Ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản ban đầu là cơ sở và nền tảng để học sinh học ở các bậc học cao hơn thì còn hình thành cho họcsinh các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 2
III.BẢN CHẤT CỦA ĐỀ TÀI : 3
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
V/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3
VI/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
VII/GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 3
VIII/PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU: 4
PHẦN II: NỘI DUNG 4
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1 Cơ sở tâm lí học: 4
2 Cơ sở toán học: 5
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 6
1 Về chương trình: 6
2 Về việc dạy và học: 7
3 Về giáo viên: 7
4 Về học sinh: 8
III BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT : 8
1 Biện pháp 1: Giáo viên phải nắm chắc mục tiêu của từng bài, từng dạng bài để từ đó có phương pháp dạy đối với từng đơn vị kiến thức cụ thể 8
2 Biện pháp 2: Giáo viên tìm hiểu và chia các bài toán có nội dung hình học thành các dạng bài: 10
PHẦN III: PHẦN KẾT LUẬN 25
I.BÀI HỌC KINH NGHIỆM : 25
II.KẾT LUẬN: 26
III KIẾN NGHỊ: 27
Trang 2PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Bậc Tiểu học hiện nay giữ vị trí rấtquan trọng: Bậc Tiểu học là Bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục, nó đemlại cho mọi trẻ em sự phát triển hài hoà, sự bình đẳng trong việc học tập tiếptheo Bậc Tiểu học cũng có ý nghĩa to lớn đối với chất lượng và hiệu quả đàotạo ở các Bậc học tiếp theo, nó là cơ sở cho việc phổ cập giáo dục
Trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước rất cần nhữngcon người có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để vận dụng khoa học kỹ thuật vàosản xuất, đưa năng xuất lao động ngày càng lên cao Để hoà nhập với tiến trìnhphát triển thế giới thì chúng ta không ngừng phát triển giáo dục Nghị quyết
Trung ương 8 ( khoá XI) đã nêu: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ” Từ đó mà Ngành Giáo dục đã có rất nhiều biện
pháp ngày càng nâng cao chất lượng giáo viên và học sinh Môn Toán ở cấpTiểu học có vai trò rất quan trọng Ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản ban đầu là
cơ sở và nền tảng để học sinh học ở các bậc học cao hơn thì còn hình thành cho họcsinh các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiếtthực trong đời sống Thông qua dạy học toán giúp học sinh bước đầu phát triểnnăng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý, diễn đạt đúng, phát hiện - giải quyết cácvấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống; từ đó kích thích trí tưởng tượng, chămhọc, hứng thú học; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kếhoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt và sáng tạo Trong chương trình môn ToánBậc Tiểu học, lớp 5 là lớp có nội dung chương trình về môn Toán nặng hơn
cả Điển hình là phần hình học, để sau này các em học tốt môn hình học thìngay từ Tiểu học các em cũng cần phải nắm vững các kiến thức về hình họcnhư : chứng minh, so sánh diện tích mà hình học lại là những bài toán khó đốivới học sinh Tiểu học Song trong thực tế việc dạy của giáo viên cũng nhưviệc học của học sinh gặp khó khăn, chưa đạt kết quả cao Bởi thế, khi dạyhọc sinh lớp 5 giải các bài toán chứa đựng nội dung hình học học sinh thường
gặp rất nhiều khó khăn vì vốn kiến thức phổ thông của các em còn quá ít ( chỉ
có một số công thức tính diện tích các hình mà các em đã được học) mà khi
giải các bài toán này kiến thức phải được suy rộng ra từ các công thức đó.Nhưng tư duy trừu tượng của các em vẫn chưa được phát triển nhiều Để giúpcác em học sinh lớp 5 vượt qua được những khó khăn đó và giải được những
2
Trang 3bài toán ở dạng này, tôi đã thực hiện chuyên đề: “Một số biện pháp bồi dưỡng
học sinh Tiểu học giải toán có nội dung hình học lớp 5”
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Nắm được nội dung và phương pháp dạy học về yếu tố hình học trong toán5
- Thấy được mối quan hệ giữa kiến thức về yếu tố hình học với các mạchkiến thức khác ( Đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn )
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên
và học sinh, khắc phục được một số tồn tại trong dạy và học toán hình lớp 5
- Tạo điều kiện để học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động nhận thức,khám phá, chiếm lĩnh các tri thức một cách tốt nhất để có điều kiện khắc sâu, nhớlâu, vận dụng tốt
III.BẢN CHẤT CỦA ĐỀ TÀI :
- Nghiên cứu một số dạng bài có nội dung hình học
- Thực hiện dạy học thực nghiệm theo phương pháp đã điều chỉnh
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do khuôn khổ của để tài và điều kiện thời gian hạn hẹp, để tài chỉ đi sâu
nghiên cứu “Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh Tiểu học giải toán có nội dung hình học lớp 5 ”.
