả

Xét về góc độ quản lý vĩ mô, gian lận thương mại là một trong những nguyên nhân làm hàng hoá nội địa bị đình trệ trong khâu phân phối và tiêu dùng, sản xuất trong nước bị đình đốn Nhiều doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa không cạnh tranh nổi trên thị trường, nợ nần chồng chất dẫn đến phá sản, kéo theo sự gia tăng của đội quân thất nghiệp Gian lận thương mại còn là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến dẫn đến các tệ nạn xã hội, đó là tham nhũng, tha hoá, rượu chè, cờ bạc, trộm cắp… Do đó, nó làm cho công tác quản

lý của Nhà nước thêm khó khăn, phức tạp Mặt khác, gian lận thương mại trực tiếp dẫn đến thất thu về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác, đ y là khoản thu lớn của ng n sách nhà nước Điều này ảnh hưởng đến các kế hoạch về kinh

tế, tài chính khiến nhà nước mất c n đối về thu - chi ngân sách Gian lận thương mại còn phá vỡ sự bình ổn của thị trường, tạo nên cơn sốt về hàng hoá và giá cả làm cho nhà nước không quản lý được hoạt động xuất nhập khẩu; việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bị sai lệch…

Những hậu quả của gian lận thương mại đối với quản lý vĩ mô đã trực tiếp

và gián tiếp ảnh hưởng đến quản lý vi mô Hệ thống pháp luật của ta về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, nếu không nói là chồng chéo, mâu thuẫn nhau Chính vì thế, những chủ thể gian lận thương mại

đã lợi dụng kẽ hở, những quy định thiếu chặt chẽ của Nhà nước để thực hiện hành vi gian lận trốn thuế Từ đó việc quản lý của cơ quan nhà nước ở cơ sở gặp nhiều khó khăn do sự lũng đoạn thị trường của hàng ngoại Giải pháp đấu tranh chống gian lận thương mại, tăng cường hiệu lực kiểm tra, kiểm soát của các ngành chức năng vẫn chưa được giải quyết tận gốc

Cũng dưới góc độ quản lý, trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, hàng ngoại nhập với lợi thế về giá rẻ hơn hàng nội do trốn được thuế, chất lượng tốt, mẫu

mã đẹp nên được tiêu thụ mạnh, tạo nên t m lý ưa dùng hàng ngoại (như hàng

Trang 28

18

điện tử, gia dụng…) trong nh n d n Nhưng do nguồn cung hàng hóa, giá cả không ổn định nên gian lận trị giá hải quan cũng là một trong những nguyên nhân gây nên những cơn sốt về giá cả hàng hoá làm cho thị trường nội địa không thiết lập, lưu thông hàng hoá bị rối loạn và gây ách tắc cho sản xuất và tiêu dùng trong nước

Tóm lại, những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan: Làm mất

ổn định giá cả thị trường, kìm hãm sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, g y thất thu cho ng n sách cho Nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng giữa hàng nội và hàng ngoại, là nguyên nh n phát sinh các tiêu cực trong xã hội Vì vậy, việc phòng chống gian lận trị giá hải quan phải được giải quyết triệt để và là một trong những nhiệm vụ xung yếu của ngành Hải quan hiện nay

1.5 LỊCH SỬ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM

Từ năm 1987 trở về trước, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu là hàng viện trợ và hàng đối lưu trong khối SEV, không có thuế nhập khẩu Vì vậy, thời kỳ này chưa tồn tại nhu cầu xác định giá tính thuế cho hàng nhập khẩu

Từ năm 1987, Việt Nam bắt đầu có sự giao lưu thương mại quốc tế nên yêu cầu về việc tính thuế nhập khẩu cho hàng hóa bắt đầu xuất hiện, thể hiện ở việc Quốc hội ban hành Luật Thuế xuất nhập khẩu mậu dịch, Biểu thuế cho hàng hóa xuất nhập khẩu trong khối SEV

