1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN nâng cao hiệu quả dạy học biện pháp tu từ so sánh trong phân môn luyện từ và câu nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 3

40 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 707,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến giúp hình thành những hiểu biết banđầu và rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3.Đồng thời giải quyết những khó khăn của giáo viên tiểu học về nân

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG

TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG TĨNH A

=====***=====

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Nâng cao hiệu quả dạy học biện pháp tu từ so sánh trong

phân môn Luyện từ và câu nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinhlớp 3

Tác giả sáng kiến: Trần Thị Loan

Tam Dương, năm 2018

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Trong cuộc sống hàng ngày, khi trò chuyện, giao tiếp với những ngườixung quanh ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để câu nói thêm phần thuyết

phục như: Hoa cao hơn mẹ, Mưa như trút nước, Đường trơn như bôi mỡ…

Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữ,

tục ngữ dưới dạng so sánh như: Xấu như ma, Đen như cột nhà cháy, … Chắc

hẳn không ai trong chúng ta lại chưa một lần sử dụng biện pháp so sánh

So sánh là “cách nói” rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng nhưtrong sáng tạo văn chương Nhờ phép so sánh, người nói, người viết có thể gợi ranhững hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người nghe,người đọc So sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình gợi cảmhiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triểntrí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người Mặtkhác nó còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp conngười cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế, sâu sắc hơn

Xuất phát từ vai trò và tác dụng của biện pháp tu từ so sánh, từ mục tiêu củamôn Tiếng Việt ở tiểu học, ngay từ các lớp đầu cấp, các bài học của sách giáo khoa

đã đưa vào khá nhiều hình ảnh so sánh Tuy nhiên phải đến lớp 3, học sinh mớichính thức được học về biện pháp tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu.Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 đã giới thiệu sơ bộ về biện pháp tu từ so sánh,hình thành những hiểu biết và kĩ năng ban đầu về so sánh cho học sinh thôngqua các bài tập thực hành Từ đó giúp học sinh cảm nhận được cái hay của một

số câu văn, câu thơ và vận dụng biện pháp so sánh vào quan sát sự vật, hiệntượng xung quanh và thể hiện vào bài tập làm văn được tốt hơn Mặt khác, việcdạy biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 còn là một cách chuẩn bị dần đểcác em sử dụng thành thạo hơn biện pháp tu từ này khi làm các bài văn kểchuyện, miêu tả ở lớp 4, lớp 5

Thế kỉ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnhvực giáo dục, tốc độ phát triển tri thức nhân loại ngày càng tăng với tốc độchóng mặt Vì vậy, mô hình giáo dục ở nhà trường phổ thông theo hướng tiếpcận nội dung không còn phù hợp nữa

Trang 3

Giáo viên và học sinh trong thời đại hội nhập và toàn cầu hoá đang chịunhiều sức ép và thách thức lớn mang tính thời đại; theo đó, giáo dục buộc phảithay đổi cách tiếp cận từ nội dung sang tiếp cận năng lực để sản phẩm của đàotạo là học sinh phải “biết làm”, nghĩa là mang tính ứng dụng cao.

Thế kỉ XXI, tri thức đến với học sinh từ nhiều nguồn đa dạng, phong phú;học sinh có thể tự học nếu biết được cách học Giáo viên ở thế kỉ này phải cónăng lực hướng dẫn học sinh, để học sinh tự tìm tòi lấy nội dung cần học và ápdụng vào thực tiễn không ngừng thay đổi Vì vậy, đào tạo năng lực cho ngườihọc là mục tiêu cao nhất và cần thiết để người học có thể khẳng định được mìnhtrong cộng đồng phức tạp, đa dạng và đổi thay, tạo ra thích ứng cao với mọihoàn cảnh

Quay trở lại với vấn đề giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 3 phầnbiện pháp tu từ so sánh Trong thực tế, giáo viên và học sinh lớp 3 còn gặp nhiềukhó khăn khi dạy học về biện pháp tu từ so sánh, hiệu quả giảng dạy về biệnpháp tu từ so sánh chưa cao Học sinh lớp 3 nhận biết được các hình ảnh so sánhnhưng việc vận dụng kiến thức về biện pháp so sánh vào nói, viết còn nhiều hạnchế Đặc biệt việc dạy về biện pháp tu từ so sánh làm sao để học sinh phát triểnđược năng lực sáng tạo là vấn đề còn chưa được chú trọng đúng mức Giáo viêncòn lúng túng khi lựa chọn các biện pháp hướng dẫn học sinh tìm hiểu cách sosánh và tác dụng của so sánh Việc đánh giá kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ sosánh của học sinh cũng chưa có những tiêu chí cụ thể, nhiều khi sự đánh giá củagiáo viên còn mang tính chủ quan, cảm tính

