Văn nghị luận xã hội là kiểu bài phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức, đánh giá và thái độcủa người viết về một vấn đề nào đó bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể.. Đặc biệt với
Trang 1Së gd & ®t vÜnh phóc Trêng thpt chuyªn vÜnh phóc
-*** -
CHUYÊN ĐỀ HSG THCS MÔN: NGỮ VĂN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
GIỎI MÔN NGỮ VĂN THCS
Giáo viên: Hoàng Văn Quyết Tổ: Ngữ Văn
Năm học 2013 - 2014
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Định hướng chung, cái đích của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phát huyđược tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rènluyện toàn diện về tư duy, tình cảm, tâm hồn Điều này đồng nghĩa với việc học sinh phảiđược coi là ngọn lửa cần thắp sáng chứ không phải là cái bình chứa kiến thức Những nămgần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh vềkiến thức cũng như kĩ năng, đề thi môn văn có rât nhiều đổi mới Đề bài thường có 2 phần:Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Đây là khó khăn cho học sinh vì nghị luận xã hội đòihỏi lối viết sắc sảo, tư duy xã hội sâu rộng, thiên về lý trí còn nghị luận văn học đòi hỏi vốnvăn học chắc chắn, lối viết thiên về cảm xúc Học sinh sẽ phải tự dung hòa hai cách viết, hailối tư duy khác nhau trong cùng một bài viết
Văn nghị luận xã hội là kiểu bài phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức, đánh giá và thái độcủa người viết về một vấn đề nào đó bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể Bởivậy, bài văn nghị luận xã hội muốn có sức thuyết phục cần lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫnchứng tiêu biểu, phù hợp Nhưng theo chúng tôi, nếu chỉ đáp ứng được những yêu cầu đó thìcần mà chưa đủ Muốn thuyết phục người đọc cả về tư tưởng và tình cảm, bài văn nghị luậncần có chất văn Nếu chất nghị luận là phần xác thì chất văn được coi như phần hồn, nếu chấtnghị luận tác động đến lí trí, giúp người đọc hiểu vấn đề, nắm được tư tưởng của người viếtthì chất văn lại lay động trái tim người đọc, mang đến những xúc cảm sâu lắng, khiến ta thấmthía, yêu mến, say sưa Đặc biệt với bài viết của một học sinh giỏi, chất văn góp phần quyếtđịnh sự thành công, tạo những ám ảnh nơi người đọc
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có một hạn chế phổ biến ở học sinhhiện nay là bài văn nghị luận thiếu chất văn Bài văn nghị luận có thể mạch lạc, rõ ràng,đáp ứng yêu cầu về nội dung tư tưởng nhưng nhạt về tình cảm, nghèo ngôn ngữ, thiếutâm huyết hoặc vụng về trong diễn đạt, nghĩa là chất văn còn hạn chế Bởi vậy, RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN THCS rất cần thiết, là định hướng đúng đắn cho học sinh.
Phần nội dung chuyên đề có cấu trúc như sau:
I Nhận diện đặc điểm của văn nghị luận xã hội
II Kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội đúng, hay và giàu chất văn.
III Hướng dẫn học sinh ôn luyện kiểu bài NLXH
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I NHẬN DIỆN ĐẶC ĐIỂM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
1 Khái niệm.
Nghị luận : nghị (xem xét, trao đổi; luận: bàn bạc, đánh giá) dùng lý lẽ, dẫn chứng
và cách thức lập luận để phân tích, bàn luận, đánh giá về một (các) vấn đề nào đó
Xã hội : các vấn đề của đời sống con người (triết học, lịch sử, kinh tế, đạo đức,
văn học nghệ thuật, lối sống, cách ứng xử…)
Nghị luận xã hội là những bài văn nghị luận bàn về các vấn đề xã hội (thực trạng
xã hội, các hiện tượng đời sống, vấn đề về lối sống của con người, các mối quan hệ củacon người trong xã hội…) nhằm thể hiện suy nghĩ, thái độ, tiếng nói chủ quan của ngườiviết về vấn đề đặt ra, góp phần tạo những tác động tích cực tới con người, bồi đắp nhữnggiá trị nhân văn và thúc đẩy sự tiến bộ chung của xã hội
2 Các kiểu bài nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội gồm ba dạng đề cơ bản: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; nghịluận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong một tácphẩm văn học
Dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường nhân một câu danh ngôn, mộtnhận định, đánh giá nào đó để yêu cầu người viết bàn luận và thể hiện tư tưởng, quanđiểm, thái độ của mình
Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống thường nêu lên một hiện tượng,một vấn đề có tính thời sự, được dư luận xã hội trong nước cũng như cộng đồng quốc tếquan tâm
Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học kết hợpkiểm tra được cả về năng lực đọc – hiểu tác phẩm văn học, cả về kiến thức xã hội và khảnăng nghị luận với hai hình thức sau: Từ một tác phẩm đã học, đề yêu cầu người viết bàn
về một ý nghĩa xã hội nào đó Cũng có thể từ một tác phẩm chưa được học, thường là câuchuyện nhỏ (truyện mi ni), đề yêu cầu bàn về ý nghĩa xã hội đặt ra trong đó