Ban đầu, hàng hóa xuất nhập khẩu mậu dịch ít, chủ yếu chỉ là những loại hàng hóa do những người đi học tập, công tác ở nước ngoài mang về Khi đó,

Bộ Tài chính đã tiến hành x y dựng một bảng giá chung, trong đó có những mặt hàng thường gặp, làm cơ sở cho việc tính thuế Bảng giá đầu tiên do Bộ Tài chính và Bộ Công thương (lúc đó có tên là Bộ Thương mại và Du lịch ban hành

sử dụng trong giai đoạn năm 1990-1991)

Năm 1991, do nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lần đầu tiên chính thức ra đời, có hiệu lực thi hành từ tháng 4/1992, đánh dấu một bước ngoặt mới trong việc đánh thuế hàng

Trang 29

19

hóa xuất nhập khẩu nói chung, và hoạt động quản lý giá nói riêng Đồng thời, tại thời điểm năm 1991, Danh mục Biểu thuế theo Công ước HS cũng được thực hiện do ngày 06/03/1998, Chủ tich nước đã ký Quyết định số 49/QĐ/CTN công

bố Việt Nam chính thức tham gia Công ước HS

Tại khoản 2, Điều 7, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 quy định:

1 Đối với hàng xuất khẩu, là giá bán tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng

2 Đối với hàng nhập khẩu, là giá mua tại cửa khẩu nhập, kể cả chi phí vận tải, phí bảo hiểm, theo hợp đồng

Trong trường hợp hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức khác hoặc giá bán ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua, bán thực tế tại cửa khẩu thì giá tính thuế là giá do Hội đồng bộ trưởng quy định

Từ quy định trên, các bảng giá tối thiểu lần lượt được x y dựng, là Bảng giá 719 (năm 1993), Bảng giá 624 (năm 1994), Bảng giá 353 (Năm 1994 – Dành riêng cho hàng phi mậu dịch), Bảng giá 1187/TC/TCT (ngày 18/12/1995), Bảng giá 975/QĐ/TC/TCT (ngày 29/10/1996), Bảng giá 918/QĐ/TC/TCT (ngày 11/11/1997), Bảng giá 590A/QĐ/TC/TCT (ngày 29/04/1998), Bảng giá 68/1998/TC/TCT (ngày 01/07/2000), Bảng giá 164/2000/TC/TCT (ngày 10/10/2000) và Bảng giá 164/2002/TC/TCHQ (ngày 27/12/2002) Bảng giá 164/2002/TC/TCHQ là bảng giá tối thiểu cuối cùng, chính thức chấm dứt hiệu lực thi hành ngày 31/08/2004, khi Thông tư 87/2004/TT/BTC ra đời, quy định

hệ thống xác định trị giá mới cho hàng hóa nhập khẩu dựa trên hai phương pháp

cơ bản như hiện nay

Về xác định trị giá tính thuế theo giá tối thiểu, ban đầu, nó chỉ được quy định dưới dạng các quyết định ban hành bảng giá (Quyết định 1187/TC/TCT, Quyết định 975/1998/TC/TCT) Theo các quyết định này, giá tính thuế cho hàng hóa nhập khẩu sẽ được xác định theo giá hợp đồng nếu giá hợp đồng cao hơn giá tối thiểu trong bảng giá Trường hợp giá hợp đồng thấp hơn bảng giá thì giá tính thuế là giá tối thiểu Trường hợp hàng nhập khẩu không có trong bảng giá nhưng

Trang 30

20

thuộc nhóm hàng được nêu trong danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế thì vẫn áp dụng giá hợp đồng Đối với các lô hàng khác, Hải quan địa phương căn cứ thực tế x y dựng và ra các quyết định x y dựng giá để bổ sung vào bảng giá