Xuất phát từ những lí do trên, qua kinh nghiệm thực tế giảng dạy của mình,

tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến: “Nâng cao hiệu quả dạy

học biện pháp tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 3.”

2 Tên sáng kiến: Nâng cao hiệu quả dạy học biện pháp tu từ so sánh

trong phân môn Luyện từ và câu nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinhlớp 3

Trang 4

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến của tôi là phương pháp dạy học biện pháp tu

từ so sánh cho học sinh lớp 3 Sáng kiến giúp hình thành những hiểu biết banđầu và rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3.Đồng thời giải quyết những khó khăn của giáo viên tiểu học về nâng cao hiệuquả dạy học biện pháp tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu nhằm pháttriển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 3

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9/2017

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Về nội dung của sáng kiến

7.1.1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

7.1.1.1 Cơ sở lí luận

a) Biện pháp tu từ so sánh

So sánh tu từ (còn gọi là so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ trong đóngười ta đối chiếu hai hay nhiều sự vật, sự việc với nhau mà giữa chúng cónhững nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn

Ví dụ 1: Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng

Cần phân biệt so sánh tu từ và so sánh logic So sánh logic là một biệnpháp nhận thức trong tư duy của con người, là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiệntượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khácbiệt giữa chúng

Ví dụ 2: Hồ này rộng hơn cái đầm ở làng.

Ở ví dụ thứ nhất, “bà” được ví như “quả ngọt” đã chín, bà càng có tuổi thìtình cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín trên cây Với sự sosánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng của mìnhđối với bà Còn ở ví dụ thứ hai, cách so sánh lại dựa trên tính đồng nhất, đồngloại của sự vật, hiện tượng và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tươngđương giữa hai đối tượng

Như vậy, so sánh tu từ khác so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm

và tính dị loại của sự vật Nếu như giá trị của so sánh logic là xác lập sự tươngđương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở sự liên tưởng, sự phát

Trang 5

hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc, người nghe Ở tiểu học, ta đang dạyhọc sinh so sánh tu từ này (sau đây gọi là biện pháp tu từ so sánh).

b) Việc dạy học biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3

Mục tiêu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là rèn luyện kĩnăng Thông qua việc giải bài tập, học sinh chỉ ra được hình ảnh, nhân vật hoặcchi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của biện pháp tu từ

so sánh

Ngoài việc nắm được dấu hiệu và hiểu được giá trị biểu cảm của biện pháp

tu từ so sánh, chương trình còn yêu cầu học sinh biết vận dụng so sánh tu từ vàoviệc nói, viết, như biết dùng những hình ảnh so sánh sinh động trong giao tiếp,trong làm văn hay khi kể lại một câu chuyện mà các em được nghe, được đọc

Mặc dù những kiến thức về so sánh được dạy cho học sinh lớp 3 còn ởmức độ sơ giản song thông qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bị chohọc sinh những cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế về đời sống, vănhoá, văn học của con người Việt Nam Từ đó góp phần hình thành và phát triển

tư tưởng, tình cảm và nhân cách của học sinh

Nội dung dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 có những loại bài tập sau:

Loại 1: Bài tập nhận biết biện pháp tu từ so sánh:

Trong loại bài tập này, có các dạng sau:

Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh với nhau

Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh

Dạng 3: Tìm các từ so sánh

Dạng 4: Tìm các đặc điểm so sánh

Loại 2: Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh

Ở loại bài tập này có hai dạng nhỏ:

Dạng 1: Bài tập nhận biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh

Dạng 2: Bài tập đặt câu có hình ảnh so sánh

Như vậy, qua nghiên cứu nội dung chương trình dạy biện pháp tu từ so

sánh ở lớp 3, tôi thấy 3 điểm như sau: Thứ nhất, nội dung dạy học phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Thứ hai, chương trình đã cung cấp những kiến

