Thực trạng việc dạy - học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ 7.2.2.1.Chú ý đúng mức việc tạo tâm thế để học sinh hứng thú tiếp 7.2.2.2 Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và vận dụng linh hoạ
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Vĩnh Tường
(Cơ quan thường trực: Phòng công thương huyện Vĩnh Tường)
Tên sáng kiến:
“ Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 6 yêu thích học môn Ngữ văn ở bậc THCS”
(Có Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến kèm theo)
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật,
và hoàn toàn chịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn
HIỆU TRƯỞNG
……… , tháng 2 năm 2018.
Người nộp đơn
Trang 3MỤC LỤC
7.1 Thực trạng việc dạy - học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ
7.2.2.1.Chú ý đúng mức việc tạo tâm thế để học sinh hứng thú tiếp
7.2.2.2 Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và vận dụng linh hoạt các
phương pháp, kĩ thuật tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh
9
Trang 47.2.2.3 Tích cực, chủ động sử dụng các dụng cụ trực quan, phương
7.2.2.4 Coi trọng và nâng cao chất lượng các tiết thực hành: Hoạt
động tập làm thơ, hoạt động Ngữ văn thi kể chuyện và chương trình
địa phương
20
7.2.2.5 Đánh giá chính xác, khách quan kết quả học tập của học sinh 22
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 22
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá
nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu
có) theo các nội dung
Trang 5BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Chúng ta đang sống trong thời kì hiện đại với sự phát triển kỳ diệu về trítuệ và khoa học công nghệ Vì vậy con người và trí tuệ, nhân lực và nhân tài làvấn đề chiến lược đầu tiên của mỗi quốc gia Trước yêu cầu cấp bách đó củathời đại, của đất nước trong quá trình đẩy nhanh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá,giáo dục Việt Nam nói riêng đã không ngừng đổi mới về phương pháp dạy học,thay đổi nội dung sách giáo khoa ở các cấp học nhằm nâng cao hiệu quả giáodục - đào tạo, tạo ra cho nước nhà những thế hệ chủ nhân tương lai “vừa hồngvừa chuyên” như Bác Hồ mong muốn; những con người năng động, sáng tạo,tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ Điều đó được khẳng định rõ trong luậtgiáo dục Điều 24: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớphọc, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn tác động đến tình cảm và đem lại niềm vui, niềm hứng thú học tậpcho học sinh”
Trong chương trình THCS, môn Ngữ văn có tầm quan trọng rất lớn trongviệc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mỗi kiến thức Ngữvăn như dòng phù sa mát lành góp phần bồi đắp những tình cảm cao đẹp, nuôidưỡng tâm hồn, trong sáng, hồn nhiên của các em Từ đó, môn học vừa giúp các
em dần hình thành nhân cách vừa dần hình thành kĩ năng cần thiết trong cuộcsống Nên việc tạo niềm yêu thích, hứng thú học tập cho môn học “đem lại niềmvui, niềm hứng thú học tập cho học sinh” là rất cần thiết
Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng như vậy, nên khi được là cầu nối giữanhững kiến thức Ngữ văn và học sinh, người giáo viên dạy văn như tôi thật hạnhphúc Qua những tháng năm gắn bó với nghề tôi thấm thía sâu sắc lời nói đầy ýnghĩa của nhà thơ Tố Hữu: “Dạy văn học thật là một niềm vui sướng lớn Quamỗi giờ văn học thầy giáo có thể làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống và lớnthêm một chút”
Tuy nhiên những năm gần đây, môn Ngữ văn không được nhiều học sinh
và các bậc phụ huynh coi trọng Một thực tế phải thừa nhận là do xu thế pháttriển kinh tế, do nhìn nhận của xã hội nên không ít bậc cha mẹ có hướng cho con
em mình theo học các môn khoa học tự nhiên
Trang 6Về phía học sinh, do áp lực từ chương trình học nhiều kiến thức, áp lực từ
sự kỳ vọng của cha mẹ muốn con, em mình học giỏi các môn khoa học tự nhiên,khiến các em không đủ thời gian suy nghĩ, sáng tạo một bài văn đúng nghĩa làsản phẩm tinh thần của mình Và kết quả là đến giờ làm văn, các em cho ranhững sản phẩm hời hợt, sơ sài, thiếu cảm xúc
Việc học sinh ngại học môn Ngữ văn, coi môn Ngữ văn là khó, là khổ còn
do một nguyên nhân rất lớn là: cách dạy Ngữ văn của một số giáo viên chưa tạo
- Địa chỉ tác giả sáng kiến:
- Số điện thoại: Email:
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh bậc THCS
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ triển khai nghiên cứu đề tài ởhọc kì I năm học 2017 - 2018
Bắt đầu từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018
Trang 77 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7 1 Thực trạng việc dạy - học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở 7.1.1 Khái quát vài nét về môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở.