Kể từ ngày 11/11/1997, sau khi ban hành Thông tư 82/1997/TT/TCT thì cách xác định trị giá tính thuế mới được đưa lên thành văn bản pháp quy lớn hơn

là các Thông tư Thông tư 82 được thay thế bởi Thông tư 08/2000/TT-BTC vào năm 2000 Trong Thông tư 08 đã đưa vào một số khái niệm mới dựa trên Hiệp định Trị giá Hải quan WTO như “Giá thực phải trả”, “Các khoản điều chỉnh cộng”… nhưng thực chất đó vẫn là phương pháp xác định trị giá tính thuế theo giá tối thiểu

Theo đánh giá của các chuyên gia thì trong bối cảnh thương mại chưa mở rộng, xác định giá tính thuế theo giá tối thiểu là một công cụ quan trọng để ngăn ngừa và chống gian lận giá, cũng như bảo đảm số thu ổn định cho ng n sách Khi dòng hàng hóa lưu chuyển ngày càng tăng lên thì giá tối thiểu mới bộc lộ hết những nhược điểm lớn, như: không linh hoạt, nhanh chóng lạc hậu do giá cả thị trường luôn luôn biến động, là “bình phong” che chắn cho hành vi gian lận giá của một bộ phận doanh nghiệp làm ăn gian dối, v.v…

Việc nghiên cứu về Hiệp định trị giá Hải quan của Việt Nam bắt đầu từ năm 1994 khi trở thành thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Hàng năm Việt Nam tham gia các phiên họp thường niên của Ủy ban kỹ thuật về xác định trị giá Hải quan tại Bỉ Năm 1998, Việt Nam bắt đầu x y dựng lộ trình thực hiện Hiệp định trị giá Hải quan để phục vụ mục tiêu gia nhập WTO

Có thể nói, việc soạn thảo các văn bản pháp quy nhằm thực thi Hiệp định

là công việc khó khăn và quan trọng nhất Bởi tại Điều 22, Hiệp định trị giá GATT 1994 quy định “Luật pháp, quy chế, các quyết định pháp lý và các quy định hành chính về áp dụng nói chung có quan hệ đến Hiệp định này do các nước nhập khẩu có liên quan ban hành thì phải phù hợp với Điều 10 của GATT 1994” Từ những năm 1999 công tác x y dựng Nghị định về thực hiện trị giá

Trang 31

21

tính thuế Hải quan được bắt đầu và đến năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 Quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Đ y là văn bản pháp lý quy định các nguyên tắc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo tinh thần cơ bản của Hiệp định trị giá GATT/WTO Nghị định đã quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan Hải quan và quyền lợi, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế; đưa ra các phương pháp xác định trị giá tính thuế được phép

áp dụng một cách minh bạch, nhất quán, tạo thuận lợi cho thương mại; thông qua việc giao cho cơ quan Hải quan quyền xác định, quyền kiểm tra trị giá tính thuế sẽ bảo vệ nguồn thu cho ng n sách, chông gian lận thương mại Nghị định quy định chi tiết nội dung cũng như cách xác định trị giá tính thuế theo từng phương pháp và đặc biệt là các tình huống kỹ thuật xảy ra trong thực tế Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 118/2003/TT-BTC ngày 08/12/2003 hướng dẫn Nghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 của Chính phụ Quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Đ y là văn bản hướng dẫn cấp Bộ bao quát toàn bộ nội dung của Nghị định Nội dung trong Thông tư khá đồng bộ, chi tiết, đặc biệt rất có nhiều ví dụ minh họa nên dễ hiểu và dễ thực hiện Một trong những nội dung quan trọng của Thông tư là làm

r nội dung các phương pháp xác định trị giá tính thuế mới, tránh xảy ra những tranh chấp khiếu kiện không cần thiết

Tuy nhiên, theo Nghị định 60 và Thông tư 118, đối tượng áp dụng Hiệp định trị giá còn hẹp, cụ thể chỉ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có hợp đồng thương mại, gồm:

(1) Hàng hóa nhập khẩu của các doanh nghiệp, các bên hợp doanh thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

(2) Hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các nước, vùng lãnh thổ, khối liên minh quốc gia mà Việt Nam đã ký kết thực hiện xác định trị giá tính thuế theo

