1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5

33 152 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó dạng toán về chuyển động đều là dạng toán tươngđối khó và mới mẻ với học sinh, nhiều em gặp khó khăn khi học dạng toán này.Thực tế cho thấy, khả năng hiểu, nắm bắt nội dung và t

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Toán học là môn khoa học cơ bản, có vai trò quan trọng không chỉ trong nhàtrường mà còn trong đời sống của con người Dạy và học toán nói chung và với đốitượng học sinh tiểu học nói riêng yêu cầu phải sử dụng linh hoạt và hợp lí các

phương pháp dạy học từ truyền thống đến hiện đại Việc phối hợp sử dụng các

phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh sẽ nâng caođược chất lượng dạy học bộ môn và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Nhậnthức được điều đó, tập thể giáo viên trường Tiểu học Chấn Hưng chúng tôi luônluôn tìm tòi, vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học mới mộtcách phù hợp ở tất cả các bộ môn trong đó có môn Toán

Nhiệm vụ giảng dạy môn Toán trong nhà trường là trang bị cho học sinhnhững kiến thức nền tảng, cơ bản nhất Để học sinh học tập một cách chủ động,linh hoạt; và sáng tạo, biết vận dụng kiến thức lí thuyết sách vở vào thực tiễn thìgiáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp, hình thức tổ chức dạy học linh hoạt đểkích thích sự tò mò, ham khám phá, chiếm lĩnh kiến thức của học sinh

Qua nhiều năm giảng dạy và bồi dưỡng học sinh lớp 5 – lớp cuối bậc Tiểuhọc, tôi nhận thấy việc giúp học sinh hiểu và vận dụng kiến thức một cách hiệu quảcủa các môn học nói chung và môn Toán nói riêng là vấn đề không đơn giản vớimỗi giáo viên Học toán đòi hỏi ở mỗi học sinh sự huy động tư duy vào chiếm lĩnhkiến thức vào việc giải toán và hình thành các kĩ năng học toán Thực tế giảng dạycho thấy, những em có khả năng nhận thức tốt thì say mê học tập Những em yếukém thì lười học, sợ học và chán học môn toán nên dẫn đến kết quả học tập hạnchế Chương trình môn Toán 5 có nội dung được sắp xếp thành các dạng toán điểnhình như: Số thập phân – các phép tính với số thập phân; Số đo thời gian – toánchuyển động đều; Trong đó dạng toán về chuyển động đều là dạng toán tươngđối khó và mới mẻ với học sinh, nhiều em gặp khó khăn khi học dạng toán này.Thực tế cho thấy, khả năng hiểu, nắm bắt nội dung và trình bày bài toán về chuyểnđộng của học sinh còn nhiều hạn chế (ở nhiều mức độ khác nhau) Học sinh chỉ giảiđược các bài toán này khi các dữ kiện được cho một cách tường minh Vì vậy họcsinh thiếu đi sự tư duy lo-gic, vận dụng kiến thức một cách sáng tạo Một phần nữanhiều giáo viên chưa có phương pháp hướng dẫn cụ thể, chưa giúp học sinh hiểubản chất và cách giải của bài toán

Trang 2

Để góp phần nâng cao cao hiệu quả dạy và học môn toán lớp 5 nói chung vàdạng toán chuyển động đều nói riêng, tôi đã đầu tư thời gian nghiên cứu và mạnh

dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5” Tôi muốn giúp học sinh biết tư duy một cách tích

cực và linh hoạt, huy động hết các kiến thức và khả năng sẵn có vào các tình huốngkhác nhau, trong điều kiện phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưađược nêu ra một cách tường minh và ở chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ, vậndụng vào phân tích, tìm lời giải cho các bài toán có nội dung phát triển cao hơn Đểđạt được những mục tiêu đề ra của môn học, điều đầu tiên là mỗi giáo viên phảinắm chắc mục tiêu, nội dung kiến thức có thể khai thác trong từng bài học, phầnnội dung Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng là giáo viên phải sử dụngnhững phương pháp dạy và học tích cực, tạo hứng thú cho học sinh trong học toán.Góp phần phát triển năng lực tư duy, phân tích tổng hợp các dạng bài nói chung vàdạng toán chuyển động đều nói riêng