Trang 6

thức cơ bản về biện pháp tu từ so sánh Thứ ba, nội dung về biện pháp tu từ so

sánh được xây dựng theo quan điểm tích hợp

7.1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Nội dung về dạy học biện pháp tu từ so sánh trong Tiếng Việt là một nộidung phong phú và khá phức tạp

Có nhiều phương pháp dạy học tiếng việt có thể áp dụng để dạy biện pháp

tu từ so sánh như phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp làm mẫu,phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp trò chơi tiếng Việt,… Tuy nhiên,mỗi phương pháp lại có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt

và sáng tạo của giáo viên tiểu học

Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học biện pháp tu từ so sánh, tôi đã xâydựng phiếu điều tra 225 giáo viên tiểu học ở huyện Tam Dương Sau khi xử lí số liệu, tôi đã thu được kết quả như sau:

Mức độ

Rất thànhthạo

Thànhthạo

Chưathànhthạo

1 Xác định mục đích của việc dạy biệnpháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 81

(36%)

93(41,33%)

51(22,67%)

2 Nắm mức độ, nội dung chương trìnhcủa từng bài 39

(17,33%)

116(51,56%)

70(31,11%)

89(39,56%)

91(40,44%)

4

Xây dựng quy trình dạy học của một

tiết dạy biện pháp tu từ so sánh cho

học sinh lớp 3

53(23,56%)

90(40%)

82(36,44%)

5 Thiết kế hệ thống bài tập giúp họcsinh chiếm lĩnh kiến thức 31

(13,78%)

66(29,33%)

128(56,89%)

6 Kiểm tra đánh giá khả năng nhận diệnvà vận dụng biện pháp tu từ so sánh 48

(21,33%)

97(43,11%)

80(35,56%)

Trang 7

Qua điều tra, tôi nhận thấy nhìn chung giáo viên đã nắm được mục đíchcủa việc dạy biện pháp tu từ so sánh cho học sinh, biết sử dụng linh hoạt cácphương pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh,biết phối hợp nhiều hình thức dạy học để tổ chức các hoạt động học tập giúp họcsinh tự tin và bộc lộ được năng lực của mình Một số giáo viên biết sử dụng linhhoạt các phương tiện dạy học giúp các em tiếp cận với biện pháp tu từ so sánhmột cách dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, một số giáo viên còn lúng túng khi xác định phương pháp dạyhọc vì đặc trưng phân môn Luyện từ và câu nói chung và phần dạy về biện pháp

tu từ so sánh nói riêng ở lớp 3 không có những bài học, những phần của bài họcdạy riêng kiến thức về tu từ Phương pháp dạy học các bài về phép tu từ so sánhtập trung vào việc tổ chức các hoạt động hoc tập mang tính thực hành là chính.Đặc biệt việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh còn chưa được chú trọng

Nhìn chung, việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 hiện nay còn nhiềuhạn chế Điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh

Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy kết quả dạy học biện pháp tu từ so sánh ở lớp

3 hiện nay chưa đạt yêu cầu do những nguyên nhân sau đây :

- Vốn kiến thức của giáo viên còn hạn chế,

- Tài liệu tham khảo, mở rộng kiến thức cho giáo viên và học sinh chưa nhiều

- Biện pháp tu từ so sánh là một nội dung mới đưa vào chương trình nên giáoviên chưa có kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học

Tóm lại, hiện nay, thực trạng dạy học về biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3đang có nhiều vấn đề cần quan tâm và giải quyết như:

Về phía giáo viên: Kiến thức về phong cách học của giáo viên còn hạn

chế Giáo viên chưa biết vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạyhọc nên kết quả học tập của học sinh chưa cao Bên cạnh đó, giáo viên phần lớnchỉ chú trọng đến việc dạy cho học sinh cách nhận diện biện pháp so sánh màchưa quan tâm nhiều đến việc dạy học sinh cách cảm nhận và vận dụng các kiếnthức về so sánh vào việc nói và viết Giáo viên chưa biết tích hợp lồng ghéptrong quá trình dạy các phân môn Tiếng Việt với nhau Giáo viên chưa chútrọng nâng cao năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua việc dạy học biện pháp

tu từ so sánh

Trang 8

Về phía học sinh: Do khả năng tư duy của các em còn dừng lại ở mức độ

tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạnchế Vốn kiến thức văn học của học sinh còn nghèo Bên cạnh đó, năng lực nhậnthức của một số em còn yếu nên các em còn mắc một số lỗi như về nhận diệnbiện pháp so sánh, lỗi về cách cảm thụ và vận dụng các hình ảnh so sánh vào bàilàm của mình