Trang 32

22

nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (do Bộ Tài chính thông báo); và các hàng hóa nhập khẩu khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Ngoài ra, Điều 13 của Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO quy định khi cần kéo dài thủ tục Hải quan do thiếu thông tin cần thiết để khai báo trị giá, người nhập khẩu có thể nhận hàng bằng cách thanh toán thuế hoặc cung cấp chứng từ bảo đảm cho việc thanh toán theo đúng quyết định cuối cùng Đ y là một trong những điều kiện góp phần giải phóng hàng kịp thời, vừa hạn chế nguy

cơ rủi ro không thu đủ thuế Điều này chưa được thể hiện trong Nghị định số 60/2002/NĐ-CP cũng như Thông tư 118/TT-BTC

Vì vậy, để n ng cao hiệu quả công tác quản lý trị giá Hải quan cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật về trị giá Hải quan, n ng cao tính công khai, minh bạch của các văn bản pháp luật này Theo đó, Nghị định số 155/2005/NĐ-

CP ngày 15 tháng 12 năm 2005 đã ra đời thay thế Nghị định 60/2002/NĐ-CP Nghị định này quy định việc xác định trị giá Hải quan nhằm mục đích tính thuế

và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và áp dụng đối với tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Các nội dung trong Nghị định được hướng dẫn thực hiện cụ thể tại Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Qua so sánh, đối chiếu Nghị định 155/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm

2006 của Chính phủ quy định việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với Hiệp định trị giá WTO, cho thấy Nghị định 155/2006/NĐ-CP và Thông tư 113/2005/TT-BTC đã chuyển tải một cách căn bản và khá đầy đủ các nội dung của Hiệp định trị giá GATT/WTO Chỉ còn một

số ít vấn đề được đề cập trong Hiệp định nhưng chưa được thể chế hóa vào pháp luật Việt Nam, do điều kiện năng lực thực tế cũng như khả năng thực hiện của Việt Nam ở thời điểm hiện tại Nhưng theo yêu cầu trong đàm phán, WTO đề nghị Việt Nam cần có một số bổ sung, chỉnh sửa để chuyển thể nguyên bản về đầy đủ nhất nội dung Hiệp định vào văn bản pháp quy Theo đó, Thủ tướng

Trang 33

23

Chính phủ có Công văn số 1791/TTg-QHQT ngày 06 tháng 11 năm 2006 về việc giao Bộ Tài chính sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về trị giá Hải quan, theo nội dung và thời hạn đã cam kết với WTO, trước ngày 01 tháng 01 năm 2007 Và kết quả là Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm

2007 của Chính phủ quy định việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã ra đời, thay thế Nghị định 155/2006/NĐ-CP Để thực hiện Nghị định, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 40/2008/TT-BTC ngày 21 tháng 05 năm 2008 hướng dẫn việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 12 năm 2010 ban hành Thông tư 205/2010/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, theo đó thay thế Thông tư 40/2008/TT-BTC Như vậy, cùng là hướng dẫn thực hiện Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ nhưng trong mỗi thời kỳ, Bộ Tài chính lại đưa

ra cách hiểu và thực hiện khác nhau trong việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Quán triệt và tôn trọng triệt để nguyên tắc kế thừa và phát huy những quy định cũ, chỉ bổ sung làm r một số điểm theo đũng tinh thần của Hiệp định và trong phạm vi lớn nhất không làm xáo trộn công tác quản lý, xác định trị giá hiện hành Vì vậy, Nghị định 40 đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung cụ thể, gồm:

- Tách khái niệm “Trị giá giao dịch” thành hai khái niệm: “Trị giá giao dịch” và khái niệm “Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán” Vì WTO cho rằng khái niệm “Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán” là một khái niệm cơ bản của Hiệp định cần quy định cụ thể trong văn bản của Việt Nam