3 Yêu cầu của bài nghị luận xã hội.
* Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội:
- Những hiểu biết về chính trị, pháp luật;
- Kiến thức về lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lý xã hội…
- Những tin tức thời sự cập nhật
Trang 4* Đảm bảo kĩ năng nghị luận:
- Tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn
- Có ý thức triển khai thành các lu ậ n đi ể m chặt chẽ
- Dẫn chứng xác đáng, tiêu biểu
- L ậ p lu ậ n chặt chẽ, thuyết phục
- Ngôn ng ữ : trong sáng, có màu sắc luận lí vừa có sắc thái mĩ cảm
* Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn: Phải xuất phát từ một lập trường tư tưởng
đúng đắn, tiến bộ, cao đẹp, vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội hoặc từ cácnguyên tắc đạo lý làm người… để bàn bạc, phân tích, khen chê, đề xuất ý kiến
II KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐÚNG, HAY VÀ GIÀU CHẤT VĂN.
1 Những kinh nghiệm cần có để viết được bài văn nghị luận xã hội đúng, hay và giàu chất văn.
- Người viết cần xác định được yêu cầu của đề, nắm bắt tinh thần của đề bài Phải
xác định trúng, nắm bắt chính xác yêu cầu của đề bài thì người viết mới có thể có đượcđịnh hướng suy nghĩ đúng đắn, khoanh vùng kiến thức, phạm vi dẫn chứng để biện giảivấn đề
- Để bài viết có những tác động tích cực tới nhận thức và tình cảm con người,
người viết cần xác định cho mình lập trường và thái độ đúng đắn trên cơ sở những hiểu
biết về chuẩn mực đạo đức cũng như các chuẩn đánh giá chung của xã hội Có vậy sựbiện luận mới đúng, sắc và thuyết phục người đọc
- Tuy nhiên, người viết phải thể hiện được cái nhìn, đánh giá của riêng mình về
cuộc đời, con người, về mục đích, lối sống… Những điều đó không có trong sách vở màcần sự trải nghiệm của chính chủ thể
- Phải thể hiện được thái độ, tình cảm, nhiệt tình của người viết Những cảm xúc
chân thành chính là rung động của tâm hồn khi chạm vào cuộc sống, khiến bài văn khôngphải là bài thuyết giáo cho một tư tưởng đạo lí khô khan mà bài viết là sự chia sẻ chânthành của người viết về những gì mình trải qua, mình chiêm nghiệm Người viết cần tạocho mình tâm thế của người trong cuộc, đặt mình trong hoàn cảnh, tình huống của vấn
đề Khi đó, người viết sẽ có những suy ngẫm, đánh giá bằng chính những trải nghiệm củabản thân, điều này sẽ chi phối thái độ, cảm xúc, suy nghĩ, giọng điệu của người viết Đọc
Trang 5những bài văn này, người đọc sẽ có cảm giác như đang được đối thoại trực tiếp với ngườiviết, chất sống, “chất xã hội” sẽ hiện lên một cách tự nhiên mà sống động Tuy nhiên, nếuchỉ đặt mình là người trong cuộc, sử dụng điểm nhìn từ bên trong thì những suy ngẫmmang tính chủ quan, những đánh giá dễ mang tính cực đoan, một chiều, hoặc là ngợi ca
đề cao quá mức, hoặc là phê phán lên án quá độ Bởi vậy, để đánh giá vấn đề một cách
chính xác, toàn diện thì người viết cũng cần xác định cho mình điểm nhìn khách quan, xem xét vấn đề từ nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau Khi đó, bài văn nghị luận xã
hội dễ tìm được sự đồng cảm, đồng tình ở người đọc, thuyết phục người đọc
- Để giúp người đọc hiểu vấn đề, thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm
của người viết, bài văn nghị luận xã hội không chỉ cần luận điểm mạch lạc, lập luận chặtchẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp mà còn cần có chất văn hấp dẫn về hình
thức diễn đạt
+ Sử dụng linh hoạt các kiểu câu; phong phú, chính xác, tinh tế, độc đáo ngôn ngữ; viếtlời dẫn, lời chuyển ý sao cho khéo léo, uyển chuyển, mượt mà… và viết văn có hình ảnh để
nâng cao chất văn cho bài viết.