V/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Phân loại thành các dạng toán cụ thể có nội dung về hình học ở lớp 5
VI/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện chuyên đề này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau :
- Phương pháp thu thập tài liệu:
+ Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục có liên quan đến nội dungchuyên đề
+ Đọc SGK, sách giáo viên, các loại sách tham khảo
- Phương pháp nghiên cứu thực tế:
+ Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học
+ Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi củachuyên đề
- Phương pháp điều tra: Tìm hiểu thực trạng việc dạy các yếu tố hình học ởlớp 5
Trang 4- Phương pháp quan sát: Thông qua dự giờ.
VII/GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Lớp 5D trường Tiểu học Bình Dương II- huyện Vĩnh Tường- tỉnh Vĩnhphúc
VIII/PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
- Đề tài này tôi nghiên cứu trong thời gian 1 năm từ tháng 3/2013 đến tháng3/2014
4
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
- Mọi khả năng cuả các em đang ở dạng tiềm tàng
- Tư duy HS Tiểu học mang tính tương đối, tư duy cụ thể phát triển
- Trí nhớ máy móc ảnh hưởng tới thao tác tư duy phân tích tổng hợp (khái
quát hoá) của tư duy.
Từ những đặc điểm trên ảnh hưởng rất lớn tới việc tiếp thu tri thức cũngnhư vận dụng tri thức vào thực hành Do vậy việc lựa chọn hệ thống bài tậpnói chung và một loại toán bất kỳ nói riêng và phương pháp dạy học phải đảmbảo tính vừa sức, đồng thời phải phát huy được hết năng lực tư duy, khả năngsáng tạo của học sinh Khơi gợi sự hứng thú và tò mò từ đó để học sinh pháthuy tính tự giác, tích cực trong học tập
Nhận thức của học sinh Tiểu học ở những năm đầu cấp là năng lực phân tíchtổng hợp chưa phát triển, tri giác thường dựa vào hình thức bên ngoài, nhận thứcchủ yếu dựa vào cái quan sát được, chưa biết phân tích để nhận ra cái đặc trưng,nên khó phân biệt được các hình khi thay đổi vị trí của chúng trong không gian haythay đổi kích thước Đến các lớp cuối cấp, trí tưởng tượng của học sinh đã pháttriển nhưng vẫn phụ thuộc vào mô hình vật thật; suy luận của học sinh đã phát triểnsong vẫn còn là một dãy phán đoán, nhiều khi còn cảm tính Do đó việc nhận thứccác khái niệm toán học còn phải dựa và mô hình vật thật Vì vậy, việc nhận thứccác khái niệm hình học không phải dễ dàng đối với các em
2 Cơ sở toán học:
Đối với phần hình học ở các lớp 1,2 các em mới chỉ nhận biết các yếu tố
về hình học như điểm, đoạn thẳng, hình gấp khúc và phân biệt giữa các hìnhqua yếu tố cạnh của nó, biết hình này có bao nhiêu hình tam giác, bao nhiêuhình tứ giác Đến lớp 3 các em mới được tính chu vi hình tam giác, chu vi,diện hình chữ nhật, chu vi diện tích hình vuông So sánh về diện tích của haihình này, nhưng còn ít các em vẫn gặp khó khăn vẫn nhầm lẫn giữa cách tínhchu vi và diện tích của hình Đến lớp 4+5 không chỉ so sánh diện tích hình chữnhật và hình vuông nữa mà tiến tới so sánh diện tích của hình tam giác, hìnhthang