Môn Ngữ văn là một môn quan trọng nhất của lĩnh vực khoa học xã hội,
môn học tập trung nghiên cứu thể hiện các vấn đề mang tính xã hội, các giá trịđạo đức nhân văn, tâm tư, tình cảm ý nguyện và quan niệm sống của con người Mục tiêu của môn học là nhằm giúp học sinh đạt được những kiến thức kĩnăng, thái độ để vừa hướng học sinh tới các giá trị Chân - Thiện – Mĩ, hoànthiện nhân cách; vừa hình thành những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứatuổi học sinh
Bộ môn Ngữ văn ở trung học cơ sở được cấu thành bởi ba phân môn:
Phân môn văn học:
Bao gồm các văn bản là các tác phẩm văn chương với nhiều thể loại, cácvăn bản nhật dụng Các văn bản còn có vai trò nền tảng chi phối khẳng định cácphân môn liên quan, là ngữ liệu quan trọng cung cấp cho phân môn Tiếng Việt,Tập làm văn
Phân môn Tiếng Việt
Là kiến thức từ ngữ, ngữ pháp đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ, cấutrúc, nghệ thuật… giúp hiểu rõ về môn Văn học Tiếng Việt trở thành chất liệu
cơ sở để xây dựng bài viết văn chương
Phân môn Tập làm văn
Là phân môn mang tính cộng hưởng của phân môn Văn học và Tiếng Việt
Nó là sự khẳng định đánh giá chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn Ngữvăn Điều quan trọng nhất ở phân môn Tập làm văn chính là vốn văn chương,vốn từ ngữ và khả năng tư duy nhạy cảm ở học sinh
Ba phân môn trên được in chung trong sách Ngữ văn ở các khối lớp vàđược thể hiện rõ trong từng bài học, ứng với từng tuần học: lớp 6,7,8 học 4 tiếttrên tuần; lớp 9 học 5 tiết trên tuần
Như vậy kiến thức môn học cho từng khối lớp rất dễ theo dõi và học tậptheo hướng tích hợp giữa ba phân môn
Trang 87.1.2 Thực trạng việc dạy và học môn ngữ văn ở trường trung học cơ
sở hiện nay
7.1.2.1 Thực trạng
Hiện nay học văn đang là mối quan tâm của xã hội, nhất là sự nhìn nhận
vị trí của môn học này trong xã hội và thái độ của đối với học sinh
7.1.2.1.1 Về phía học sinh:
Phần lớn học sinh đã nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn Ngữ văn đối với
sự phát triển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn và hình thành những kĩ năng sống cầnthiết của các em
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ học sinh nhận thức chưa đúng, đầy đủ về
vị trí, vai trò của môn Ngữ văn nên các em coi nhẹ, không hứng thú học và ngạihọc bộ môn Các em chưa thực sự tự giác tích cực trong giờ học ở lớp cũng nhưhọc ở nhà nên có biểu hiện đối phó: làm bài qua quýt, chép tài liệu: giờ kiểm trathì quay cóp nhìn bài; rất nhiều em( nhất là nam giới) bỏ giờ để chơi Game bởicác trò chơi ấy có sức cuốn hút hơn tất thảy mọi kiến thức; hơn nữa gần đây nănglực cảm thụ văn giảm sút rất nhiều Đứng trước một tác phẩm lay động trái timbao thế hệ nhưng các em không mảy may rung động, đứng trước những conngười có hoàn cảnh đáng thương trong cuộc sống nhưng các em quay lưng…đây