+ Sau bước giải thích từ ngữ quan trọng, nên lấy từ 2 – 3 ví dụ cụ thể hoá kháiniệm (nghĩa của từ ngữ quan trọng) Trên thực tế, bước này đã khơi dậy được không chỉtâm hồn, cảm xúc mà còn cả lối hành văn rất hình ảnh Có thể lấy ví dụ cụ thể hoá nghĩa
của từ hưởng thụ: Buổi sáng thức giấc, bạn bật tung cửa sổ để đón nhận khí trời và nắng
mai Đó là hưởng thụ, bạn đang hưởng thụ từ Mẹ Trái Đất Hay lấy hình ảnh gà mái và con suối nhỏ trong cuốn Đaghextan của tôi – Raxun Gamzatốp làm ví dụ cụ thể hoá cho
việc con người ta không tự biết mình là ai: gà mái mơ thấy mình là chim ưng, nó bay
khỏi vách đá và ngã gãy cánh Con suối nhỏ mơ thấy mình là dòng sông lớn, nó tràn vào bãi cát và lập tức bị hút khô ; hoặc so sánh người lạc quan với kẻ bi quan: nếu người
lạc quan nói sẽ có ánh sáng ở cuối đường hầm thì kẻ bi quan bảo sẽ có con tàu đâm
vào chúng ta mất
+ Trong việc sử dụng phối hợp, linh hoạt giữa các kiểu câu, khuyến khích họcsinh viết một số câu ghép, câu dài với nhiều vế tạo sự trùng điệp, câu mở rộng thành
phần, câu chứa các cặp từ quan hệ để tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các vế (Không
những … mà còn; Càng… càng; Bởi thế…cho nên, Tuy … nhưng) Đây là những kiểu
câu giàu màu sắc nghị luận, rất phù hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản nghịluận Kiểu câu này không chỉ đem lại cảm giác cân đối, mạch lạc, mà nó cũng nói nên
Trang 6rằng người viết thực sự có trường độ tư duy (biết nhìn vấn đề ở nhiều mức, nhiều cấp,nhiều mặt ngay trong một đơn vị rất ngắn là câu….)
+ Nên viết các kiểu câu có nội dung hai hoặc ba vế vừa phát triển vừa như đốinghịch nhau để gây ấn tượng (Tạm gọi đó là những câu chứa nghịch lí) Ví dụ “Cuộc
sống hiện đại của chúng ta đang nảy sinh quá nhiều nghịch lí Chúng ta đã xây được
nhiều nhà to hơn, vững chãi hơn, nhưng gia đình thì nhỏ lại, hạnh phúc gia đình thì mong manh hơn Chúng ta tạo ra nhiều máy tính để có được nhiều thông tin, nhiều kết nối, nhiều bản sao hơn, nhưng lại càng ít đi những giao tiếp giữa người với người Chúng ta có thể bay lên mặt trăng rồi quay về trái đất, nhưng chúng ta lại ngại rẽ qua con phố để sang nhà hàng xóm Nhiều khi chúng ta không chỉ khổ vì nghèo mà còn khổ
vì quá giàu có Đa số những vấn đề chưa giải quyết được của nhân loại ngày nay lại không phải do khách quan tự nhiên đem lại mà do chính chúng ta gieo ra…” Kiểu câu
như vậy cho thấy rõ nhất một cái nhìn có tính chất phát hiện đời sống của người viết
+ Dùng liên tiếp các câu có chung một kiểu cấu trúc ngữ pháp, thậm chí cóchung chủ ngữ để tạo sự trùng điệp - biện pháp lặp cấu trúc, góp phần nhấn mạnh ý.Cách diễn đạt này cũng sẽ rất thuyết phục nếu chúng ta biết kết hợp với cách nói lớplang
Trong bài viết “Làm thế nào để biết được giá trị của thời gian?”, tác giả của bài viết đã
vận dụng thành công lối diễn đạt này:
- Muốn biết giá trị thật sự của một năm, hãy hỏi một học sinh thi rớt đại học
- Muốn biết giá trị thật sự của một tháng, hãy hỏi người mẹ đã sanh con non