Trang 6Ngoài phần kiến thức cơ bản về công thức tính diện tích các hình tamgiác mà học sinh lớp 5 đã được học, tôi cần phải giúp học sinh nắm chắcđược các kiến thức cộng trừ, công thức tính diện tích hình tam giác, hìnhthang
Từ những kiến thức trên sẽ giúp các em phát triển tư duy về hình dạng
không gian Từ tri giác như là một cái "toàn thể" lớp 1, 2 đến việc nhận diện hình
học qua việc phân tích đặc điểm các hình bằng con đường trực giác (lớp 3, 4, 5).Trong chương trình toán tiểu học, các yếu tối hình học được sắp xếp từ dễ đến khó,
từ trực quan cụ thể đến tư duy trừu tượng, rồi đến khái quát vấn đề
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1 Về chương trình:
-Chương trình toán 5 được dạy trong 35 tuần, 175 tiết Trong đó các bài
toán về yếu tố hình học được dạy tập chung trong chương 3 với 37 tiết
1.1 Nội dung các yếu tố hình học gồm:
- Hình tam giác, diện tích hình tam giác
- Hình thang, diện tích hình thang
- Hình tròn, đường tròn; chu vi, diện tích hình tròn
- Giới thiệu biểu đồ
- Hình lập phương, diện tích xung quanh và diệ tích toàn phần hình lậpphương, thể tích hình lập phương
- Hình hộp chữ nhật, diện tích xung quanh và diệ tích toàn phần hình hộpchữ nhật , thể tích hình hộp chữ nhật
- Đơn vị đo thể tích
1.2 Mức độ yêu cầu:
- Hình tam giác: Nhận dạng, vẽ được hình tam giác và các loại tam giác,chiều cao tam giác ứng với cạnh đáy cho trước, nắm được công thức tính diệntích; biết tính chiều cao và cạnh đáy theo công thức ngược
-Hình thang: Nhận dạng và vẽ được hình thang, vữ được đường cao, nhớcông thức tính diện tích đồng thời vận dụng công thức để giải toán
-Hình tròn: Nhận dạng và vẽ được hình tròn, nắm được các yếu tố củahình tròn, biết tính chu vi và diện tích hình tròn
6
Trang 7-Hình hộp chữ nhật, hình lập phương: Nhận dạng và vẽ được hình, nắmđược qui tắc, công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần và thểtích
Như vậy nếu các yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3, 4 được rải ra và sắpxếp xen kẽ với các tố số học, yếu tố đại số, đo đại lượng và giải toán nhằm tạo
ra mối liên hệ hữu cơ và hỗ trợ chặt chẽ giữa các tuyến kiến thức với nhau thì ởlớp 5 là lớp duy nhất các yếu tố hình học được dạy tập trung trong 1 chương, sốtiết dạy nhiều hơn, kiens thức kĩ năng đòi hỏi cao hơn so với các lớp dưới
1.3.Vị trí, vai trò của các yếu tố hình học lớp 5:
Dạy các yếu tố hình học trong chương trình toán 5 giữ một vị trí rất quantrọng
-Nó góp phần vào việc củng cố kiến thức, kĩ năng về các yếu tố hình màcác em đã được học từ các lớp dưới
-Mở rộng, phát triển và cắt ghép hình, vẽ hình trong khối không gian,phát triển trí tưởng tượng trong hình học không gian, cách lập luận suy diễnlogic Biết cách giải các bài toán có yếu tố hình học, đặc biệt là so sánh diệntích, các em sẽ tích luỹ được nhiều hiểu biết cần thiết cho sinh hoạt và học tập,tạo tiền để cho việc học tiếp lên bậc trung học phổ thông cơ sở