7.1.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy biện pháp tu từ so sánh nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 3

Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm được cấu trúc của một hình ảnh so sánh bằng thao tác phân tích - tổng hợp (Áp dụng với dạng bài tập nhận biết)

Ví dụ: Tìm hình ảnh so sánh trong câu sau: Mặt biển sáng trong như tấm

thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

Tôi đã cho học sinh phân tích hình ảnh so sánh trong câu trên qua bảng sau:

Sự vật 1 Đặc điểm so sánh Từ so sánh Sự vật 2

Sau khi học sinh phân tích đề và nắm chắc yêu cầu của đề bài, tôi hướng dẫnhọc sinh nắm cấu trúc của một hình ảnh so sánh đầy đủ qua hệ thống câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Trong câu trên, các sự vật nào được so sánh với nhau? (Mặt biển và

tấm thảm) Giáo viên cho học sinh dùng bút chì gạch chân dưới các sự vậtđược so sánh với nhau và điền vào bảng ở cột sự vật 1 và cột sự vật 2 (yếu tố 1

và yếu tố 4)

Câu hỏi 2: Tại sao mặt biển và tấm thảm lại được đem ra so sánh với nhau? (Vì

hai sự vật này có điểm giống nhau)

Câu hỏi 3: Các sự vật đó giống nhau về đặc điểm gì? (đặc điểm sáng trong)

Như vậy, giữa hai sự vật khác loại, khi muốn so sánh chúng với nhau ta cầntìm ra điểm tương đồng (điểm giống nhau, dấu hiệu chung) giữa chúng Đâychính là đặc điểm so sánh –yếu tố 2

Câu hỏi 4: Từ ngữ nào thể hiện sự so sánh? (Như) Đây là yếu tố 3

Trang 9

Sau khi học sinh phân tích được 4 yếu tố của một hình ảnh so sánh, tôi cho học sinh tổng hợp lại thành hình ảnh so sánh: Mặt biển sáng trong như tấm thảm

khổng lồ bằng ngọc thạch.

Như vậy, bằng thao tác phân tích-tổng hợp, học sinh đã nắm được cấu trúc củamột hình ảnh so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:

Yếu tố 1: yếu tố được (hoặc bị) so sánh.

Yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động, có vai trò

nêu rõ phương diện so sánh (ở tiểu học, ta gọi đơn giản là đặc điểm so sánh)

Yếu tố 3: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.

Yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh.

Qua đó, học sinh dễ dàng làm được các dạng bài tập sau:

Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh với nhau

Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh

Dạng 3: Tìm các từ so sánh

Dạng 4: Tìm các đặc điểm so sánh

Các dạng bài tập này chiếm đa số trong chương trình Các yếu tố 1 và yếu

tố 2 có thể là 1 trong 4 mô hình sau:

A) Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật

B) Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người

C) Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động

D) Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh

Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánhvững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới.Dựa vào các mô hình như ta vừa phân tích

Trang 10

Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyênsuốt đến cuối chương trình Tiếng Việt 3.

* Ví dụ: Bài 2 (SGK trang 8): Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu

văn dưới đây:

"Hai bàn tay emNhư hoa đầu cành"

(Huy Cận)

"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"

(Vũ Tú Nam)

"Cánh diều như dấu á

Ai vừa tung lên trời"

(Phạm Như Hà)

Để làm tốt bài tập này, học sinh phải phát hiện các từ chỉ sự vật được so sánh

Từ đó học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên

+ "Hai bàn tay em" được so sánh với "hoa đầu cành"

+ "Mặt biển" được so sánh với "tấm thảm khổng lồ"

+ "Cánh diều" được so sánh với "dấu á"

Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với

"Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó

Trang 11

giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào

giống nhau, chẳng hạn:

+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.

+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.

(Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á")

b)Tìm hiểu dạng: A là B: Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh

với câu giới thiệu Bởi lẽ, cả 2 kiểu câu này đều có từ “là”

Ví dụ :(Bài 1c, d trang 24,25): Tìm các hình ảnh so sánh trong câu :

c/ Mùa đông

Trời là cái tủ ướp lạnh

Mùa hè

Trời là cái bếp lò nung

d/ Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

Trong trường hợp này, cần phải cho học sinh xác định từ chỉ sự vật trongcâu thơ: (trời mùa đông – tủ ướp lạnh), (trời mùa hè – bếp lò nung)

Giáo viên giải thích cho học sinh điểm tương đồng giữa các từ chỉ sự vật được

so sánh

- Trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh

- Trời mùa hè nóng như bếp lò nung.

Trong câu: Mẹ tôi là giáo viên (từ là có tác dụng giới thiệu Trong trường

hợp này, học sinh phải hiểu nghĩa của từ và của câu )

B Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người

Dạng của mô hình so sánh này là:

a) Dạng A như B: + A có thể là con người

+ B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh

Ví dụ: Bài tập 1/trang 58: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu dưới đây:

"Trẻ em như búp trên cànhBiết ăn ngủ, biết học hành là ngoan"

Trang 12

"Trẻ em" giống như "búp trên cành" Vì đều là những sự vật còn tươi non đangphát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hi vọng.

"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến

độ già dặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng

b) Dạng A là B:

Ví dụ: Bài tập 1/trang 42,43 (phương pháp dạy như mô hình 1)

"Ông là buổi trời chiều

Cháu là ngày rạng sáng"

c) Dạng A chẳng bằng B:

Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu :

Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mẹ đã thức vì chúng conĐêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời

Trần Quốc Minh

Dạng bài tập này chỉ cần học sinh thực hiện được hai yêu cầu :

- Xác định sự vật so sánh (ngôi sao - mẹ), (mẹ - ngọn gió)

- Xác định từ so sánh (Chẳng bằng, là)

Xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh so sánh

C Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động

Sự vật 1 (người)

Sự vật 1 (người)

Sự vật 2 (Sự vật)

Sự vật 2 (Sự vật)

Trang 13

Mô hình này có dạng như sau:

+ A x B

+ A như B

* Ví dụ: Bài tập 2 /trang 98: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào

được so sánh với nhau:

+ "Con trâu đen lông mượt

Cái sừng nó vênh vênh

Nó cao lớn lênh khênhChân đi như đạp đất"

(Trần Đăng Khoa)

+ "Cau cao, cao mãi

Tàu vươn giữa trờiNhư tay ai vẫyHứng làn mưa rơi"

(Ngô Viết Dinh)

Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đóhọc sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau Chẳng hạn:

+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như"

+ Hoạt động “vươn” của tàu lá dừa giống hoạt động “vẫy” tay của con người

D Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh

Mô hình này có dạng sau:

A như B: + A là âm thanh thứ 1

+ B là âm thanh thứ 2

Ví dụ:(Bài tập 2 trang 117): Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong

mỗi câu thơ, câu văn dưới đây:

Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứnhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như" Chẳng hạn:

+ "Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"

Trang 14

(Nguyễn Trãi)

Âm thanh của "tiếng suối" được so sánh với âm thanh của "tiếng đàn cầm"qua từ "như"

Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh phân biệt dấu hiệu so sánh

Đây là biện pháp rất quan trọng khi dạy về biện pháp tu từ so sánh chohọc sinh lớp 3 Nếu như biện pháp 1 ở trên là nền tảng, là cái cơ bản, thì biệnpháp này là biện pháp giúp học sinh củng cố vững chắc kiến thức, kĩ năng vềbiện pháp tu từ so sánh vừa học

Giáo viên phân biệt cho học sinh thông qua các bài tập thực hành

Trường hợp 1: Vắng khuyết yếu tố 2 – đặc điểm so sánh

Ví dụ 1: Trẻ em như búp trên cành

Ví dụ 2: Hai bàn tay em/ Như hoa đầu cành

Trong hai hình ảnh so sánh trên, yếu tố 2 - đặc điểm so sánh không đượcnêu ra Kiểu so sánh vắng khuyết yếu tố 2 này tạo điều kiện cho sự liên tưởngrộng rãi hơn Nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để xácđịnh được những nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế và từ đó nhận rađặc điểm của đối tượng miêu tả Sự suy nghĩ, liên tưởng có thể diễn ra như sau:

- Trẻ em tươi non như búp trên cành./ Trẻ em đầy sức sống như búp trên cành./ Trẻ em chứa chan hi vọng như búp trên cành./ …

- Hai bàn tay em đẹp như hoa đầu cành./ Hai bàn tay em xinh xắn như hoa đầu cành./ Hai bàn tay em nhỏ xinh như hoa đầu cành./ …

Trường hợp 2: Vắng khuyết cả yếu tố 2 – đặc điểm so sánh và yếu tố 3 – từ so

sánh, giữa yếu tố 1 và 4 có dấu gạch hai chấm hoặc dấu gạch ngang

Ví dụ 1: Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

Ví dụ 2: Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè hoa nở cùng saoTàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh

Trong ví dụ 1 có hai hình ảnh so sánh: So sánh Trường Sơn với chí lớnông cha và so sánh Cửu Long với lòng mẹ bao la Trong ví dụ 2 có hai hình ảnh

Trang 15

so sánh: so sánh quả dừa với đàn lợn con và so sánh tàu dừa với chiếc lược Tất

cả các hình ảnh so sánh này đều vắng khuyết cả hai yếu tố: yếu tố 2 – đặc điểm

so sánh và yếu tố 3 – từ so sánh, giữa yếu tố 1 và 4 có dấu gạch hai chấm hoặcdấu gạch ngang Khi đọc cần ngắt giọng chỗ có dấu hai chấm hoặc dấu gạchngang

Trường hợp 3: Vắng khuyết cả yếu tố 2 – đặc điểm so sánh và yếu tố 3 – từ so

sánh, giữa yếu tố 1 và 4 không có sự ngăn cách nào

Ví dụ: Tay em đánh răng/ Răng trắng hoa nhài

Ở đây, tác giả đã so sánh răng với hoa nhài Nhưng cái khó là giữa hai yếu

tố 1 và 4 không có bất cứ dấu hiệu nào Dạng này thường dành cho học sinhnhận thức tốt

Ở cả 3 trường hợp này, giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ nội dung câuthơ hoặc câu văn, gợi mở cho học sinh suy nghĩ tại sao lại đặt hai sự vật, hiệntượng này cạnh nhau mà không có từ ngữ nào ở giữa Cho học sinh thử thêmvào những từ ngữ thể hiện sự so sánh (thêm yếu tố 3), hoặc thêm cả từ chỉ đặcđiểm và từ so sánh (yếu tố 2 + yếu tố 3) mà không làm nội dung câu văn, câuthơ thay đổi

Ví dụ: Tàu dừa như/ tựa như/ như thể/ giống như/ … chiếc lược chải vào mây

xanh

Quả dừa chi chít/ nằm chen chúc/ … như đàn lợn con nằm trên cao.

Trường hợp 4: Các từ so sánh không phải lúc nào cũng thể hiện sự so sánh.

Trong hình ảnh so sánh Trăm cô gái đẹp tựa tiên sa, giáo viên có thể cho

học sinh thay thế từ “tựa” bằng các từ ngữ khác cũng thể hiện sự so sánh như: là,giống, hệt, như, như thể, chẳng khác gì,… mà ý nghĩa của câu không thay đổi.Nhưng điều quan trọng là giáo viên phải phân biệt cho học sinh không phải lúcnào các từ là, giống, hệt, như, như thể, chẳng khác gì,… cũng là các từ dùng đểchỉ sự so sánh Giáo viên giúp học sinh khắc phục điều này bằng cách giúp họcsinh hiểu ý nghĩa của các từ ngữ này trong văn cảnh Nhấn mạnh và nhắc lại chohọc sinh là các sự vật, sự việc, hiện tượng, … được đem ra so sánh bao giờ cũngphải có một dấu hiệu chung nào đó

Ví dụ 1: Con búp bê của Lan làm bằng vải Từ “bằng” chỉ mối quan hệ

giữa một bên là sự vật, một bên là chất liệu của sự vật đó Hai sự vật: con búp bê

và vải không có dấu hiệu chung Vậy đây không phải là hình ảnh so sánh

Trang 16

Ví dụ 2: Quả táo này nhỏ bằng ngón tay Từ “bằng” dùng để chỉ sự so sánh

ngang bằng giữa hai sự vật có hình dáng nhỏ bé Hai sự vật: quả táo này và ngóntay có dấu hiệu chung là nhỏ Vậy câu trên là hình ảnh so sánh Đây là trường hợphọc sinh khó phát hiện ra hình ảnh so sánh Giáo viên cần giúp học sinh phân tíchtheo cấu trúc so sánh và tìm ra dấu hiệu chung của các yếu tố so sánh