- Muốn biết giá trị thật sự của một tuần, hãy hỏi biên tập viên của một tạp chí
ra hàng tuần
- Muốn biết giá trị thật sự của một giờ, hãy hỏi những người đang yêu chờ đợi
để được gặp nhau
- Muốn biết giá trị thật sự của một phút, hãy hỏi người vừa nhỡ chuyến tàu
- Muốn biết giá trị thật sự của một giây, hãy hỏi người vừa thoát khỏi tai nạn
hiểm nghèo
- Muốn biết giá trị thật sự của một phần trăm giây, hãy hỏi người vừa đoạt huy
chương bạc Olympics
- …
Trang 7- Một giây là thời gian, mà thời gian là vòng xoáy bất tận, một giây của hôm
nay không như một giây của hôm qua và càng không giống một giây của ngày mai Hãy sống để không bao giờ hối tiếc dù chỉ một giây ngắn ngủi Có thể chỉ một giây sẽ thay đổi cuộc đời con người …
Cách diễn đạt này vừa xoáy sâu được ý muốn làm nổi bật, vừa thể hiện đượckiến thức phong phú của người viết, tạo ra được nét đặc biệt trong một đoạn văn bản.Vừa nghị luận một cách tập trung vừa tạo ra điểm mới trong diễn đạt, khiến người đọckhông thể bỏ qua
+ Cách diễn đạt trong văn nghị luận không cần phải “vang nhạc, sáng hình” nhưtrong thơ Nhưng nếu học sinh biết đặt những câu văn có hình ảnh, có nhịp điệu mộtcách hợp lí đôi khi lại có hiệu quả lớn Một điều thường thấy trong văn nghị luận, nhất
là nghị luận xã hội chính là: để tạo cách diễn đạt hình ảnh, người ta thường hay sử dụng
biện pháp so sánh.Ví dụ “ Người ta thường ví đời người như trái núi, sống là một cuộc
chinh phụng ngọn núi ấy Thật buồn cho những ai chưa lên đến đỉnh đã tuột xuống cái dốc bên kia của đời mình” Còn nhịp điệu của văn nghị luận thường được gợi lên từ
những câu văn nhiều vế với độ dài ngắn khác nhau, sự phối hợp các âm “Bất kì đàn
ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ…” (Hồ Chí Minh)
2 Cách viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận xã hội.
2.1 Mở bài
*Thế nào là một mở bài hay ?
- Là mở bài đúng : có phần dẫn dắt vào đề và nêu vấn đề nghị luận
- Là mở bài ngắn gọn, độc đáo, ấn tượng, sáng tạo
* Một số “mẹo” mở bài hay :
- Nhập đề bằng câu chuyện ngắn trong thực tiễn đời sống hay trong văn học
Trang 8- Là kết bài đúng : thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài; chỉ nêunhững ý khái quát, có tính tổng kết, không lan man, lặp lại những gì đã trình bày
- Là kết bài độc đáo, sáng tạo, tự nhiên và để lại dư vị
* Một số “mẹo” kết bài hay :
- Kết bài theo hình thức nêu câu hỏi đặt ra cho mọi người cùng suy nghĩ Hoặc viếtlời nhắn gửi mong muốn mọi người cùng nghĩ và làm theo
- Kết bài bằng danh ngôn, hoặc câu nói có tính triết lí
3 Cách triển khai phần thân bài đối với từng kiểu bài nghị luận xã hội
3.1 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
* Cách tư duy và xác định luận điểm:
+ Tư tưởng, đạo lý ấy là gì ?
+ Vì sao tư tưởng, đạo lý ấy lại như thế ?
+ Nó biểu hiện trong đời sống và văn học thế nào ?
+ Nó có ý nghĩa gì với cuộc sống, con người và bản thân anh (chị) ?
* Các bước triển khai luận điểm, luận cứ :
+ Bước 1 : Giải thích
Có 3 cấp độ giải thích :
- Giải thích từ ngữ, hình ảnh, khái niệm.