2 Về việc dạy và học:
-Việc dạy và học các yếu tố hình học, đặc biệt là rèn luyện kĩ năng hìnhhọc còn tuỳ thuộc vào quan niệm, cách nghĩ, cách làm và tiềm lực của mỗi giáoviên nên hiệu quả chưa cao
-Còn số ít giáo viên cho rằng học sinh ở Tiểu học chỉ cần nắm được cáccông thức tính chu vi, diện tích và thể tích các hình là được còn việc vẽ hình,biến đổi hình, cắt ghép hình là việc đơn giản không có gì khó khăn, do đó màsao nhãng không chú ý rèn luyện kĩ năng thao tác hình học
-Tình trạng học sinh không biết ước lượng và sử dụng các dụng cụ hìnhhọc, không vẽ hoặc không giải thích được hình vẽ thoả mãn điều kiện đã chohoặc không thể lí giải được cách làm còn khá phổ biến
-Đa số học sinh chỉ biết giải các bài toán hình học đơn giản chứ chưa biết
kẻ, vẽ thêm để đưa bài toán khó về bài toán đơn giản hơn
3 Về giáo viên:
3.1 Thuận lợi:
-Giáo viên có lòng yêu nghề mến trẻ, có tinh thần học hỏi, nghiên cứu tài liệu
để nâng cao chất lượng giảng dạy
Trang 8- Là giáo viên đã từng giảng dạy lớp 5 nhiều năm nên ít nhiều đã nắm đượcđặc điểm, đặc trưng của môn toán và khả năng tiếp thu của học sinh.
- Đồ dùng giảng dạy về các yếu tố hình học được nhà trường trang bị tươngđối đầy đủ
3.2 Khó khăn:
-Tuy đã được trang bị đồ dùng giảng dạy, song đồ dùng còn nhỏ Giáo viên
sử dụng đồ dùng chưa được triệt để Vì vậy mà việc dẫn dắt học sinh nắm kiến thứcmới chưa cao
-Thời gian hướng dẫn thực hành còn ít, chưa đủ để các em tham gia thực tế
để hiểu và nắm chắc vấn đề theo yêu cầu của giáo viên
4 Về học sinh:
Đối với học sinh thì khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhất là học sinh ở vùngnông thôn Chỉ một số ít phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình, đa sốcòn lại do cuộc sống thiếu thốn của gia đình làm gián đoạn sự học tập của các em
Thậm chí còn bắt các em phụ giúp việc gia đình (trong đó có một số còn phải theo
gia đình đi làm ăn xa).
Do đặc điểm lứa tuổi, học sinh còn hiếu động, sự tập trung chú ý nghe giảngbài còn hạn chế Khả năng phân tích, trí tưởng tượng, sự suy luận của các em cũngcòn chưa tốt dẫn tới ngại làm các bài tập có nội dung về các yếu tố hình học
Qua khảo sát khả năng học tập phần hình học ở các em ở đầu năm (29 học
sinh) qua 3 tiêu chí sau, tôi đã đạt được kết quả như sau:
III BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT :
1 Biện pháp 1: Giáo viên phải nắm chắc mục tiêu của từng bài, từng dạng bài
để từ đó có phương pháp dạy đối với từng đơn vị kiến thức cụ thể.
- Khi dạy các các yếu tố hình học chúng tôi quan tâm tới các vấn đề sau:
8
Trang 9+ Các biểu tượng về hình, các kĩ năng nhận dạng về hình, rèn óc quan sát vàtrí tưởng tượng để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh về hìnhhọc.