- Bổ sung khái niệm “Tham vấn” làm cơ sở cho việc đưa các quy định về tham vấn; Khái niệm “Tổng số lượng bán ra lớn nhất” được sử dụng trong phương pháp khấu trừ; Khái niệm “Ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu”,

Trang 34

có mối quan hệ đặc biệt

- Đối với phương pháp khấu trừ, bổ sung quy định “Số liệu phục vụ cho tính toán khấu trừ được xác định trên cơ sở thông tin do người nhập khẩu hay đại diện cho người nhập khẩu cung cấp trừ phi những số liệu này không nhất quán với các số liệu thu thập được từ các giao dịch bán hàng nhập khẩu củng phẩm cấp hay cùng chủng loại tại Việt Nam Trường hợp số liệu của người nhập khẩu không nhất quán với số liệu thu thập được giao từ những người bán hàng nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại tại Việt Nam, thì khoản lợi nhuận và chi phí chung được phép khấu trừ sẽ được xác định dựa trên các thông tin liên quan khác ngoài thông tin do người nhập khẩu hay đại diện của người nhập khẩu cung cấp”

- Đối với phương pháp trị giá tính toán, bổ sung quy định “cơ quan Hải quan nước nhập khẩu không được tiến hành các hoạt động kiểm tra ngoài nước nhập khẩu trừ trường hợp được sự hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền ở nước cần tiến hành kiểm tra”; Bổ sung quy định “Trị giá tính toán bao gồm cả các khoản trợ giúp, chi phí đóng gói quy định tại đoạn 3 chú giải của Điều 5 Hiệp định” Sửa lại quy định “Việc xác định trị giá tính toán phải dựa trên các số liệu của nhà sản xuất cung cấp trừ khi các số liệu này không phù hợp với số liệu thù thập được tại Việt Nam” để sát với quy định của Hiệp định

- Về các khoản điều chỉnh: Bổ sung quy định “Các hoạt động do người mua thực hiện vì lợi ích của người mua sẽ không phải cộng vào trị giá Hải quan;

Trang 35

25

Khoản lãi suất theo thỏa thuận tài chính của người mua và có liên quan đến việc mua hàng hóa nhập khẩu sẽ không bao gồm trong trị giá Hải quan nếu thỏa mãn một số điều kiện”

- Về quyền và nghĩa vụ của người khai Hải quan, bổ sung quy định cơ quan Hải quan có trách nhiệm “tổ chức tham vấn” và người khai Hải quan có nghĩa vụ tham gia “tham vấn” trong trường hợp cơ quan Hải quan có nghi ngờ

về tính trung thực, chính xác của trị giá khai báo; Bổ sung quy định “Nộp khoản đảm bảo theo yêu cầu của cơ quan Hải quan theo quy định”; Bổ sung nghĩa vụ của người khai Hải quan phải nộp thuế theo số thuế cơ quan Hải quan xác định lại để làm rõ và nâng cao trách nhiệm của người khai Hải quan trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước; Bổ sung quy định: Thông quan hàng hóa

và yêu cầu người khai Hải quan nộp khoản bảo đảm đủ để trả cho tiền thuế của

lô hàng trong trường hợp cơ quan Hải quan có căn cứ nghi ngờ trị giá khai báo

- Nội luật hóa nguyên bản quy định tại Điều 13 của Hiệp định để đảm bảo tính tuân thủ triệt để Nghị định và làm cơ sở pháp lý quy định yêu cầu người nhập khẩu nộp bảo lãnh để thông quan hàng hóa trong trường hợp cơ quan Hải quan nghi ngờ trị giá khai báo

- Về xử lý đối với đối tượng nộp thuế: Bổ sung quy định “Đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nộp thuế truy thu khi cơ quan Hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền khác kiểm tra phát hiện có sự giam lận, trốn thuế, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày kiểm tra, phát hiện thấy việc gian lận, trốn thuế, kể cả trường hợp trị giá tính thuế đã được cơ quan Hải quan chấp nhận hoặc xác định trước đó”