- Giải thích các cụm từ, các vế trong câu
- Giải nghĩa của cả câu
+ Bước 2 : Bàn luận (Phân tích, lý giải)
- Bộc lộ ý kiến về câu nói : đúng - sai, hợp lý - chưa hợp lý, hoàn toàn đúng– đúng một phần
- Đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề NL theo quan điểm
đánh giá của người viết (tự đặt ra và tìm các ý trả lời cho câu hỏi Vì sao?)
+ Bước 3: Mở rộng, nâng cao
Trang 9- Đánh giá vấn đề được đưa ra bàn luận đã là bài học xử thếhay chưa, nó có giá trị như thế nào trong việc hình thành nhân cách của conngười và sự tiến bộ của xã hội.
- Phản đề: nêu những hiện tượng trái chiều; đặt vấn đề vàonhững tình huống phức tạp của cuộc sống để bàn luận với cái nhìn nhiều chiều,thậm chí lật ngược vấn đề
+ Bước 4: Bài học nhận thức và hành động
Ví dụ minh họa
Đề: Đại văn hào người Nga M.Goorki từng tâm niệm: Nơi lạnh nhất không phải là
Bắc Cực mà là nơi không có tình thương.
Suy nghĩ của anh (chị) về nhận định trên (Đề HSG lớp 9 – năm 2012-2013)
1 Giải thích
- Bắc Cực nằm ở cực Bắc của trái đất, quanh năm băng tuyết bao phủ Sự sống ởnơi đây thật khó khăn, khắc nghiệt Cái lạnh nơi Bắc Cực là sự giá lạnh của thời tiết, củathiên nhiên do vị trí địa lí gây ra Cái lạnh ở Bắc Cực không ngăn cản được sự sống của
sự vật và niềm say mê khám phá những vùng đất lạ của con người
- Tình thương là tình cảm yêu thương, sự chia ngọt, sẻ bùi tự nguyện giữa conngười với con người trong cuộc sống Nơi thiếu tình thương là nơi giữa con người và conngười không tồn tại tình người, không có sự cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ Cái lạnh ởnơi không có tình thương là cái lạnh trong lòng người, là sự băng giá của trái tim
- Nhà văn Nga so sánh cái lạnh của đất trời với cái lạnh của lòng người Bắc Cực
là nơi lạnh giá của đất trời, nhưng con người sống thiếu tình thương thì còn lạnh hơn ởBắc Cực Cách so sánh giàu ý nghĩa biểu cảm cho chúng ta thấy được tầm quan trọng và
ý nghĩa của tình thương trong cuộc sống.
2 Luận bàn về câu nói
- Đây là một nhận định hoàn toàn đúng đắn
- Tình thương chính là sự đồng cảm, sẻ chia với mọi nỗi khổ đau, bất hạnh của conngười Nhờ có tình thương, con người biết quan tâm, giúp đỡ người khác, nhờ có tìnhthương con người sống gần gũi với nhau hơn Tình thương sẽ cứu chuộc thế giới ( First
new )… ( Dẫn chứng minh họa)
khổ đau của người khác, khi đó cuộc sống con người trở nên lạnh giá hơn ở Bắc Cực Con
Trang 10người sẽ thu mình trong vỏ bọc cô đơn, sẽ không có gia đình, không có cộng đồng,không có nhân loại, không có sự sống…( Dẫn chứng minh họa).
- Phê phán những người sống thiếu tình thương, không biết đồng cảm, sẻ chia vớiđau khổ, bất hạnh của con người
4 Bài học nhận thức và hành động
- Tình thương là tình cảm vô cùng quý giá đối với con người Con người sốngkhông có tình thương chỉ là quái vật
- Cần sống nhân hậu, yêu thương mọi người để cuộc sống thêm ý nghĩa.
3.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
* Cách tư duy và xác định luận điểm:
+ Thực trạng/hiện tượng đời sống ấy cụ thể thế nào ?
+ Nguyên nhân, hậu quả (kết quả) của thực trạng/hiện tượng ấy ?
+ Biện pháp nào để khắc phục ?
* Các bước triển khai luận điểm, luận cứ:
+ Bước 1: Nêu khái niệm hoặc nhận thức về hiện tượng.
