Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên không khỏi lúng túng và gặp nhiều khó khăn như: Hàng rào ngôn ngữ, sự cách biệt về thời gian, sự trải nghiệm của học sinh lớp 7 còn hạn chế.. T
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN A: MỞ ĐẦU
PHẦN B: NỘI DUNG
II Nội dung:
Một cách tiếp cận và giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ
văn 7
6
3- Tìm hiểu văn bản (sự kết hợp giữa bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch
thơ)
9
4- Chọn lọc một số chi tiết để phân tích và bình giá 12 5- Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy - học Thơ Đường 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN A: MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Môn Ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục của trường THCS Tạo điều kiện để học sinh hoà nhập một cách chủ động và tích cực với xã hội - môi trường hiện tại và tương lai Cung cấp cho học sinh những tri thức và phương pháp để tiếp nhận văn học, thực hành giao tiếp
Trang 2Tiếng Việt Học sinh có khả năng tự thâm nhập các lĩnh vực văn hoá, xã hội quan trọng như gần gũi và thiết thực của Việt Nam và thế giới để chủ động và tự tin trước cuộc sống
Điểm mới trong sách giáo khoa Ngữ văn 7, học sinh được học thơ Đường Đây là kiến thức học sinh được tiếp nhận ở lớp 9 theo chơng trình cũ Trong chương trình cũ thơ Đường được dạy một cách cô lập hay dạy hoàn toàn khác Tiếng việt, tập làm văn đều dùng chất liệu thơ Đường không chỉ để khắc hoạ kiến thức mới mà còn để làm để luyện tập Một điều chúng ta thấy rất rõ khi các em học các bài thơ Đường ngoài cảm thụ được cái tình, cái cảnh trong các bài thơ đó; qua
đó bài thơ Đường chúng ta còn bồi dưỡng cho học sinh từ Hán Việt Như vậy trước khi học các bài thơ Đường, vốn từ Hán Việt của các em rất hạn chế cho nên khả năng cảm thụ thơ Đường là rất khó khăn Vì vậy khó khăn cả người dạy và người học Nhưng chúng ta không nên định kiến cho rằng dạy thơ Đường là khó, mà trong quá trình dạy người giáo viên phải tìm hướng đi tạo thời cơ tốt cho học sinh tiếp cận phần thơ Đường tốt hơn Với lý do đó tôi xin trình bày “Một cách tiếp cận
và giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7”có kết quả
II MỤC ĐÍCH CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Thơ Đường là thành tựu rực rỡ nhất của văn học Trung Quốc Mọi phương diện của nó đều đạt đến trình độ tiêu biểu của thơ cổ điển Trung Quốc nói riêng và của thơ ca nhân loại nói chung Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm của con người đời Đường một cách sâu sắc Nội dung phong phú được thể hiện bằng hình thức thơ hoàn mỹ Thơ Đường là sự kế thừa và phát triển cao độ của thơ ca cổ điển Trung Quốc mà những phương diện của thi pháp thơ cổ điển của Trung Quốc vốn rất tiêu biểu Do
đó, thi pháp thơ Đường rất đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc Hiểu được thơ Đường một cách thấu đáo đã là khá, việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất nhiều Đó là vấn đề mà giáo viên đứng lớp như chúng tôi rất trăn trở
Trang 3Thơ Đường rất phong phú cả về nội dung lẫn nghệ thuật Nhưng điều tôi trình bày dưới đây chỉ là vài suy nghĩ của cá nhân về một vài phương pháp giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7
III.PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1 Phạm vi nghiên cứu:
Chuyên đề tập chung nghiên cứu: Một cách tiếp cận thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7 THCS
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu
- Điều tra
- Khái quát- Phân tích- Tổng hợp
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 7
PHẦN B: NỘI DUNG
I CƠ SỞ KHOA HỌC:
1 Cơ sở lý luận:
Thơ Đường là thành tựu tiêu biểu nhất của văn học đời Đường (từ thế kỷ VII
đến thế kỷX) Đối với lịch sử văn học, thơ Đường ra đời trước nền văn học trung đại Việt Nam gần 3 thế kỷ Đối với bạn đọc Việt Nam, nhất là học sinh THCS, thơ Đường là sản phẩm tinh thần vừa xa về khoảng cách thời gian vừa xưa về mặt ngôn
Trang 4từ Nhưng học thơ Đường không phải chỉ chiêm ngưỡng các sản phẩm “cổ vật” mà chúng ta vẫn cần phải hiểu được tiếng nói của người xưa và phải biết rung cảm
trước những tâm hồn cao đẹp
2 Cơ sở thực tiễn:
Bộ phận văn học nước ngoài nói chung và thơ Đường nói riêng ở trường
THCS là một mảng khó dạy đối với giáo viên Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên không khỏi lúng túng và gặp nhiều khó khăn như: Hàng rào ngôn ngữ,
sự cách biệt về thời gian, sự trải nghiệm của học sinh lớp 7 còn hạn chế
Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn nêu trên và đáp ứng yêu cầu giảng dạy Tất nhiên giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ các sách nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp ,vừa sức với học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn trên để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ Đường.Sách giáo khoa Ngữ văn trung học
cơ sở có đưa vào chương trình một lượng không nhiều các tác phẩm thơ Đường, song thơ Đường vốn rất hàm súc, nói ít gợi nhiều, ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước
lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại Tiếp nhận thơ Đường đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở thì quả là điều không hề đơn giản Chính vì vậy người giáo viên phải là chiếc cầu nối giúp các em cảm nhận được thơ Đường - một thành tựu của thơ ca nhân loại
Mấy năm gần đây, việc dạy phần Văn học nước ngoài nói chung và các tác
phẩm Thơ Đường ở THCS đó khó hơn trước Một phần do chưong trình và sách giáo khoa được cải tiến, phần khác do bản thân đời sống văn học cũng có thay đổi Tuy nhiên, kết quả của việc dạy học mảng văn học được coi là khó này có lẽ chưa đáp ứng được sự mong mỏi không chỉ của xã hội và của các bậc cha mẹ học sinh,
mà còn của chính bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn
Theo phân phối chương trình Ngữ văn bậc THCS, thơ Đường được chọn dạy
4 bài ở lớp 7, trong học kì I với tổng số tiết 4 tiết Đó là những bài thơ đặc sắc, lại ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ, gần gũi về nhiều mặt với các bài thất ngôn bát cú, tuyệt
Trang 5cú Việt Nam Đó là các bài: Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương), Vọng Lư Sơn bộc bố, Tĩnh dạ tứ ( Lí Bạch ), Mao ốc vị thu phong sở phá ca (ĐỗPhủ) Với 4 tác
phẩm chọn giảng (ở nhiều thể thơ khác nhau), phần văn học đặc sắc đại diện cho một thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc này đó gúp phần hình thành năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Thông qua việc tiếp nhận, học sinh sẽ hiểu được những nét độc đáo của thơ ca đời Đường và có tác dụng rất lớn trong quá trình liên
hệ học tập các tác phẩm thơ của dân tộc (đặc biệt là thơ ca thời kì Trung đại)
Tuy nhiên, do đặc trưng về thể loại và ngôn ngữ, việc dạy Thơ Đường trong nhà trường lâu nay thường gặp những khó khăn nằm trong những khó khăn chung của bộ phận văn học dịch Các tác phẩm Thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7 cũng thuộc vào tình trạng này Khó khăn cơ bản là ở chỗ giáo viên và học sinh phải đối diện trực tiếp với các văn bản tiếng nước ngoài, mặc dù có bản dịch nhưng vẫn còn nhiều chênh lệch; mặt khác, các bài Thơ Đường thường ngắn và ý nghĩa thường ẩn sâu trong ngôn ngữ tác phẩm, đôi khi vượt ra ngoài ngôn ngữ biểu hiện Vì vậy, một thực tế phổ biến là giáo viên thường thụ động dựa vào hướng dẫn và các bản dịch để giảng cho học sinh mà ít quan tâm đến nguyên tác tác phẩm Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc chuyển tải cái hay, cái đẹp của tác phẩm tới học sinh Với cách dạy ấy, học sinh chỉ nhớ "vẹt" ý của bài mà không hiểu sâu sắc tác phẩm, không phát huy được năng lực sáng tạo; chỉ sau thời gian ngắn, những nội dung ấy nếu không được ôn lại, sẽ nhanh chóng ra khỏi trí nhớ, lâu dần, thói quen đó làm mất hứng thú của học sinh đối với bộ môn Văn