1.6 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN

Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản

lý trị giá hải quan nói riêng Đánh giá hiệu quả công tác quản lý trị giá hải quan

là công việc khó khăn và phức tạp, bởi lẽ, hoạt động này là hoạt động quản lý Nhà nước đặc thù Hoạt động quản lý trị giá hải quan không trực tiếp tạo ra giá

Trang 36

26

trị vật chất, tuy nhiên lại ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan Hải quan cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp Chính vì thế, kết quả của hoạt động này được đánh giá không chỉ dựa trên các tiêu chí định lượng mà còn dựa trên các tiêu chí mang tính chất định tính

Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánh giá hiệu quả quản lý trị giá hải quan cũng cần có những tiêu chí nhất định Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học để đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan và đúng đắn X y dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý trị giá hải quan là công việc chưa có tiền lệ Hơn nữa, bản th n hoạt động quản lý trị giá hải quan phụ thuộc vào đặc thù của hoạt động xuất nhập khẩu tại từng địa phương nên đòi hỏi các tiêu chí đánh giá không thể giống nhau Tuy nhiên, tác giả bước đầu phác thảo một số tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác quản lý trị giá hải quan như sau:

1.6.1 Số lượng tờ hai phải iểm tra trị gi hải quan

Theo quy định tại Thông tư 163/2009/TT-BTC, doanh nghiệp không phải

kê khai trị giá hải quan đối với một số trường hợp sau:

- Hàng hóa xuất khẩu;

- Hàng hóa nhập khẩu không có hợp đồng mua bán;

- Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, xét miễn thuế theo các quy định hiện hành;

- Hàng hóa nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu;

- Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế;

- Hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hình tạm nhập, tái xuất

Công chức Hải quan được ph n công tiến hành kiểm tra trị giá hải quan dựa trên các thông tin trong bộ hồ sơ Hải quan với thông tin trên tờ khai trị giá

Công chức Hải quan không phải kiểm tra trị giá hải quan đối với các trường hợp không phải kê khai trị giá

Trang 37

27

Việc xác định số lượng tờ khai phải kiểm tra trị giá là cơ sở để xác định các công việc mà cơ quan Hải quan phải thực hiện trong quy trình kiểm tra trị giá hải quan Từ đó đánh giá được hiệu quả công tác quản lý trị giá hải quan của

cơ quan Hải quan

1.6.2 Số lượng tờ hai tham vấn gi

Trong quá trình kiểm tra trị giá hải quan, nếu có nghi vấn giá khai báo của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan thông báo để doanh nghiệp biết cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định

Nếu doanh nghiệp đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hải quan xác định thì cơ quan Hải quan ra thông báo xác định trị giá và thực hiện ấn định thuế theo giá đã xác định

Nếu không đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hải quan xác định thì doanh nghiệp được quyền yêu cầu cơ quan Hải quan tổ chức tham vấn

để giải trình về cơ sở, phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình

Trong quá trình tham vấn, nếu doanh nghiệp giải trình được về các cơ sơ, phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình, cơ quan Hải quan chấp nhận giá khai báo của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không đưa ra được các lý do, căn cứ chứng minh trị giá khai báo là trung thực, cơ quan Hải quan sẽ xác định trị giá

Tuy việc tổ chức tham vấn hay xác định trị giá hải quan chỉ là một bước trong quy trình kiểm tra trị giá, nhưng đ y là những công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi cơ quan Hải quan phải chuẩn bị các thông tin kỹ lưỡng làm cơ sở kiểm chứng các thông tin mà doanh nghiệp đưa ra khi tham vấn, đồng thời làm căn cứ khi xác định trị giá khai báo của doanh nghiệp (nếu có)

Hiện nay, Tổng cục Hải quan dựa trên số liệu tham vấn giá là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác quản lý trị giá hải quan

1.6.3 Số tờ hai phải x c định lại trị gi t nh thuế và ấn định thuế

Xác định lại trị giá tính thuế là việc công chức kiểm tra trị giá tiến hành sau khi bác bỏ trị giá khai báo trong trường hợp phát hiện có một trong những