+Bước 2: Thực trạng của hiện tượng đời sống, bao gồm :
Trang 11+ Bước 4: Phân tích, bình luận kết quả (hậu quả) Hậu quả : cần xem xét ở các
khía cạnh cá nhân – cộng đồng; hiện tại – tương lai…
+ Bước 5: Đề xuất giải pháp Giải pháp nên bắt nguồn từ nguyên nhân, căn cứ vào
nguyên nhân mà xác định giải pháp
+ Bước 6: Bài học nhận thức và hành động của bản thân
Ví dụ minh họa
Đề: Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề bạo lực học đường hiện nay?
1 Giải thích khái niệm:
- Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, tàn nhẫn, bất chấp công lý, đạo lý,
xúc phạm, trấn áp người khác gây nên những tổn thương cho con người trong phạm vitrường học
- Bạo lực học đường diễn ra dưới nhiều hình thức: bạo lực thể xác và bạo lực tinh
thần
2 Thực trạng:
- Bạo lực học đường hiện nay có xu hướng gia tăng nhanh chóng, phát triển phứctạp, diễn ra ở nhiều nơi, do đó đang trở thành một vấn nạn của xã hội
- Bạo lực học đường diễn ra dưới nhiều biểu hiện phức tạp:
+ Xúc phạm, lăng mạ, sỉ nhục, chà đạp nhân phẩm, làm tổn thương về mặt tinhthần con người thông qua lời nói
+ Đánh đập, hành hạ, làm tổn hại về sức khỏe, xâm phạm cơ thể con người thôngqua những hành vi bạo lực
+ Một bộ phận thanh niên coi đó là thú vui…
3 Hậu quả:
- Với nạn nhân: tổn thương về thể xác, tinh thần, gây tâm lý nặng nề, ảnh hưởngđến cuộc sống, học tập
- Làm biến thái môi trường giáo dục
- Với xã hội: tạo tâm lý bất ổn, lo lắng, hoang mang
- Với người gây ra hành vi bạo lực: con người phát triển không toàn diện; mầmmống của tội ác; làm hỏng tương lai của chính mình; bị mọi người lên án, xa lánh, cămghét
4 Nguyên nhân:
Trang 12- Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu hụt về nhân cách, thiếu khả năng kiểm soáthành vi ứng xử của bản thân, thiếu kỹ năng sống, sai lệch trong quan điểm sống.
- Có những căn bệnh tâm lý
- Do ảnh hưởng của môi trường văn hóa bạo lực từ cuộc sống và phim ảnh
- Thiếu sự quan tâm của gia đình
- Sự giáo dục trong nhà trường: nặng về dạy kiến thức văn hóa, chưa thật chútrọng dạy kỹ năng sống cho học sinh
- Xã hội chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có những giải pháp thiết thực, đồng
- Đấu tranh, tố cáo những hành vi bạo lực học đường
3.3 Nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm / đoạn tin ngắn.
* Cách tư duy và xác định luận điểm:
+ Vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm/đoạn tin là gì ?
+ Nó biểu hiện cụ thể thế nào trong tác phẩm/đoạn tin ấy và trong đời sống ?
+ Ý nghĩa mà nó đặt ra đối với đời sống nói chung và mỗi người nói riêng
* Cách triển khai luận điểm, luận cứ:
- Tùy theo vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm là vấn đề đạo lý hay hiện tượng xã hội
mà có cách triển khai tương ứng (Xem ở phần trước)
Ví dụ minh họa 1 Người đi săn và con vượn
Trang 13Có một người rất tài săn bắn Nếu con thú rừng nào không may gặp bác ta thì hôm ấy coi như ngày tận số.
Một hôm, người đi săn xách nỏ vào rừng Bác thấy một con vượn lông xám đang ngồi ôm con trên tảng đá Bác nhẹ nhàng rút mũi tên bắn trúng tim con vượn mẹ Vượn mẹ giật mình, hết nhìn mũi tên lại nhìn về phía người đi săn bằng đôi mắt căm giận, tay không rời con Máu ở vết thương từ từ rỉ ra loang khắp mũi tên.
Người đi săn đứng im chờ kết quả
Bỗng vượn mẹ nhẹ nhàng đặt con nằm xuống, vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu con, rồi nó hái cái lá to, vắt sữa vào và đặt lên miệng con Sau đó, vượn mẹ nghiến răng giật phắt mũi tên ra, rú lên một tiếng ghê rợn rồi từ từ gục xuống.
Người đi săn đứng lặng Hai giọt nước mắt từ từ lăn trên má Bác mắm môi bẻ gãy cung nỏ và lẳng lặng quay gót ra về.