Xuất phát từ những vấn đề có tính lý luận và cơ sở thực tiễn trên cộng với những trăn trở của bản thân, với sáng kiến kinh nghiệm: “Một cách tiếp cận và giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7”, tôi mong muốn gúp một phần nhỏ cùng với các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy phần Thơ Đường trao đổi để từng bước khắc phục những khó khăn, tồn tại của cách dạy cũ, nâng chất lượng các bài giảng Thơ Đường cho học sinh lớp 7 đạt những kết quả cao hơn
II NỘI DUNG:
Trang 6“Một cách tiếp cận và giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7”
Thơ Đường là một vườn hoa rộng lớn, mỗi bài thơ mang trong mình một dáng
vẻ độc đáo riêng về mặt nội dung, song nếu đi sâu phân tích, bình giá có tính lý luận chúng ta có thể thấy được trong mỗi bài thơ vẫn chất chứa những hơi thở chung, gộp lại thành những nét của một phong cách Đường thi Đó là chất cổ điển trong vẻ đẹp, trong màu sắc không gian và thời gian; là bút pháp chấm phá như muốn ghi lại linh hồn của tạo vật; là điểm nhấn nghệ thuật rộng mở, không tĩnh nhưng không quá động Để giúp học sinh có thể tiếp thu tốt hơn những tác phẩm thơ Đường tôi xin nêu một số cách dẫn dắt học sinh tiếp cận và cảm thụ tác phẩm thơ đường theo hướng tích cực:
1 Đưa học sinh vào thế giới quan của nhà thơ:
Như chúng ta đã biết, tác phẩm văn học là sự phản ánh hiện thực khách quan qua sự nhào nặn của nghệ sĩ Vì vậy mỗi tác phẩm (dù là thơ ca hay văn xuôi) về căn bản cũng là sự phản ánh cuộc sống theo quan điểm nhà văn, nhà thơ Tác phẩm
là nơi nhàvăn, nhà thơ gửi gắm những cảm giác, ý nghĩ của mình, đồng thời là cuộc sống nội tâm nhà văn Chỉ có miêu tả trong tác phẩm những gì mình đã xúc động thì nhà văn, nhà thơ, mới làm cho độc giả xúc động được.Theo nghĩa này, thì khi dạy bất cứ tác phẩm nào, người giáo viên cũng cần đưa học sinh vào thế giới quan của tác giả, giới thiệu những nét tiêu biểu về thân thế của tác giả và hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm
Phân tích thơ trước hết phải bám vào ngôn từ của tác phẩm, tuy nhiên có nhiều trường hợp hiểu thân thế của tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm có thể giúp ích rất nhiều trong việc phân tích, cảm thụ cũng như xác định ý nghĩa giá trị của tác phẩm
Chẳng hạn, thế giới quan trong thơ Lý Bạch là thế giới của một ông tiên làm thơ; Ông là người thông minh, biết làm thơ từ thuở nhỏ, giao du rộng rãi, thạo kiếm thuật Từ trẻ ông đã xa gia đình đi du ngoạn tìm đường lập công danh sự nghiệp Chính vì điều đó đó ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách thơ của ông: một tâm
Trang 7hồn phóng khoáng, tự do, hình ảnh thơ tươi sáng kỳ vĩ, một người thích viễn du, thích thưởng ngoạn cái đẹp Đặc trưng này trong con người ông đã ảnh hưởng đến các tác phẩm của ông.Vì vậy, dạy thơ ông giáo viên có thể dẫn cho học sinh cảm nhận theo hướng trên, chẳng hạn trong 2 câu thơ:
Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên
(Vọng Lư Sơn bộc bố)
Dịch thơ : Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước
Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây
Lý Bạch đã xây dựng một hình tượng thiên nhiên kỳ vĩ và diệu xảo nhờ trí tưởng tượng mạnh mẽ kì lạ đạt đến mức điêu luyện Chính sự lãng mạn, phóng túng đó tạo nên nét riêng trong thơ Lý Bạch