Tóm lại, khi dạy biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3, cần giúp họcsinh nắm được cấu trúc hoàn chỉnh thường gặp của so sánh tu từ Trong đó yếu

tố 1 và yếu tố 4 là quan trọng nhất, không thể vắng khuyết Học sinh dần đượclàm quen với các dạng khuyết thiếu 1 trong các yếu tố như trên Khi gặp dạngnào giáo viên cũng nên đưa vào mô hình cấu tạo để học sinh nhận biết

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh làm dạng bài tập sáng tạo

Dạng bài tập sáng tạo giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ sosánh Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn Tuy nhiên, dạng bài tậpnày trong SGK rất ít Nó tập trung ở cuối chương trình học kì I gồm 2 bài tập

Để làm được dạng bài tập này bắt buộc giáo viên phải hướng dẫn cho học sinhnắm được một cách chắc chắn về so sánh tu từ như hai biện pháp trên

Bài tập 1: Nhìn tranh đặt câu

Tương tự Bài tập 3/SGK trang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau :

Ví dụ: Quan sát từng cặp tranh ở hình 1 rồi viết các câu có hình ảnh so sánh

Hình 1

Trang 17

Bài tập 2: Dạng bài tập điền khuyết

Ví dụ: Bài tập 4/trang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ trống:

a) Công cha nghĩa mẹ được so sánh như , như

a) Trời mưa, đường đất sét trơn như

b) Ở thành phố có nhiều toà nhà cao như

Khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập dạng này, giáo viên cần thao táctheo các bước sau:

Bước 1: Giúp học sinh tìm hiểu yêu cầu đề bài.

Bước 2: Phân tích các yếu tố của bài cho và đưa vào mô hình cấu trúc so sánh

xem còn thiếu yếu tố nào để hoàn chỉnh hình ảnh so sánh

Bước 3: Suy nghĩ dựa trên các dấu hiệu chung để tìm các từ ngữ thích hợp Bước 4: Thử các từ ngữ khác, đọc và lựa chọn từ ngữ em cho là hay nhất.

Ta phân tích bài tập 1:

Ở tranh 1: Có 2 sự vật là xe ô tô và cung tên/ tên bắn

Ta đưa vào mô hình cấu trúc so sánh :

Như vậy đã có yếu tố 1 và yếu tố 4, còn thiếu yếu tố 2 và yếu tố 3:

Yếu tố 2 (phương diện so sánh): dựa vào đặc điểm của hai sự vật này, học sinh

dễ dàng nhận thấy hai sự vật này có dấu hiệu chung về hoạt động: lao, đi, chạy,phi, … các hoạt động này có đặc điểm chung là nhanh

Yếu tố 3 : Nếu học sinh so sánh ngang bằng thì có thể sử dụng: như, như thể,…Nếu học sinh so sánh hơn kém thì có thể sử dụng: hơn, hơn cả, …

Vậy tổng hợp lại ta được câu hoàn chỉnh: Xe ô tô lao nhanh như tên bắn./ Xe ô

tô chạy nhanh hơn tên bắn/ … Nếu không sử dụng yếu tố 2 thì ý nghĩa của câuthông báo sẽ không rõ ràng: Xe ô tô như tên bắn Khi nhắc đến ô tô ta thườngnghĩ đến hình dáng, màu sắc của nó Vậy xe ô tô và tên bắn có gì giống nhau vềhình dáng và màu sắc? Rõ ràng là không Vậy ta phải nói rõ ta đang so sánh ô tô

và tên bắn về đặc điểm gì, cho nên phải có yếu tố 2 ở đây

Trang 18

Các trường hợp còn lại tương tự, giáo viên sử dụng phương pháp phântích - rèn luyện theo mẫu như trong các nghiên cứu về phương pháp dạy họcbiện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 đã đưa ra.