là thực trạng chung mà cả xã hội đã đều thấy và tốn không ít giấy mực viết về đềtài này
Với học sinh lớp 6, qua một thời gian dạy, tôi nhận thấy việc học Ngữ vănvới các em không hoàn toàn mới nhưng có sự khác biệt nhất định so với khi các emcòn học ở tiểu học Lên lớp 6, nội dung học nhiều hơn, khó hơn, phương pháp dạycủa thầy, cô ở trường trung học cơ sở khác hơn Sự thay đổi này không phải họcsinh nào cũng thích nghi ngay được Trừ một số em thích nghi nhanh, còn lại các
em tiếp thu bài chậm, trong giờ học các em tỏ ra mệt mỏi, không hăng hái phát biểu
ý kiến, vì thế giờ kiểm tra bài cũ nhiều em không thuộc bài Thái độ đó của họcsinh làm cho giờ học Ngữ văn với mục đích khám phá cái hay cái đẹp trong vănchương, trong cuộc đời thành một buổi học căng thẳng, học sinh chỉ thụ động ghichép Như vậy, giờ học Ngữ văn không đạt được mục tiêu bài học
7.1.2.1.2 Về phía giáo viên
Các giáo viên dạy Ngữ văn của trường đều ở trình độ đạt chuẩn, hoặc trênchuẩn Các thầy, cô giáo đều có ý thức trách nhiệm với học sinh, có tinh thần tựgiác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, được dạy đúng chuyên
Trang 9môn của mình Trong quá trình đổi mới giáo dục của cả nước, các thầy cô giáo
đã có rất nhiều cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phươngpháp kiểm tra đánh giá…Tuy nhiên, khả năng chuyên môn và phương pháp dạyhọc ở một số thầy, cô giáo vẫn còn hạn chế nhất định, chưa tạo ra hứng thú chohọc sinh trong giờ học
7.1.2.1.3 Khảo sát thực trạng
Ngay đầu năm học tôi đã có kế hoạch khảo sát học sinh để thấy rõ chấtlượng và thái độ học tập của các em đối với môn học Việc khảo sát ấy được thểhiện ở hai nội dung
Thứ nhất là ở bài kiểm tra số 1 tiết 17,18 với đề: “ Hãy kể lại một chuyện dân gian đã học hoặc đọc thêm.”
Thứ hai là bảng hỏi thái độ của học sinh với câu hỏi: “Em thích học môn văn ở mức độ nào?” với các mức độ: Thích - Bình thường - Không thích
Bảng 1: Kết quả kiểm tra bài viết văn số 1 của học sinh 2 lớp 6A, 6B
Trang 10Từ số liệu trên cho thấy, kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh khối 6không cao (điểm “Trung bình” và “Yếu” chiếm tới 61,97%) Đặc biệt là hứngthú học môn Ngữ văn của các em rất thấp (Chỉ có 15,49% “Thích” học mônNgữ văn, 49,29% “Bình thường” và có tới 35,21% “Không thích”).