Trang 38

28

m u thuẫn về thủ tục, hồ sơ; về nguyên tắc và trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế hoặc thông qua tham vấn giá mà doanh nghiệp không

có đủ căn cứ giải trình các nghi vấn của cơ quan hải quan đưa ra

Khi xác định lại trị giá, cơ quan hải quan “x y dựng” mức giá phù hợp làm căn cứ tính toán, ấn định số thuế phải nộp của doanh nghiệp

Như vậy, xác định lại trị giá khai báo và ấn định thuế được coi như việc phát hiện và “bắt giữ” các trường hợp gian lận về trị giá hải quan

Bằng việc đánh giá chỉ tiêu số lượng tờ khai phải xác định lại trị giá và số thuế ấn định chúng ta sẽ đánh giá được sơ bộ về tình trạng gian lận trị giá bị cơ quan hải quan phát hiện

1.7 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

1.7.1 Những nhân tố thuận lợi

Từ Cục Hải quan Tỉnh đến các Chi cục hải quan đã triển khai được một hệ thống quản lý công tác giá tính thuế tuân thủ nội dung Hiệp định trị giá GATT phù hợp với quản lý hiện đại, đang phát triển đúng hướng phù hợp với yêu cầu phát triển thương mại, hội nhập và hiện đại hóa hải quan

Các văn bản pháp quy về công tác giá tính thuế, các văn bản hướng dẫn chỉ đạo công tác giá tính thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan được triển khai kịp thời, công tác giá ngày càng hoàn thiện

Hơn nữa, có thể thấy sau khi áp dụng nguyên tắc kiểm tra giá là quản lý rủi ro về giá căn cứ vào Danh mục quản lý rủi ro hàng nhập khẩu về giá cấp Tổng cục và Danh mục quản lý rủi ro hàng xuất khẩu, nhập khẩu về giá cấp Cục cũng đảm bảo việc quản lý giá thông thoáng mà vẫn chặt chẽ Bên cạnh đó, việc triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác giá từ Cục đến Chi cục thông suốt, kịp thời và r ràng hơn Các Chi cục cũng đã chú trọng hơn đến việc hướng dẫn, giải đáp những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp liên quan đến những quy định mới về công tác giá Do đó, việc chấp hành của doanh nghiệp trong khai báo cũng nghiêm túc hơn, sát với trị giá giao dịch hơn

Trang 39

29

Cục Hải quan tỉnh BR-VT đã rất chú trọng đến công tác đào tạo nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ làm công tác giá ngay từ khi bắt đầu thực hiện Thông tư số 205/2010/TT-BTC, hiện nay là Thông tư số 39/2015/TT-BTC Cục Hải quan tỉnh đã nghiêm túc chọn lựa, xây dựng nên một đội ngũ cán bộ có trình

độ, có kinh nghiệm, được đào tạo đúng chuyên môn làm công tác giá tại Chi cục, và ra quyết định công khai danh sách các công chức chuyên trách làm công tác giá Mỗi khi có sự điều động luân chuyển giữa các đơn vị trong Cục thì các công chức mới chuyển đến vẫn được đơn vị tiếp nhận phân công tiếp tục thực hiện nhiệm vụ làm công tác giá Với việc xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng chuyên s u như vậy, công tác giá đã thật sự đạt được những kết quả nhất định,

có sự thống nhất từ trên xuống dưới, tránh được tình trạng mỗi đơn vị thực hiện một kiểu như trước đ y

Tại Hải quan tỉnh BR-VT, hệ thống máy móc đang được tăng cường, các phần mềm nghiệp vụ đang được nghiên cứu điều chỉnh Hải quan tỉnh BR-VT kết hợp với các chuyên gia thế giới đang xác lập lộ trình đánh giá lại các cơ sở triển khai phương pháp trị giá hải quan Các chương trình nghiên cứu, đánh giá bao gồm: đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến trị giá hải quan, đánh giá khả năng hiện đại hóa của Hải quan tỉnh BR-VT, đánh giá về nhân sự cũng như hệ thống tổ chức quản lý của Hải quan tỉnh BR-VT Sự đầu tư này sẽ mang lại hiệu quả trong thời gian tới