Từ đấy, bác không bao giờ đi săn nữa
(Lep tôn- xtôi)
Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì?
1 Vấn đề cốt lõi đặt ra trong câu chuyện của Lep Tôn- xtôi là:
- Sự thiêng liêng và sức mạnh kì diệu của tình mẫu tử:
+ Vượn mẹ trước khi chết vẫn một lòng lo cho sự sống của con: “tay không rờicon”, “nhẹ nhàng đặt con nằm xuống”, “ vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu con”,
“hái lá to” “vắt sữa” “để lên miệng con” cho dù “máu ở vết thương từ từ rỉ raloang khắp mũi tên”
+ Chính tình mẫu tử cao đẹp đã làm thay đổi tình cảm, nhận thức của nhân vậtbác thợ săn: “đứng lặng”, “giọt nước mắt từ từ lăn trên má” “bẻ gãy cung nỏ”
“quay gót ra về” Tình thương con, sự quên mình của vượn mẹ đã cho người thợsăn một bài học sâu sắc
- Hành động lỗi lầm và sự hối hận, phục thiện của con người: bác thợ săn “khôngbao giờ đi săn nữa” Kết thúc câu chuyện, tác giả gợi mở một niềm tin, niềm hi vọng vào
sự hướng thiện của con người (ý này chỉ là nền tảng để từ đó học sinh trình bày suy
nghĩ của mình, do đó cần viết ngắn gọn)
2 Từ vấn đề mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm, câu chuyện gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề trong cuộc sống:
Trang 14- Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và cao đẹp Trong cuộc đời này cũng đã cóbiết bao nhiêu người mẹ yêu con, hi sinh cho con đến quên mình
- Con người có thể gây ra lỗi lầm thậm chí là những hành động tội ác nhưng conngười cũng sẽ biết thức tỉnh nếu tâm hồn được thanh lọc, soi sáng bởi những tình cảmcao đẹp đầy nhân tính
- Mối quan hệ và cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên Phải chăng
sự vô tình của con người đã gây ra những hậu quả đau lòng? Con người cần có nhận thức
và hành động như thế nào để bảo vệ môi trường tự nhiên và cũng là môi trường sống củachính mình?
3 Nhận thức và bài học cho bản thân.
Ví dụ minh họa 2 (Đề HSG lớp 9 tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011-2013)
Đọc đoạn tin sau:
Cô là người con gái thứ 20 trong một gia đình có 22 người con Cô sinh thiếu tháng nên mọi người nghĩ cô khó mà sống được.
Nhưng cô vẫn sống khỏe mạnh Năm lên 4 tuổi, cô bị viêm phổi và sốt phát ban Sau trận ốm đó, cô bị liệt chân trái và phải chống gậy khi di chuyển Năm 9 tuổi, cô bỏ gậy và bắt đầu tự đi Đến năm 13 tuổi cô đã có thể đi lại một cách bình thường và cô quyết định trở thành một vận động viên điền kinh Cô tham gia vào một cuộc thi chạy và
về cuối cùng Những năm sau đó cô đều tham dự tất cả các cuộc thi điền kinh, nhưng cũng đều về cuối Mọi người nói cô nên từ bỏ nhưng cô vẫn tiếp tục theo đuổi ước mơ trở thành một vận động viên điền kinh Và rồi cô đã chiến thắng trong một cuộc thi Từ
đó trở đi cô luôn chiến thắng trong tất cả các cuộc thi mà cô tham gia Sau đó cô đã giành được ba huy chương vàng Olimpic Cô là Wilma Rudolph (Wilma Rudolph là nữ
vận động viên người Mỹ)
Em có suy nghĩ gì từ ý nghĩa đoạn tin trên?
1 Giải thích ý nghĩa của đoạn tin.
- Đoạn tin là một câu chuyện kì diệu về một nữ vận động viên nổi tiếng của Mỹ có tên làWilma Rudolph Từ một đứa trẻ kém may mắn: sức khỏe yếu vì sinh thiếu tháng, lên 4tuổi bị liệt chân trái vì bệnh tật, Wilma Rudolph đã kiên trì tập luyện để có thể đi lại bìnhthường Lên 9 tuổi cô đã đi lại được và có ước mơ trở thành vận động viên điền kinh.Sau nhiều lần thất bại (về cuối trong các cuộc thi) cô vẫn không nản lòng Sau nhiều năm
cố gắng cô đã chiến thắng và giành được ba huy chương vàng Olimpic