+ Các yếu tố hình học có cấu trúc đồng tâm lôgic với nhau Giáo viên phải cóthuật ngữ toán học chính xác rõ ràng, phù hợp với tư duy của học sinh làm cho họcsinh tiếp thu bài dễ hơn, vận dụng kiến thức mới vào luyện tập linh hoạt hơn
+ Sau mỗi bài học, cho học sinh được thực hành ngay trên phiếu học tập Nộidung các bài tập sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Ngoài ra thựchành ngay trên phiếu còn phát huy được năng lực của học sinh khá giỏi vì khi làmbài tập trên phiếu học tập học sinh khá, giỏi không phải chờ các bạn yếu cùng làm.Chính vì vậy việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học là nhu cầu cần thiếtđối với giáo viên, giáo viên phải nắm bắt đúng kiến thức trọng tâm của tiết dạy,hiểu ý đồ sách giáo khoa để từ đó lựa chọn phương pháp dạy một cách linh hoạt cóhiệu quả với nội dung thực tiễn của từng bài Sau đây là một số phương pháp đểgiảng dạy các bài toán có nội dung hình học ở lớp 5
1.1 Phương pháp trực quan:
Ở Tiểu học các học sinh chỉ tiếp thu kiến thức hình học dựa trên những hìnhảnh quan sát trực tiếp, dựa trên các hoạt động thực hành như: đo đạc, tô, vẽ, cắtghép, gấp, xếp hình
Chẳng hạn để đi đến quy tắc tính diện tích hình thang ở lớp 5( tiết 90 ) giáoviên chỉ cần dạy như sau:
Giáo viên có hình thang ABCD- Học sinh quan sát
Bằng cách cắt ghép hình để hướng dẫn học sinh tìm ra quy tắc chung
+ Lấy điểm chính giữa M của cạnh CD hình thang ABCD Nối AM được tam giácAMD
+ Ghép tam giác AMD vào vị trí ECM ta được tam giác ABE
Diện tích ABCD = Diện tích của tam giác ABE và bằng (BC + AD) x
Trang 10Vì CE = AD nên ta có công thức tính diện tích hình thang là:
2
) (a b xh
Như vậy đối với học sinh Tiểu học không cần phải chứng minh chặt chẽ bằngsuy diễn logic mà chỉ cần dự vào quan sát để rút ra kết luận
1.2 Phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng:
Vì hình học ở Tiểu học là hình học trực quan nên phương pháp cơ bản để dạy
là kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể với cái trừu tượng theo con đường từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Ở đây, họcsinh tiếp thu và vận dụng các kiến thức hình học theo quá trình hoạt động với cácvật thể hoặc với mô hình hay sơ đồ hình vẽ
1.3 Phương pháp kết hợp chặt chẽ phương pháp quy nạp và phương pháp suy diễn:
Chẳng hạn, khi dạy cách tính thể tích hình hộp chữ nhật, giáo viên có thể ápdụng phương pháp quy nạp như sau:
+ Giáo viên đưa ra một vài ví dụ cụ thể để giúp học sinh rút ra kết luậnchung
Ví dụ: Cho hình hộp chữ nhật có chiều dài là 4 cm, chiều rộng là 3cm vàchiều cao là 2cm Ta sẽ chia hình hộp chữ nhật này thành các hình lập phương1cm3 Như vậy ta sẽ có 2 lớp hình lập phương, mỗi lớp gồm có 4 x 3 = 12(hình lậpphương 1 cm3 Vậy muốn tìm số các hình lập phương 1cm3 ta chỉ cần tính
4 x 3 x 2 = 24 hình lập phương 1cm3 hay thể tích của hình lập phương này là:
Trang 112 Biện pháp 2: Giáo viên tìm hiểu và chia các bài toán có nội dung hình học thành các dạng bài:
Sau khi tổ chức khảo sát chất lượng môn Toán ở trường, tôi còn soạn thêmmột số loại bài về nhiều dạng khác nhau để tìm hiểu học sinh lớp mình còn hạn chếnhững mặt nào để tìm biện pháp khắc phục một cách hợp lý Đối với yếu tố hìnhhọc tôi quan tâm đến việc: Tìm hiểu kĩ nắm chắc được khái niệm về chu vi, diệntích một hình, cách vẽ hình, tìm chu vi hay diện tích; đưa vào bài toán điển hình cóliên quan đến yếu tố hình học; tìm thành phần chưa biết khi biết chu vi hay diệntích cùng các thành phần khác, cách sử dụng các đơn vị đo…
Qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 5 cho thấy, học sinh chỉ biết vận dụng nhữngđiều đã học về yếu tố hình học một cách máy móc Chỉ biết lấy những dữ kiện cósẵn rồi đưa vào công thức để tìm ra kết quả Ở đây tôi đang nói đến những em khá,giỏi ở lớp, chứ thật ra đa số các em còn rất yếu về giải toán hình học và sử dụngđơn vị đo một cách tùy tiện
Đi vào từng phần trong chương trình lớp 5, ngoài những bài dạy ở sách giáokhoa bản thân còn phải soạn bổ sung thêm cho các em một số bài tập về thực hành
để làm sáng tỏ vấn đề và giúp các em hiểu rõ hơn, làm nền tảng cho việc nâng caokiến thức về sau cho các em Từng dạng bài tôi xin trình bày cách thực hiện nhưsau :
2.1 Đơn vị đo độ dài:
Về đơn vị đo độ dài tôi thấy cần thiết phải tạo điều kiện cho các em thựchành thực tế và kết hợp cùng lúc với những đơn vị đo tương ứng mà ở địa phươngcác em thường nghe, thường sử dụng
Ban đầu tôi cố gắng chịu khó tổ chức cho các em thêm một
số thời gian còn nhàn rỗi ở lớp xây dựng cho các em một bảng đơn
vị đo mà các em đã học và đã thường nghe ở địa phương quanhững câu hỏi gợi ý, để hình thành một bảng như sau :
Vì thường ngày ở gia đình các em rất thường nghe và sử dụng trong thực tếqua những ví dụ như : miếng kính dày 3 li, 5 li… mua đinh 3 phân hay cưa ván 2phân; mặt miếng ván 2 tấc hay viên gạch tàu vuông vức 3 tấc, cắt một sợi dây dàikhoảng 3 thước hay mua 5 thước vải … Còn xa hơn như : từ đây đến đó khoảng 2cây số …
Qua thực tế và qua bảng đối chiếu trên các em sẽ hiểu rõ thêm hơn về nhữngđơn vị đo mà các em đã học ở trường, ở lớp Ngoài ra tôi còn cho các em đo những
Trang 12khoảng cách hay chiều dài hoặc bề dầy những đồ vật cụ thể bằng cây thước (1m),bằng cây thước có vạch chia cm rồi mm….Cụ thể như cho các em đo khoảng cáchgiữa 2 bức tường của phòng học Có thể các em sẽ trả lời là 6 thước, rồi ta sẽ gợi ýcho các em biết độ dài đó bằng đơn vị đo mà em đã học là 6m Bây giờ em hãyđoán xem khoảng cách giữa 2 trụ cổng phía trước cách nhau bao nhiêu mét ? Sau
đó ta cử một em ra dùng thước (m) để đo, các em còn lại thì quan sát Nhiều lầnnhư vậy việc ước đoán về khoảng cách giữa 2 điểm trên mặt đất bằng đơn vị mét(m) các em dần đi đến mức độ chính xác nhiều hơn Tương tự với tấm bảng lớp,mặt bàn học … các em sẽ làm quen với đơn vị m và dm bằng thước và tấc