Ví dụ các trường hợp còn lại :

- Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng

- Cây thông cao như ngọn tháp

- Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng

- Thỏ thì hiền hơn hùm

Ta phân tích bài tập 2:

Ta cũng cho học sinh đưa các yếu tố đã có vào mô hình cấu trúc so sánh

Như vậy đã có yếu tố 1 và yếu tố 3, còn thiếu yếu tố 2 và yếu tố 4:

Ở đây yếu tố 4 là quan trọng, không thể thiếu Để tìm yếu tố 4 ta cho học sinhsuy nghĩ xem công cha giống với gì? (núi Thái Sơn/ núi cao/ trời/…), nghĩa mẹgiống với gì? (nước biển Đông/ nước trong nguồn/ biển/ …)

Còn yếu tố 3, học sinh có thể tìm là to lớn, bao la, ngời ngời, …

Vậy sắp xếp lại ta được các câu hoàn chỉnh :

Công cha nghĩa mẹ được so sánh như núi Thái Sơn, như nước biển Đông.

(không có yếu tố 3)

Nếu tách rời, ta được hai câu: Công cha to lớn như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ bao

la như nước biển Đông (Có đầy đủ 4 yếu tố)

Ở đây, ta lưu ý cho học sinh yếu tố 3 có thể không có Trong những câu mà sắcthái tình cảm thể hiện rất rõ như thế này thì người ta thường che lấp đi phươngdiện so sánh để người đọc, người nghe có những suy nghĩ, liên tưởng của riêngmình Các đáp án có thể là:

a) như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn chảy ra, như sông như biển,… b) như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu

Trang 19

c) núi, những ngọn tháp

Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy, nhất làcác tiết Tiếng Việt luyện tập, giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự haidạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức

Trong khi học về biện pháp so sánh, học sinh còn được làm quen với kiểu

- Làm các bộ phiếu bằng giấy (Kích thước: 3 x 4 cm)

- Mỗi bộ phiếu gồm 3-5 từ chỉ hoạt động, trạng thái, đặc điểm, màusắc của sự vật (Tuỳ thời gian chơi, nội dung bài học)

Lớp 3 chủ yếu là từ chỉ hoạt động, trạng thái, đặc điểm, tính chất

Ví dụ : + Bộ phiếu A (5 từ chỉ hoạt động, trạng thái): Đọc, viết, cười, nói, khóc(Dành cho Tiết 7: Ôn tập từ chỉ trạng thái, tính chất)

+ Bộ phiếu B (5 từ chỉ màu sắc) Trắng, xanh, đỏ, vàng, đen

(Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh)

Trang 20

+ Bộ phiếu C (5 từ chỉ đặc điểm, tính chất): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm(Dành cho tiết 14, 17: Ôn tập từ chỉ đặc điểm)

- Phiếu được gấp tư để “bốc thăm”

- Cử trọng tài, thư kí theo dõi cuộc thi

Tiến hành :

- Trọng tài để một bộ phiếu lên bàn cho học sinh xung phong lên thử tài

so sánh (1 bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người “thử tài”)

- Học sinh 1 (HS1) lên “bốc thăm”, mở phiếu đọc từ cho các bạn ngherồi nêu thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó

- Ví dụ: HS1: “bốc thăm” được từ trắng – Có thể nêu cụm từ so sánh:

trắng như tuyết, trắng như vôi, (hoặc: trắng như trứng gà bóc).

- Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai

+ Đúng được bao nhiêu kết quả được bấy nhiêu điểm.

+ Trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có điểm.

- Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài Hết 5 phiếu thì về chỗ, thư kícông bố kết quả

- Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1 người có tài so sánh cao nhất là người thắngcuộc

Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên Cũng có thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu Mỗi phiếu chỉ cần nêu 1 cụm

từ Người thứ không được nêu lặp cụm từ của người trước Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu và tiến hành theo nhóm Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng.

Tham khảo:

1/ Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh nêu ở mục chuẩn bị

Bộ phiếu A: (5 từ chỉ hoạt động, trạng thái)

- Đọc: Đọc như đọc kinh, đọc như rên rỉ, đọc như cuốc kêu, đọc như nói thầm, đọc như vẹt,…

- Viết: viết như gà bới, viết như giun bò, viết như rồng bay phượng múa,viết như in,

- Cười: cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ, cười như mếu,

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w