Dạy Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) học sinh phải nắm được:
Thuở nhỏ Lí Bạch thường lên núi Nga Mĩ ở quê nhà ngắm trăng Từ 25 tuổi, ông
đã xa quê và xa mãi Bởi vậy cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà
da diết
Còn dạy thơ Đỗ Phủ, giáo viên cần hướng học sinh vào chất thánh trong con người ông, phong cách thơ ông khác hẳn với Lý Bạch, ông viết về mọi đề tài và không đề tài nào thoát ly thời cuộc vì cuộc đời ông nhiều gian nan vất vả Ông đã
có một thời gian ngắn làm quan song từ quan vì xảy ra sự biến An Lộc Sơn vả lại cũng không được nhà vua tín nhiệm Gần như suốt cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo đói bệnh tật Ông là đại diện của khuynh hướng thơ hiện thực, ngòi bút của ông luôn hướng vào phía dân nghèo:
… Ước được nhà rộng muôn ngàn gian
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
( Bài ca nhà tranh bị gió thu phá )
Trang 8Men theo chặng đường thơ Đỗ Phủ sẽ giúp học sinh thấy được xã hội đời Đường như một bức tranh đậm nét Qua đó hiểu thêm về phong cách thơ của tác giả
Dạy tác phẩm “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương cần hiểu được: ông làngười thông minh, học rộng Đậu tiến sĩ, làm quan trên 50 năm dưới triều vua ĐườngHuyền Tụng, được nhà vua vị nể Từ lúc trai trẻ đến năm 744 (tức là năm ông 86 tuổi), ông mới cáo quan trở về quê hương trong sự lưu lưyến của vua và bạn bố ở kinh thành
Với Nhan đề “Ngẫu thư” (ngẫu nhiên viết) tức là tác giả không chủ định làm thơ ngay lúc đặt chân đến quê nhà Không chủ đích viết nhưng sao lại viết? Bởi vì vừa đặt chân về quê sau bao năm xa cách lại bị bọn trẻ trong làng gọi là “khách” Đó là
“cú sốc”
với tác giả nhưng lại là duyên cớ để tác giả viết bài thơ này Ẩn đằng sau duyên cớ
đó là tình cảm yêu quê hương luôn thường trực và bất cứ lúc nào cũng được thổ lộ
2 - Bước đầu tìm hiểu thể thơ:
Trong giảng dạy Thơ Đường, việc khai thác nội dung của tác phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn ở phần tìm hiểu về thể thơ Thể tài Thơ Đường phong phú, có thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Bốn câu, mỗi câu bẩy chữ), Ngũ ngôn tứ tuyệt (Bốn câu, mỗi câu năm chữ), Thất ngôn bát cú (Tám câu, mỗi câu bảy chữ) … Song chung quy lại, thơ Đường thường gồm 2 loại chính là Ngũ ngôn (mỗi câu 5 chữ) và Thất ngôn (mỗi câu 7 chữ) Các câu 1,2,4 hoặc chỉ có câu 2,4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối Hai thể thơ chính của Thơ Đường là Cổ thể (gồm Cổ phong và Nhạc phủ) và Kim thể (hay Cận thể, gồm Luật thơ và Tuyệt cú) Thơ Cổ thể thường linh hoạt về
số câu, không gò bó về niêm luật, về cách gieo vần …; Thơ Kim thể (còn gọi là thơ Đường luật), tuy có gò bó đôi chút về niêm luật song lại có cấu trúc cân đối hài hoà, mỗi bài thơ giống như một bài toán giải đáp một vấn đề xã hội bằng hình tượng nghệ thuật
Trang 9Đối với học sinh THCS giáo viên chưa cần cho học sinh hiểu hết về niêm luật Thơ Đường, chỉ cần nắm bắt một số đặc điểm về thể thơ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tác phẩm
Chẳng hạn, khi tiếp xúc với thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn tứ tuyệt, chỉ với 4 câu từ 20 - 28 chữ nhưng cấu trúc đó hoàn thiện; đó là sự hài hoà giữa bằng trắc âm dương; nhất quán từ đề tài, mở đề và kết luận
Xung quanh vấn đề tìm hiểu thể thơ, lâu nay nhiều giáo viên vẫn xem nhẹ nên chỉ làm một cách qua loa Tuy vậy, nếu bỏ qua công đoạn này là bỏ qua những nét tinh hoa độc đáo nhất của thơ Đường và hiệu quả cảm nhận tác phẩm của học sinh
sẽ giảm đi rất nhiều
3 - Tìm hiểu văn bản (sự kết hợp giữa bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ).