Từng bước tôi cũng tập cho các em thực hành đo độ cao của một vật, banđầu bằng những độ cao vài mét như : từ mặt đất đến mái trường, từ mặt đất đến nócphòng học cũng bằng sự ước đoán rồi dùng 2 cây trúc cán chổi quét trần nhà chấplại để kiểm tra Xa hơn nữa tôi cùng các em ước đoán những vật có chiều cao nhỏhơn như về chiều cao ghế ngồi, chiều cao bàn học, chiều cao của bàn giáo viên,chiều cao của bục giảng trên lớp … Đối với những con vật cũng thế, tuy nhiên đochiều cao của những con vật có khó hơn thì trong những buổi thực hành như vậytôi cho tập so sánh chiều cao của một con vật với những đồ vật cụ thể rồi trao đổi ýkiến đi đến thống nhất chiều cao giới hạn tối đa đối với từng loài vật trưởng thành
Ví dụ : Con mèo cao tối đa không hơn cái ghế con (< 30cm); con bò không cao hơncái cửa phòng học (< 2m)…
Từ những khoảng cách lớn đến những đồ dùng nhỏ nhắn hàng ngày nhưquyển sách, hợp phấn, một vài mảnh kính vở… và bằng những đơn vị thường dùng
ở nhà mà chuyển sang đơn vị đo các em đã học
Đồng thời với việc đoán rồi đo tôi gợi ý để tìm hiểu mối quan hệ giữa cácđơn vị đo, chẳng hạn như các em đo chiều dài tấm bảng được 2 thước và 2 tấc thìbằng 22 tấc hay 2m2dm = 22dm…
2.2 Chu vi :
Tuy ở lớp 2 đã giới thiệu cho các em về chu vi của hình tam giác và hình tứgiác nhưng đây chỉ là những hình ảnh ban đầu giới thiệu cho các em bước đầu hiểu
về chu vi Sang lớp 3, các em được cung cấp cách tính chu vi hình chữ nhật, chu vi
hình vuông (Công thức tính chu vi 2 hình chữ nhật và hình vuông được hình thành
ở SGK toán 4).
Gợi ý cho các em biết khẳng định lại rằng chu vi một hình là tổng số đo độ
dài các cạnh của hình đó (riêng đối với hình tròn có chu vi bằng độ dài đường tròn
đó)
Bằng hình ảnh của những miếng vườn cho các em thảo luận tổ đi đến cáchtính chu vi của nó Trước tiên, tôi muốn nói cho các em có sự hình dung về một
12
Trang 13miếng vườn cụ thể nào đó mà một người trông hoa, cây cối,… mà ở địa phương các
về số đo xung quanh của miếng vườn ấy
Tương tự với thửa ruộng hình vuông cũng thế
Cũng trong thảo luận tổ, tôi gợi ý nếu gọi:
Khái niệm về diện tích có phần khó hiểu hơn chu vi Muốn cho các em hiểu
và nắm chắc được cũng không khác hơn là tổ chức thực hành cụ thể
Tương tự như với phần nói về chu vi, tôi gợi ý để các em hiểu được diện tíchcủa một hình “Là phần mà bề mặt của hình đó chiếm được” Bằng hình vẽ để các
em kiểm nghiệm diện tích một số hình như sau: (với những ô vuông cm 2 ).
25m
Trang 15Có 28 cm2.Khi các em đã nắm chắc được khái niệm về diện tích của một hình chính là
bề mặt của hình đó, cũng với vài bài tập nhỏ bằng hình vẽ một miếng vườn, miếng
ruộng, cái sân (như ở phần chu vi) để các em hình dung được diện tích một miếng
B
C D
A
Trang 16Tương tự với hình vuông ta được S = a x a.
(Công thức tính diện tích 2 hình này cũng được hình thành ở SGK toán 4)
Ở phần này, tôi đặc biệt quan tâm và hướng dẫn học sinh biết tìm và so sánhdiện tích hai hình Phần này chủ yếu tôi dành cho học sinh khá, giỏi.Tôi đã chiathành các dạng bài sau:
*- Loại bài biết rõ mối quan hệ giữa các kích thước của 2 hình cần so sánh.
Đây là những bài dễ được dạy vào giai đoạn đầu khi học sinh mới bắtđầu giải những bài toán thuộc dạng này
Ví dụ 1 :
Cho tam giác ABC, M và N lần lượt là điểm chính giữa của các cạnh AC và
BC Nối AN và MN biết diện tích tam giác MNC bằng 15 cm2 Tính diện tích tamgiác ABC ?