2 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán chuyển động đều

Trang 3

- Giúp học sinh có kĩ năng trong việc tìm hiểu, phân tích bài toán và phươngpháp giải dạng toán một cách nhanh và chính xác

- Học sinh biết nhận diện dạng toán, phân tích các dữ kiện đã có và yêu cầutính của đề toán để tìm lời giải cho bài toán bài toán

- Đề xuất một số nội dung và ý kiến để góp phần nâng cao chất lượng dạy –học dạng toán chuyển động đều trong môn Toán lớp 5

- Góp phần nâng cao kết quả học tập môn toán của học sinh lớp 5 nói chung

và phần toán chuyển động nói riêng Từ đó nâng cao chất lượng dạy và học, tránhtrường hợp học sinh ngồi nhầm lớp

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Sáng kiến bắt đầu được áp dụng từ tháng 04 năm 2019

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

7.1.1 Cơ sở lí luận:

Toán học luôn gắn liền với thực tế của cuộc sống con người từ xưa đến nay.Mục tiêu hàng đầu của dạy học toán là trang bị kiến thức, kĩ năng, phương pháphọc tập khoa học và sáng tạo, góp phần quan trọng trong việc xây dựng khả năng tưduy cho học sinh nhất là với học sinh tiểu học Dạy và học toán ở Tiểu học đòi hỏivận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp vớimục tiêu, nội dung và khả năng nhận thức, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Toánhọc mang tính trừu tượng, khái quát cao nhưng nhưng lại có một ý nghĩa vận dụngvào thực tiễn rất lớn Các bài toán có nội dung chuyển động cũng đóng một vai trò

vô cùng quan trọng với cuộc sống con người cũng như trong nghiên cứu khoa học.Khi dạy học dạng toán chuyển động đều, giáo viên cần vận dụng các kiến thức, kĩnăng đã học, nắm được mối quan hệ giữa toán học và thực tế đời sống Giúp họcsinh có kĩ năng giải quyết các bài toán một cách hiệu quả

7.1.2 Cơ sở thực tiễn:

Để học sinh giải quyết được các bài toán có nội dung về chuyển động đều,

giáo viên phải giúp các em nắm chắc các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian và mối quan hệ giữa các đại lượng đó Bản chất của bài toán là dựa vào các dữ

kiện đã cho để tìm ra lời giải qua mối quan hệ của các đại lượng như:

v = s : t ; s = v × t ; t = s : v

Trang 4

(Trong đó: s là kí hiệu của quãng đường; v là kí hiệu của vận tốc; t là kí hiệu

của thời gian)

Để phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh kĩ năng giải toán bằng phương pháp số học Học sinh hiểu được nội dung bài toán, tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng (là phương pháp trực quan hiệu quả nhất) và tìm ra các bước giải cho bài toán

Ví dụ cụ thể minh họa cho cơ sở thực tiễn: Một ô tô đi được quãng đường dài

170km hết 4 giờ Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được bao nhiêu ki-lô-mét ?

Để giải bài toán này giáo viên giúp học sinh tìm hiểu đề bài, gợi ý cho học sinh vẽ được sơ đồ đoạn thẳng minh họa và giải bài toán như sau:

Phân tích: Ta coi quãng đường ôtô đi trong 4 giờ là một đoạn thẳng (ứng với 170 km), chia đoạn thẳng thành 4 phần bằng nhau Như vậy độ dài của mỗi phần là quãng đường trung bình ôtô đi trong một giờ.

Bài giải:

Trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được số km là :

170 : 4 = 42,5 (km) Đáp số : 42,5km.

Như vậy, khi dạy dạng toán này giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu các dữliệu và yêu cầu của đề Phân tích, tóm tắt đề toán và tìm ra các bước giải một cách sáng tạo và hợp lí

7.2 Về nội dung sáng kiến

7.2.1 Thực trạng dạy và học dạng toán chuyển động đều ở lớp 5

dự giờ thăm lớp, đồng thời cho các em làm một bài kiểm tra ngắn gồm 3 bài tập vềdạng toán này Đề kiểm tra được thiết kế đảm bảo nội dung trong chương trình sáchgiáo khoa, các bài được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó

Trang 5

Bài 1: Một chiếc ca nô đi với vận tốc trung bình là 15,2 km/giờ Tính quãng đường

đi được của ca nô đó trong 3 giờ (BT1 – trang 141, SGK Toán 5).