7.1.2.2 Nguyên nhân
Thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan,trong đó tập trung chủ yếu từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, vị trí môn Ngữ văn không được xã hội coi trọng, đề cao và
nhìn nhận đúng mức (có quá ít các trường Đại học, các chuyên ngành thi vàhọc khối C, chủ yếu là khối A) Chính yếu tố này là nguyên nhân không nhỏtác động đến phụ huynh và học sinh
Thứ hai, nhu cầu, động cơ học tập môn Ngữ văn của học sinh nói chung
chưa thật sự mạnh mẽ, tích cực Học sinh còn coi việc học tập môn Ngữ vănnặng về trách nhiệm chứ chưa trở thành niềm đam mê, hứng khởi thực sự đốivới môn học Chính vì vậy, các em thiếu hứng thú say mê, thiếu sự nỗ lực,độc lập, sáng tạo trong học văn
Thứ ba, trình độ kiến thức và phương pháp học tập môn Ngữ văn của học
sinh lớp 6 còn hạn chế Sự thay đổi về nội dung, phương pháp giảng dạy của giáoviên trung học cơ sở so với giáo viên bậc Tiểu học khác nhiều làm cho đa số họcsinh chưa thích nghi ngay được Chỉ một số ít các em thích nghi nhanh, còn lại đa
số các em tiếp thu bài chậm, trong giờ học các em tỏ ra mệt mỏi, không hăng háiphát biểu ý kiến Giờ học Ngữ văn dễ trở thành một buổi học căng thẳng, học sinhthụ động ghi chép, cho ra những sản phẩm hời hợt, sơ sài, thiếu cảm xúc
Thứ tư, phương pháp giảng dạy môn dạy Ngữ văn của một số giáo viên chủ
yếu quan tâm đến chuẩn kiến thức, chưa quan tâm đúng mức đến việc tạo rahứng thú cho người học Giáo viên chủ yếu hướng vào thực hiện chức năngtruyền thụ, chưa chú ý đến việc thực hiện chức năng tổ chức, khuyến khích thái
độ học tập tích cực của học sinh Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cựcchưa được vận dụng phổ biến và thường xuyên
Hơn nữa, phương pháp kiểm tra, đánh giá của không ít giáo viên vẫn chưađáp ứng yêu cầu đổi mới Các tiêu chí đánh giá kết quả học tập chủ yếu vẫn dựavào mức độ tái hiện kiến thức, chưa chú ý đến khả năng sáng tạo, chưa khích lệcác cách thức tư duy độc đáo, phong cách riêng của học sinh
Trang 11Thứ năm, hệ thống tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, cơ sở vật chất kỹ
thuật dạy học của nhà trường thường xuyên được ngành giáo dục trang bị, bổ
sung Tuy nhiên, các thiết bị dạy học trực quan, thiết bị dạy học hiện đại chomôn Ngữ văn còn ít, đơn điệu chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạyhọc, đã ảnh hưởng nhất định đến việc tạo hứng thú cho học sinh
Từ thực trạng và nguyên nhân trên, với suy nghĩ làm thế nào để tìm cáchtháo gỡ vấn đề nên tôi đã tiến hành một số biện pháp để khơi gợi hứng thú họcNgữ văn của học sinh lớp 6 , học kì I năm học 2014-2015 vừa qua ở đơn vị mìnhgiảng dạy và đã thu được kết quả rất khả quan
7.2 Một số biện pháp nhằm tạo cho học sinh niềm yêu thích trong học môn Ngữ văn lớp 6
7.2.1 Đối với học sinh
Học sinh cần nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn Ngữ văn đối với sự pháttriển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn và hình thành những kĩ năng sống cần thiếtcủa các em Qua mỗi tiết dạy, thầy cô khơi gợi niềm yêu thích, thái độ coi trọng
và say mê đối với môn học
Muốn vậy, ngay từ khi nhận lớp, giáo viên phân loại từng đối tượng học sinh
để có kế hoạch, chương trình thích hợp Thường xuyên tìm lắng nghe, tìm hiểutâm lí, sở thích nguyện vọng của các em để kịp thời điều chỉnh phương pháp, cáchthức giảng dạy cho phù hợp