Công tác tuyên truyền về trị giá hải quan đang được triển khai mạnh mẽ thông qua truyền hình, báo Hải quan, website của Cục Hải quan tỉnh BR-VT, công khai các văn bản điều hành cho các cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận, tham khảo để biết và thực hiện

Hệ thống kiểm tra sau thông quan – một lĩnh vực cực kỳ quan trọng, là hậu phương vững chắc cho áp dụng phương pháp trị giá hải quan đang được đầu

tư phát triển mạnh

1.7.2 Những nhân tố hông thuận lợi

1.7.2.1 Từ phía cơ quan hải quan

Trang 40

30

Theo báo cáo của Phòng Thuế xuất nhập khẩu - Hải quan tỉnh BR-VT trong thời gian qua, công tác quản lý trị giá hải quan còn gặp một số khó khăn, vướng mắc là:

+ Công tác quản lý trị giá hải quan tại một số Chi cục chưa được quan tâm đúng mức nên vẫn còn tình trạng nhiều sai sót lặp đi lặp lại Bên cạnh đó, các Chi cục bố trí cán bộ làm công tác giá chưa theo hướng chuyên sâu nên còn có hiện tượng cán bộ làm công tác giá bị phân công làm công tác khác

+ Cán bộ làm công tác quản lý trị giá hải quan ở Chi cục chưa chủ động tự đào tạo, còn phụ thuộc vào chương trình đào tạo của Cục Hải quan tỉnh Khi được đào tạo thì tinh thần, thái độ học tập còn chưa nghiêm túc Kỹ năng tham vấn, cập nhật các thông tin mới về biến động giá cả trên thị trường quốc tế của một số cán bộ, công chức tại đơn vị còn bị hạn chế

+ Việc sử dụng thông tin giá chủ yếu căn cứ vào Hệ thống tra cứu dữ liệu giá của Tổng cục Hải quan (chương trình GTT01) một phần là do cán bộ công chức chưa chủ động thu thập thông tin từ nguồn khác một phần là do các thông tin hỗ trợ công tác giá còn nghèo nàn

Chương trình GTT01 đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn tới hay xảy

ra lỗi trong khi chạy, làm ảnh hưởng tới công tác nghiệp vụ Hệ thống thông tin

dữ liệu tuy đã được nâng cấp, cập nhật kịp thời và đầy đủ hơn trước đ y, nhưng một số trường hợp vẫn còn thiếu thông tin chi tiết để có thể lựa chọn làm lô hàng giống hệt hoặc tương tự ảnh hưởng đến việc sử dụng làm căn cứ xác định trị giá tính thuế

Các văn bản liên quan đến công tác giá còn chậm, chưa kịp thời, hay thay đổi, một số nội dung còn chồng chéo, không r ràng g y khó khăn cho cán

bộ thực hiện Còn xảy ra tình trạng cùng một Nghị định của Chính phủ mà Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bằng hai Thông tư khác nhau trong từng giai đoạn

Hội nhập quốc tế cũng phát sinh một số loại hình xuất nhập khẩu mới trong khi hệ thống quy định của pháp luật còn đang trong quá trình x y dựng và hoàn thiện, thường xuyên thay đổi cho phù hợp với thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế Tất cả những thực tế đó khiến cho công tác kiểm tra, giám sát, quản lý của Cục Hải quan tỉnh BR-VT đối mặt với không ít khó khăn, phức tạp

Thêm vào đó, sự phối hợp của các đơn vị trong ngành còn chưa thống nhất: Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực giá nói riêng cần phải tiến hành

Ngày đăng: 31/05/2020, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w