Bài 2: Một chiếc xe máy đi qua một chiếc cầu dài 1520m hết 2 phút Tính vận tốc

của chiếc xe máy đó với đơn vị đo là km/giờ (BT2 – trang 144, SGK Toán 5).

Bài 3: Một xe máy đi từ A lúc 7 giờ 35 phút với vận tốc 36 km/giờ Đến 10 giờ 5phút một ô tô cũng đi từ A đuổi theo xe máy với vận tốc 54 km/giờ Hỏi ô tô đó

đuổi kịp xe máy vào lúc mấy giờ ? (BT3 – trang 146, SGK Toán 5).

Sau khi tổng hợp số liệu, kết quả thu được ở các lớp như sau:

* Về học sinh:

Các em chưa thực sự nắm chắc kiến thức về dạng toán chuyển động, còn tìnhtrạng các em chưa đọc kĩ, chưa hiểu hết nội dung và yêu cầu đề bài Một số emhiểu nhưng tóm tắt bài toán chưa tốt, việc tìm ra các dữ kiện của bài toán rất khó

khăn Các em còn nhầm lẫn mối quan hệ giữa các đại lượng như quãng đường, vận tốc, thời gian, chưa thành thạo trong việc đổi các đơn vị đo trong bài toán.

* Về giáo viên:

Giáo viên còn chưa thay đổi được thói quen giảng giải nhiều làm cho các emmất đi tính sáng tạo, tiếp thu bài một cách thụ động và giải toán một cách máy móctheo bài mẫu hay cách giải mẫu của thầy cô

Hơn nữa, các hình thức tổ chức dạy học còn nghèo nàn, chủ yếu là giáo viên giảngmẫu – học sinh làm theo mẫu Giáo viên chưa thực sự là người tổ chức hướng dẫn

Trang 6

để học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức (như thảo luận nhóm, trao đổi cặp, liên

hệ thực tế, ) Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tiếp thu kiến thứcmới của các em, học sinh không hiểu bản chất của bài toán cũng như tìm ra cácphương pháp giải tối ưu nhất cho bài toán

sự vận dụng sáng tạo trong mỗi bài học Giáo viên còn tham kiến thức, chưa xácđịnh được trọng tâm bài dạy, hay kéo dài thời gian dẫn đến tâm lí học sinh khônghứng thú trong giờ học Việc lựa chọn nội dung dạy học, sắp xếp hợp lí nội dungkiến thức từ đơn giản đến phức tạp, từ làm theo mẫu đến vận dụng vào thực tế cònnhiều hạn chế Do đây là một dạng toán tương đối khó với học sinh, có nhiều mốiquan hệ và thuật ngữ toán học trừu tượng nên học sinh gặp nhiều khó khăn, chấtlượng đạt được chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra

7.2.2 Một số biện pháp thực hiện:

7.2.2.1 Mục đích:

- Giúp giáo viên có nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của nộidung toán chuyển động đều trong chương trình toán 5 Biết lựa chọn một cách phùhợp và sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiệu quả, lựa chọn

và sắp xếp nội dung dạy học hợp lí phù hợp với đặc điểm học sinh của mình

- Giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và phù hợp với khă năng.Tránh những sai sót trong phân tích đề và giải toán, có sự vận dụng sáng tạo nộidung kiến thức trong học tập và cuộc sống

7.2.2.2 Phương pháp:

Dạng toán chuyển động đều ở lớp 5 thục chất là dạng bài toán về các số đođại lượng Các bài toán liên quan đến 3 đại lượng cơ bản là quãng đường (s), vậntốc (v) và thời gian (t)

Nội dung cac bài toán được đưa ra thường là: Cho biết một hay một số các đạilượng trong một mối liên hệ nào đó với các đại lượng còn lại trong một chuyển

Trang 7

động đều Tìm các yếu tố còn lại chưa biết Vì vậy, mục đích chính của nội dungdạy học nội dung toán chuyển động đều là giúp học sinh phân tích dữ kiện đề bàikết hợp với kiến thức lí thuyết để tìm hiểu được mối quan hệ giữa đại lượng đã biết

và đại lượng chưa biết (cần tìm), chỉ ra và thực hiện phép tính, trình bày lời giảicho bài toán

Nhằm đạt được mục đích trên, giáo viên cần chú ý đến các nội dung sau:

- Giúp học sinh biết giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau nhất có thể

- Lường trước những tồn tại, sai lầm và những khó khăn học sinh sẽ gặp phảikhi học nội dung này

- Giúp học sinh nắm vững các khái niệm (lí thuyết), mối quan hệ giữa các đạilượng và thực hiện các bước giải bài toán một cách chính xác

- Rèn cho học sinh có năng khiếu toán học khả năng tổng hợp, nhận diện dạngtoán

* Phần giải toán: Đây là bước quan trọng mà giáo viên cần chú ý trước khi

tiến hàng dạy học sinh Khi tự mình giải toán trước khi dạy, giáo viên mới có thểhình dung được những sai lầm mà học sinh thường dễ gặp phải Hơn nữa giáo viên

sẽ biết định hướng cho học sinh tìm nhiều hướng giải khác nhau cho bài toán Giáoviên cần tìm những biện pháp khen ngợi, động viên nhằm kích thích hứng thú họctập của học sinh

* Dự kiến trước khó khăn sai lầm mà học sinh dễ gặp:

Đây là một việc làm rất quan trọng trong quá trình giảng dạy toán Từ những

dự kiến đó, giáo viên sẽ tìm ra những lựa chon tốt nhất để đưa vào dạy học từng nộidung cụ thể

Với dạng toán chuyển động đều, học sinh lớp 5 có thể hay mắc phải những lỗi

cơ bản như :

- Tính toán sai

- Viết sai các đơn vị đo (m/giờ, km/giờ, m/phút, )

- Chưa phân biệt được giữa khoảng thời gian và thời điểm

- Sử dụng nhầm công thức tính cho các đại lượng

- Học sinh nhầm lẫn hoặc gặp khó khăn khi đưa bài toán chuyển động ngượcchiều (hoặc chuyển động cùng chiều) không cùng thời điểm xuất phát về dạng bài

Trang 8

toán chuyển động ngược chiều (hoặc chuyển động cùng chiều) cùng một thời điểmxuất phát.

- Các câu trả lời không phù hợp với nội dung phép tính

* Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải bài toán.

- Tổ chức cho học sinh phân tích, nhận diện nội dung bài toán bằng các bước

cụ thể như :

+ Đọc đề bài bài toán

+ Phân tích các dữ kiện (số liệu) của đề bài để biết bài toán cho bi ết gì ? Bàitoán yêu cần phải tìm đại lượng nào?

- Tìm cách giải bài toán bằng các thao tác (bước tính) cụ thể:

+ Tóm tắt đề bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng lời

+ Dựa vào nội dung tóm tắt trình bỳ lại bài toán (hiểu đề bài)

+ Xây dựng các bước giải cho bài toán, thông thường xuất phát từ yêu cầucần tìm của bài toán đi đến các yếu tố đã biết Chỉ ra mối quan hệ giữa các dữ kiện

đã cho với nội dung bài toán yêu cầu tìm và nêu được đúng phép tính thích hợp

- Tiến hành giải và trình bày lời giải theo các bước:

+ Viết câu lời giải

+ Viết phép tính tương ứng (nên tính cụ thể ra nháp trước khi trình bày)

+ Viết đáp số

- Kiểm tra kết quả: kiểm tra các dữ liệu, kiểm tra nội dung các phép toán,kiểm tra câu lời giải, đối chiếu đáp số cuối cùng với yêu cầu bài toán

* Rèn kĩ năng khái quát hóa nội dung toán học:

- Lập các bài toán tương tự với bài toán đã giải và giải các bài toán đó

- Lập bài toán theo tóm tắt đã cho (từ một tóm tắt bằng sơ đồ hoặc bằng chữ,học sinh nêu được một đề toán hoàn chỉnh)

7.2.3 Nội dung thực hiện

7.2.3.1 Về lí thuyết

- Giúp học sinh nắm chắc về tên, kí hiệu, các đơn vị đo thường dùng trong toánchuyển động:

Trang 9

Đại lượng Kí hiệu Đơn vị đo

- Giúp học sinh nắm được những công thức thường sử dụng:

+ Công thức tính vận tốc (v) : v = s : t

+ Công thức tính quãng đường (s) : s = v x t

+ Công thức tính thời gian (t) : t = s : v

Lưu ý: Trong mỗi công thức trên, các đại lượng phải được sử dụng trên cùng một

hệ thống đơn vị đo, thường dùng như sau:

Đơn vị đo quãng đường Đơn vị đo thời gian Đơn vị đo vận tốc

- Giúp học sinh nắm được cách giải bài toán trong trường hợp hai vật chuyển độngngược chiều hoặc cùng chiều

+ Hai vật chuyển động ngược chiều trên cùng một quãng đường và khởi hành cùngmột lúc và hướng về phía nhau để gặp nhau

+ Hai vật chuyển động cùng chiều trên cùng một quãng đường và khởi hành cùngmột lúc để đuổi kịp nhau (điểm xuất phát khác nhau)

Trang 10

+ Hai vật cùng xuất phát một lúc từ một điểm chuyển động ngược chiều nhau đểrời xa nhau.

7.2.3.2 Một số nội dung, phương pháp dạy giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5

* Phân loại các dạng bài toán chuyển động đều :

Trong chương trình toán lớp 5 nói chung và phần nội dung về toán chuyểnđộng đều nói riêng thì các bài toán được xây dựng theo hướng từ đơn giản vànâng cao dần Cụ thể :

a) Loại đơn giản (Giải trực tiếp bằng cách áp dụng công thức, thường dành cho các tiết dạy học bài mới).

Dạng 1: Tính vận tốc của một vật chuyển động đều.

- Biết quãng đường (s), thời gian (t) Tính vận tốc ( v)

- Cách làm: Ta lấy quãng đường (s) chia cho thời gian (t)

- Công thức : v = s : t

( Đơn vị của vận tốc thường là : km/giờ, m/phút, m/giây, ).

Dạng 2: Tìm độ dài quãng đường chuyển động của vật.

- Biết vận tốc (v), thời gian (t) Tính quãng đường vật đi được

- Cách làm: lấy vận tốc (v) nhân với thời gian (t)

- Công thức: s = v x t

( Đơn vị của quãng đường thường là: km, m, cm, …).

Dạng 3: Tìm khảng thời gian chuyển động của vật.

- Biết quãng đường (s) và vận tốc (v) Tính thời gian vật chuyển động

- Cách làm: lấy quãng đường (s) chia vận tốc (v)

- Công thức: t = s : v

(Đơn vị của thời gian thường là: giờ, phút, giây).

b) Dạng toán có nội dung phát triển:

Dạng bài toán này thường cho nhiều dữ kiện hay nhiều vật tham gia chuyểnđộng Học sinh phải biết phân tích vận dụng công thức linh hoạt

Trang 11

Dạng 1: Hai vật chuyển động ngược chiều nhau (cùng thời điểm hoặc khác thời

Dạng 2: Hai vật chuyển động cùng chiều đuổi theo nhau (hai vật xuất phát cùng

thời điểm hoặc không cùng thời điểm)

- Quãng đường = Hiệu vận tốc x thời gian

Dạng 3: Bài toán về chuyển động của vật trên dòng nước

Dạng này cần lưu ý cho học sinh phân biệt các khái niệm chuyển động xuôi dòng, chuyển động ngược dòng

- V xuôi dòng = V riêng + V dòng nước

- V ngược dòng = V riêng – V dòng nước

- V dòng nước = (V xuôi dòng + V ngược dòng) : 2

Dạng 4: Vật chuyển động và chiều dài của vật đó là đáng kể.

- Chuyển động của vật có chiều dài đáng kể (kí hiệu chiều dài của vật là L) chuyển động qua các vật trong các trường hợp

+ Vật chuyển động qua mốc (cột điện, cột cây số, cột đèn):

Thời gian vật chuyển động qua cột mốc sẽ tính bằng bằng chiều dài vật chia vận tốc của vật (t = L : v)

Trang 12

+ Vật chuyển động qua cầu, cầu có chiều dài là d ta có:

Thời gian đi qua = (L + d) : v

Dạng 5: Bài toán có nội dung Vòi nước chảy

Đây cũng là một biến thể của dạng toán chuyển động đều với giải thiết tốc độ chảycủa cùng một vòi ở các thời điểm khác nhau là không thay đổi

- Bài toán thường có các đại lượng là: Thể tích của nước ta coi tương tự như tínhvới quãng đường, tính theo lít hoặc m3 hay dm3; Đại lượng thời gian và đại lượngtốc độ chảy (lưu lượng) của vòi nước (số lít nước)