Giúp học sinh lớp 6 làm quen và thích nghi nhanh với phương pháp, cách thứchọc Ngữ văn ở trường THCS
Trang bị đầy đủ sách giáo khoa, vở ghi cho môn học Động viên các em đọcsoạn, chuẩn bị bài ở nhà để đến lớp tiếp cận với kiến thức dễ hiểu Liên hệ với phụhuynh cùng quan tâm, động viên sát sao việc học tập của con em họ ở nhà
7.2.2 Đối với giáo viên
7.2.2.1 Chú ý đúng mức việc tạo tâm thế để học sinh hứng thú tiếp thu bài học
Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng tạo nên thành công của bài dạy Nếukhông có bước này một giờ văn sẽ trở nên khô khan, kém sinh động Có nhiều cáchtạo tâm thế cho học sinh bước vào tiếp thu bài mới
Trước hết giáo viên tạo khoảng cách gần gũi thân mật với trò bằng lời nói vui,bằng nụ cười tươi hoặc bằng một sự quan tâm nào đó Thái độ ấy của cô sẽ kéo gần
Trang 12khoảng cách thầy trò và sẽ giúp học sinh tự tin, thoải mái hơn Bên cạnh đó, giáoviên linh hoạt trong bước khởi động Đây là một hoạt động tạo tâm thế và hứngthú rất rõ cho học sinh tiếp thu bài mới Tuỳ vào nội dung bài học, đối tượng họcsinh, cơ sở vật chất để chọn cách mở bài hợp lí nhất Có rất nhiều cách khởiđộng:
Cách 1: Khởi động bằng cách giới thiệu một số tập tục, lễ hội truyền
thống bằng một cuộc thi nhỏ: thi giới thiệu về tác giả, tác phẩm; thi trả lời nhanhcác bài tập trắc nghiệm; thi đọc diễn cảm…
Ví dụ : Khi dạy bài “Con Rồng - cháu Tiên” tiết 1 giới thiệu với các em về
lễ hội Đền Hùng ngày 10-3 âm lịch hằng năm; dạy bài “Thánh Gióng” tiết 5,6
giới thiệu về lễ hội làng Gióng ở Sóc Sơn - Hà Nội vào ngày 9-4 Âm lịch, dạy
bài “hướng dẫn đọc thêm: Bánh chưng, bánh giầy” tiết 2 giáo viên đưa các em
trở lại với phong tục trong ngày Tết ở gia đình; thi giới thiệu về tác giả, tácphẩm; thi làm bài bập trắc nghiệm nhanh….Từ những hiểu biết đó giáo viên gắnkết với nội dung bài học, chắc chắn học sinh sẽ rất hào hứng khám phá bài học
Cách 2: Khởi động bằng những lời giới thiệu hay, ấn tượng của thầy giáo.
Đây là nghệ thuật sư phạm của giáo viên
Ví dụ : Bài “Con rồng cháu tiên” tôi có lời vào bài như sau “Cô đã có dịp
được đến một số miền quê trên đất nước ta, mỗi nơi để lại cho cô một khám phámới mẻ về đất nước, con người Việt Nam Nhưng đến đất Phong Châu, cô cócảm xúc đặc biệt là sự thành kính mảnh đất thiêng, nơi Cội nguồn dân tộc, nơicác Vua Hùng dựng nước từ đó” Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu về
nguồn gốc: “Con Rồng Cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam.
Ví dụ : Bài “Vượt thác” tiết 85, tôi sử dụng phương pháp ôn cũ học mới,
giúp học sinh liên tưởng về những địa danh, nhớ lại kiến thức đã học, lời giớithiệu như sau:
“Nếu như trong “Sông nước Cà Mau” (tiết 77) nhà văn Đoàn Giỏi đã đưa
chúng ta đến tham quan cảnh sắc phong phú, độc đáo của vùng đất cực nam Tổ
Quốc, thì với đoạn trích “Vượt thác” Võ Quảng lại dẫn chúng ta ngược dòng sông
Thu Bồn, thuộc miền Trung Trung Bộ, đến tận thượng nguồn để lấy gỗ Nhà văn
đã giúp ta hiểu thêm về sự hùng vĩ của sông nước cũng như sự dũng cảm kiêncường của con người nơi đây khi họ chinh phục và chiến thắng thiên nhiên….”
Cách 3: Khởi động bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin, hoặc đồ
dùng trực quan Như đã nói ở trên đây là phương tiện tạo hứng thú rất có hiệu
Trang 13quả Bằng hình ảnh, âm thanh, màu sắc, bảng biểu…trực quan sinh động đượctreo, được chiếu trên bảng học sinh sẽ tập trung mọi giác quan để học bài mới.