Dạy thơ nói chung đã khó, dạy thơ tiếng nước ngoài qua bản dịch (đặc biệt là thơ chữ Hán) lại càng khó hơn Bởi lẽ một thực tế, giữa nguyên tác và bản dịch cũng vẫn có độ chênh: Hao hụt hoặc sai lệch ít nhiều … Vì lẽ đó, khi dạy những tác phẩm loại này, giáo viên thường gặp rất nhiều lúng túng Cho học sinh cảm nhận theo hướng nào? Phân tích bài thơ ra sao? Bắt đầu khai thác từ đâu? Kết quả là không ít giáo viên khi dạy mảng văn thơ dịch mới chỉ đưa học sinh vào những hướng cảm thụ một cách sơ sài, đôi khi còn chưa sát ý
Thông thường, khi dạy học các tác phẩm Thơ Đường, giáo viên chỉ tổ chức học sinh khai thác văn bản theo các bản dịch thơ; thiên về khai thác nội dung tác phẩm mà ít hoặc không chú ý đến việc khai thác những yếu tố nghệ thuật trong phiên âm…Bằng cách này, giáo viên sẽ không thể tìm ra được những nét tinh xảo, những đặc sắc nghệ thuật, những “thi nhân” tức là “con mắt của bài thơ” trong từng tác phẩm, do đó hiệu quả của việc dạy và học Thơ Đường cũng hạn chế Xuất phát từ quan niệm dạy học mới (học sinh là chủ thể của sự nhận thức, cảm thụ), giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá những hình tượng nghệ thuật độc đáo có trong thơ Đường, từ đó hướng học sinh chiếm lĩnh tác phẩm một cách trọn vẹn, sâu sắc Việc đối chiếu phần dịch nghĩa và dịch thơ với nguyên
Trang 10tác trong quá trình giảng văn là một thao tác hết sức cần thiết để giải mã tác phẩm một cách có hiệu quả Để tiến hành, trong quá trình dạy giáo viên cần định hướng cho học sinh vào với không khó của sự so sánh, đối chiếu
Chẳng hạn, dạy bài “Vọng Lư Sơn bộc bố” (Xa ngắm thác núi Lư) của Lí Bạch, giáo viên đưa ra cho học sinh các câu hỏi dạng như:
- Các câu trong bản dịch so với phiên âm như thế nào?
- Từ nào đó bị mất trong bản dịch thơ?
Câu 1 - Phiên âm: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dịch nghĩa: Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía
Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay
Chủ thể của hai động từ “chiếu” và “sinh” là mặt trời Do đó, quan hệ giữa 2
vế câu là quan hệ nhân - quả Nghĩa là mặt trời chiếu ánh nắng vào hơi nước trên đỉnh Hương Lô làm cho hơi nước biến thành màu tía Tác giả đem đến cho nó một
vẻ đẹp mới: vẻ đẹp dưới ánh nắng mặt trời Câu thơ vẽ lên một cảnh tượng thiên nhiên kì vĩ, vừa rực rỡ, vừa kì ảo Trong bản dịch thơ bỏ mất từ "sinh" làm cho quan hệ nhân- quả này bị phá vỡ, chủ thể là khói tía Cho nên cảnh tượng kì vĩ trên cũng bị xua tan
Câu 2 - Phiên âm: Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Dịch nghĩa: Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.
Dịch thơ: Xa trông dòng thác trước sông này
Bản dịch thơ đó bỏ đi từ “quải” (treo) làm mất ảo giác về dòng thác như một tấm vải treo từ đỉnh núi rủ xuống Ảo giác này rất phù hợp với vị trí đứng ngắm dòng thác từ xa của tác giả Nhìn từ xa dòng thác tuôn trào liên tục giống như dải lụa trắng rủ xuống, bất động treo trên vách núi rủ xuống phía trước dòng sông Bản dịch đã làm cho ấn tượng về dòng thác trở nên mờ nhạt và liên tưởng ở câu sau
(Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên - Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây) trở nên thiếu
cơ sở Nếu dịch được từ “quải” thì sẽ làm cho dòng thác trở nên sinh động hơn rất nhiều