- Thể tích = Lưu lượng x Thời gian; Thời gian = Thể tích : Lưu lượng;

Lưu lượng = Thể tích : Thời gian

* Một số yêu cầu cần chú ý khi dạy học dạng toán:

Những yêu cầu cơ bản học sinh cần đạt sau khi học xong nội dung toánchuyển động đều là:

- Biết nhận diện, phân tích các dữ kiện của bài toán : Tóm tắt bài toán, chỉ

ra được các đại lượng đã cho và đại lượng cần tìm

- Biết lựa chọn và sử dụng cách giải phù hợp nhất cho mỗi bài toán Mỗibài, dạng toán thường có các cách giải khác nhau (sơ đồ, suy luận, )

- Trình bày bài toán theo lo-gic các bước giải phù hợp

- Thể hiện được tư duy cá nhân trong việc trình bày, nội dung bài làm, vậndụng kiến thức

* Một số chú ý khi dạy giải các bài toán chuyển động đều

+ Dạng toán chuyển động đều được đánh giá là có nội dung khá phức tạp,

có nhiều dạng loại khác nhau dễ gây nhầm lẫn Trong quá trình dạy học, giáoviên cần chú ý một số điểm quan trọng như :

+ Hướng dẫn học sinh phân tích, tóm tắt bài toán càng chi tiết càng tốt.Học sinh nên tóm tắt bằng sơ đồ vì nó có tính trực quan dễ hiểu

+ Trong quá trình dạy bài mới, giáo viên chú ý khắc sâu kiến thức cơ bản.Học sinh phải hiểu được bản chất của vấn đề, hình thành và vận dụng công thứcvào giải toán một cách chính xác và tường minh

Trang 13

+ Trong quá trình giải toán, giáo viên khuyến khích học sinh tìm ra nhiềucách giải khác nhau và lựa chọn cách giải hay nhấy.

+ Giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa ba đại lượng cơ bản của toánchuyển động (quãng đường – vận tốc – thời gian) Vận dụng linh hoạt vào cácdạng bài toán khác nhau

7.2.4 Bài tập thực hành vận dụng và các bài tập có nội dung nâng cao

Việc hướng dẫn học sinh áp dụng kiến thức lí thuyết đã được học ở trên vàolàm các bài tập vận dụng cần được giáo viên đặc biệt chú trọng Ngoài các bài tậpthực hành trong sách giáo khoa, giáo viên cần coi trọng thực hành gắn với thực tiễncuộc sống học sinh, có như vậy các em mới thực sự có hứng thú trong học tập Nộidung các bài tập cần được sắp xếp đi từ dễ đến khó, từ làm theo mẫu (thay số) đếnviệc giải các bài toán có nội dung nâng cao hơn nhằm phát triển khả năng tư duysáng tạo của học sinh và phục vụ việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu

Với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần tìm ra những bài toán có nội dung điểnhình, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài và tìm ra cách giải hay nhất cho bài toán Từ

cơ sở nắm vững kiến thức cơ bản, giáo viên sẽ dần đưa ra các bài tập cùng dạngnhưng với nội dung cao hơn để khích lệ học sinh nỗ lực tìm ra lời giải cho bài toánđó

Dưới đây là một số dạng bài tập của toán chuyển động mà tôi đã tuyển chọn

để hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học từ cơ bản đến nâng cao dần vềnội dung

- Viết không chính xác đơn vị đo

* Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải.

- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài toán (cái đã cho và cái cần tìm)

Trang 14

- Xác định yếu tố đã biết và dữ kiện phải tìm.

+ Bài toán cho chúng ta biết gì ? (quãng đường dài 1800 km, thời gian đitrong 2,5 giờ)

+ Bài toán yếu cầu tìm gì ? (tìm vận tốc)

- Hướng dẫn học sinh xác định dạng toán: bài toán thuộc dạng tìm vận tốc của vậtkhi biết thời gian và quãng đường vật chuyển động

* Tìm các bước giải cho bài toán:

- Muốn tìm vận tốc của máy, chúng ta đã biết những đại lượng nào ?