Ví dụ : Khi dạy bài “Sông nước cà mau” tiết 77, “Động Phong Nha” tiết
129, 130, “Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử” tiết 123…, giáo viên có những
hình ảnh sinh động liên quan đến bài học chiếu lên màn hình kết hợp với lời giớithiệu hay sẽ rất hiệu quả
Tóm lại, bằng nhiều hình thức, phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viên
sẽ khơi gợi được hứng thú học tập cho học sinh
7.2.2.2 Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Mỗi bài học, bài giảng là sự vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp, kĩthuật và kĩ năng sư phạm của người giáo viên Song kích thích hứng thú củahọc sinh trong học tập tôi đã chú ý hơn, linh hoạt hơn với các phương pháp, kĩthuật sau:
7.2.2.2.1 Phương pháp đọc sáng tạo
Đây là phương pháp đặc biệt được sử dụng chủ yếu trong giờ văn học.Trung tâm của phương pháp này là đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là thể hiện sángtạo tác phẩm văn học trong giọng đọc nhằm tác động đến những người nghe.Nếu giáo viên đọc diễn cảm tốt thì sẽ tạo nên bầu không khí tươi mát trong giờhọc Khi đọc cần chú ý đến từ ngữ, câu, ngắt nhịp, gieo vần… Nếu như cácphương pháp khác thông thường tác động đến lý trí thì đọc diễn cảm chủ yếu tácđộng đến tình cảm Người học khi nghe đọc hay sẽ tác động đến cảm xúc vàkích thích hoạt động hình dung tưởng tượng, phân tích, đánh giá, thưởng thứctác phẩm
Có thể thấy rất rõ rằng trên thực tế, khi ở nhà học sinh đã tiếp xúc với vănbản không chỉ một lần; việc lên lớp đọc lại văn bản nếu không tạo được sự khácbiệt thì dễ gây nhàm chán và mất tập trung Do đó, bằng hình thức đọc diễn cảm,giáo viên có thể tạo cho học sinh những bất ngờ, hoặc sự hứng thú và có thểkhiến các em có cảm nhận mới mẻ về văn bản
Với thơ đọc diễn cảm là phải vang nhạc, sáng lời ở những chỗ cách ngắtnhịp, gieo vần…; với truyện đọc sáng tạo phải thể hiện rõ lời kể, lời thoại củatừng nhân vật với những cung bậc tình cảm trong từng hoàn cảnh khác nhau
Trang 14Ví dụ : Khi học văn bản “Thánh gióng” tiết 5,6 giáo viên hướng dẫn các em
đọc rõ lời kể về lai lịch nguồn gốc và đặc điểm của Gióng; lời thoại của Gióngkhi nói với sứ giả
Khi học sinh đọc diễn cảm được, nhất thiết giáo viên phải có sự động viênkhích lệ cũng như những hướng dẫn, uốn nắn cần thiết có như vậy các em mớitích cực tự rèn đọc
7.2.2.2.2 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp dạy học tích cực đưa học sinh vào vị trí của nhânvật hay tác giả để cùng trải nghiệm cùng chia sẻ với nhà văn và con người trongtác phẩm về những suy nghĩ, những ứng xử trong cuộc sống Qua việc đóng vaihọc sinh có thể “đồng sáng tạo” cùng nhà văn khi thể hiện cách cảm, cách nghĩ,cách xử lí tình huống của mình
Chúng ta đều biết Ngữ văn 6 kì I phần Văn chủ yếu giới thiệu các tác phẩm
tự sự dân gian Đây đều là những tác phẩm quen thuộc trong đời sống tâm hồncủa nhân dân ta nên rất nhiều em đã đọc, đã nghe Vì vậy khi được học lại cáctác phẩm này các em sẽ có thái độ chán nản Nhưng khi giáo viên cho các emđóng vai thì hiệu quả giờ dạy tăng lên rõ rệt Bởi khi được hoà mình trong lờinói, suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật không chỉ học sinh trực tiếp đóng vaithấy thích thú mà tất cả các em ngồi xem cũng thấy câu chuyện sinh động mới