- Nêu lại công thức tính vận tốc của một vật ? (v = s : t)

- Dựa vào quãng đường và thời gian đã biết, ta tìm vận tốc như thế nào ? (1800 :2,5 = 720)

* Học sinh trình bày bài giải cụ thể cho bài toán:

Vận tốc của máy bay là:

Phân tích: Bài toán cho biết đại lượng quãng đường s = 30 km, thời gian đi

từ 6 giờ 30 phút đến 7 giờ 45 phút Cần tính thời gian theo đơn vị giờ (7 giờ 45

phút - 6 giờ 30 phút = 1 giờ 15 phút = 1,25 giờ) Công thức áp dụng t = s : v.

Bài giảiThời gian ca nô đó đi là:

Trang 15

7 giờ 45 phút – 6 giờ 30 phút = 1 giờ 15 phút

Đổi: 1 giờ 15 phút = 1,25 giờVận tốc của ca nô là:

30 : 1,25 = 24 (km/giờ) Đáp số: 24 km/giờ

Bài toán 3: Một ô tô dự định chạy từ tỉnh A đến tỉnh B lúc 16 giờ Nếu chạy với vận tốc 60 km/giờ thì ô tô sẽ đến B lúc 15 giờ còn nếu chạy với vận tốc 40 km/giờ thì ô tô sẽ đến B lúc 17 giờ Hỏi ô tô phải chạy với vận tốc bao nhiêu để đến B đúng 16 giờ?

Với bài toán có nội dung nâng cao này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìmhiểu các dữ kiện, tìm ra mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và cần tìm để tìm cách giải tốt nhất

Bài giảiCách 1:

Với vận tốc 60 km/giờ có nghĩa là ô tô cứ đi 1 km thì hết 1 phút

Với vận tốc 40 km/giờ thì ô tô cứ đi 1 km thì hết 1 phút 30 giây

So với khi ô tô chạy với vận tốc 60 km/giờ thì ô tô chạy với vận tốc 40

km/giờ sẽ đến B chậm hơn 17 – 15 = 2 giờ, tức là 7200 giây

Ô tô cứ chạy 1 km với vận tốc 40 km/giờ thì sẽ chậm hơn khi ô tô chạy với vận tốc 60 km/giờ là:

Vận tốc ô tô đó là:

240 : 5 = 48 (km/giờ)

Trang 16

Đáp số: 48 km/giờ.

Cách 2:

Nếu ô tô đó chạy với vận tốc 40 km/giờ thì mỗi giờ ô tô sẽ chạy được ít hơn 20km so với khi chạy với vận tốc là 60 km/giờ Lúc đó ô tô sẽ đến B muộn hơn 2 giờ Quãng đường ô tô đi trong 2 giờ đó là:

4 + 1 = 5 (giờ)Vận tốc của ô tô đó là:

* Dự kiến những sai lầm của học sinh dễ gặp phải :.

- Đổi và viết sai đơn vị đo

- Tính không đúng kết quả

* Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải bài toán.

- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán (cái đã cho và cái cần tìm)

- Xác định dữ kiện đã cho và dữ kiện phải tìm

+ Bài toán cho biết những gì ? (vận tốc đi xe 12,6 km/giờ, thời gian đi trong

15 phút)

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. T.S Đỗ Tiến Đạt – T.S Đào Thái Lai – T.S Phạm Thanh Tâm Bài tập trắc nghiệm và các đề kiểm tra Toán 4. NXB GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm và các đề kiểm tra Toán 4
Nhà XB: NXB GD Việt Nam
9. Đặng Tự Lập – Vũ Thị Thu Loan 45 đề kiểm tra và ôn tập chuẩn bị các kì thi và kiểm tra. NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 45 đề kiểm tra và ôn tập chuẩn bị các kì thi và kiểm tra
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
10. Mạng Internet: http://tvtlbachkim.com; giaovien.net; violet.vn Link
1. Sách Giáo khoa Toán 5 – NXB Giáo Dục năm 2005 Khác
2. Sách Giáo viên Toán 5 – NXB Giáo Dục năm 2005 Khác
3. Vở Bài tập Toán 5 - NXB Giáo Dục năm 2005 Khác
4. Chuyên đề Toán chuyển động và số đo thời gian của Phạm Đình Thực – NXB Giáo Dục năm 2007 Khác
5. Toán Nâng cao lớp 5 của Vũ Dương Ninh – NXB Giáo dục năm 2005 Khác
6. Tâm lí học dạy học của Nguyễn Minh Tâm – NXB Hà Nội năm 2006 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w