mẻ hơn rất nhiều Cũng từ hình thức đóng vai ấy các em sẽ thấm thía hơn giá trịcủa tác phẩm văn học
Ví dụ : Khi dạy văn bản truyện dân gian “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” tiết 9,
“Thạch Sanh”tiết 21,22…, bên cạnh việc dặn dò học sinh đọc soạn chuẩn bị bài
ở nhà, giáo viên khuyến khích các em phân vai các nhân vật trong truyện để thểhiện câu chuyện trong giờ học phần đọc văn bản
Hay khi phân tích văn bản, giáo viên có thể sử dụng phương pháp đóngvai, nhập vai nhân vật trong tình huống thảo luận để nhiều học sinh được nói lênquan điểm xử lí tình huống Từ đó các em sẽ hình thành kĩ năng sống cho mìnhqua các bài học Đây vừa là điều gây hứng thú và kích thích sự sáng tạo của họcsinh, vừa là yêu cầu tích hợp của môn học
Ví dụ : Trong bài dạy “Hướng dẫn đọc thêm: Ông lão đánh cá và con cá vàng” tiết 35 để tìm hiểu và phân tích về mụ vợ ông lão đánh cá, tôi đã đặt câu
hỏi thảo luận:
Trang 15“Mụ vợ đã đòi hỏi rất nhiều thứ, từ vật chất tầm thường đến sự giàu sang và
cả quyền lực tối cao nữa nếu em là mụ vợ, em sẽ hành động như thế nào?”
Sau đây là các ý kiến trả lời:
Ý kiến 1: Em sẽ không đòi hỏi gì cả, mọi thứ sẽ do mình tự làm ra
Ý kiến 2: Em chỉ đòi cái máng lợn và cái nhà rộng
Ý kiến 3: Em chỉ đòi những gì thật cần thiết cho cuộc sống của hai vợchồng người dân chài bình thường
Trước giả thuyết ấy học sinh sẽ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau thể hiện cáchhiểu về cách hiểu về tác Khi học sinh đưa ra ý kiến được thầy cô giáo tôn trọngđón nhận, các em sẽ tự tin hơn, sẽ phấn khởi thể hiện những suy nghĩ chân thànhhơn trong khi phát biểu xây dựng bài
7.2.2.2.3 Phương pháp dùng lời có nghệ thuật
Theo phương pháp giảng dạy mới, người thầy có chức năng tổ chức hoạtđộng là chủ yếu, nhưng như thế không có nghĩa là đồng nhất với sự xem nhẹ,phủ nhận vai trò của lời giảng của thầy trong một giờ văn
Dùng những lời bình hấp dẫn và đúng chỗ có tác dụng rất lớn trong việcrèn luyện cảm thụ kích thích mầm sáng tạo của học sinh, tạo nên sự giao lưu vềtình cảm trong giờ văn Lời bình vì thế, trước hết phải giàu cảm xúc, là sảnphẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản Mặt khác, nó phải độcđáo, giáo viên phải chọn cách nói ấn tượng, ưu tiên tiên những lối diễn đạt giàuhình ảnh nhằm tác động mạnh đến học sinh
Ví dụ : Trong bài “Cây bút thần” tiết 30,31 truyện cổ tích Trung Quốc, hình
ảnh Mã Lương dùng cây bút liên tục vẽ những đường cong lớn, mượn giông tố
dữ dội, mù mịt, chôn vùi triều đình vua quan tàn ác dưới muôn lớp sóng bạc đầutrừ hại cho dân, trong lời giảng tôi cho học sinh thấy việc làm của Mã Lươngkhông chỉ là sự chiến thắng của một em bé lương thiện với những kẻ tàn ác, mà
đó chính là ước mơ chiến thắng của hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc dướithời phong kiến, là tiếng reo vang sảng khoái của họ Mã Lương với cây bútthần đã thực hiện trọn vẹn niềm mơ ước tự do giải phóng không chỉ của nhândân Trung Quốc, mà còn là chính mơ ước của nhân dân ta thời xưa
Ví dụ : Dạy “Cô Tô” tiết 103 khi cho học sinh tìm hiểu về cảnh mặt trời mọc
trên biển, trong đó nhà văn Nguyễn Tuân so sánh mặt trời mọc “Y như một mâm
lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những