1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II việt nam từ năm 1930 đến năm 1945 trong chương trình lịch sử lớp 12 ban cơ bản

93 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi học sinh tự lập được dàn ý bài viết trong sách giáo khoa có nghĩa là các em đã nắm được kiến thức cơ bản của bài học và có thể vận dụnglinh hoạt.. Thành công của Cách mạng Tháng Tám

Trang 1

MỤC LỤC

1 Lời giới thiệu: 1

2 Tên sáng kiến 2

3 Tác giả sáng kiến: 3

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: 3

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 3

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 3

7 Mô tả bản chất của sáng kiến: 3

7.1 Về nội dung của sáng kiến: 3

7.1.1 Xác định mục tiêu bài học để hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng tự học cho học sinh 3

7.1.2 Xác định các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” 5

7.2 Về khả năng áp dụng của sáng kiến: 60

8 Những thông tin cần được bảo mật: 60

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 60

10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử: 61

10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 61

10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 63

11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: 64

Phụ lục: 66

Tài liệu tham khảo: 88

Trang 2

1 Lời giới thiệu

Trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì việc

tự học của học sinh vô cùng quan trọng, để điều khiển quá trình tự học sao cho

có hiệu quả nhất thì việc hướng dẫn của giáo viên đỏi hỏi phải thật khéo léo, đadạng góp phần tích cực làm chuyển biến quá trình tự học của học sinh.Tuy vậy,trong thực tế dạy học hiện nay việc áp dụng phương pháp dạy học hướng dẫnhọc sinh tự học của giáo viên ở tất cả các môn học nói chung và môn lịch sử nóiriêng còn gặp rất nhiều lúng túng và khó khăn

Cách học của học sinh vẫn đơn giản là cố gắng hoàn thành hết số bài tậpgiáo viên giao về nhà, học thuộc trong vở ghi, thụ động nghe giảng Đối vớigiáo viên thì chỉ quen thuộc với cách kiểm tra bài cũ đầu giờ cốt sao cho đủ sốlần điểm Việc kiểm tra định kỳ chỉ đơn giản là thực hiện theo phân phối chươngtrình Đa số giáo viên thường quan niệm kiến thức là mục đích của quá trình dạyhọc nên chỉ quan tâm đến phương pháp truyền thụ kiến thức của bài đúng vớinội dung sách giáo khoa

Một số giáo viên chưa có kỹ năng soạn bài, vẫn áp dụng một cách rậpkhuôn, máy móc lối dạy học "truyền thống" chủ yếu giải thích, minh hoạ táihiện, liệt kê kiến thức theo sách giáo khoa là chính, ít sử dụng câu hỏi tìm tòi,tình huống có vấn đề… coi nhẹ rèn luyện thao tác tư duy, năng lực thực hành, ít

sử dụng các phương tiện dạy học nhất là các phương tiện trực quan để dạy học

và tổ chức cho học sinh nghiên cứu thảo luận trên cơ sở đó tìm ra kiến thức vàcon đường để chiếm lĩnh kiến thức của học sinh

Các phương pháp dạy học tích cực coi việc rèn luyện phương pháp học tậpcho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làmột mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tựhọc Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ýchí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi conngười, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, cần phải nhấn mạnhmặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ họctập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong

Trang 3

trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiếthọc có sự hướng dẫn của giáo viên.

Chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” nằm trong chương

trình lịch sử lớp 12- Ban cơ bản gồm 3 bài: Bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935; Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939; Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Đây là một chương học quan trọng giúp học sinh nắm

được thời kì lịch sử quan trọng của nước ta từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam

ra đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành 3 phong trào đấu tranh

1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 chuẩn bị cho sự thành công của cuộc cách mạngtháng Tám dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chương họccũng giúp bồi dưỡng niềm tự hào về sự đấu tranh vẻ vang, niềm tin vào sức sốngquật cường của Đảng, từ đó giúp thế hệ trẻ có tinh thần hăng hái, nhiệt tình cáchmạng, không quản gian khó hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, noigương ông cha, trân trọng phát huy những thành quả của cách mạng thángTám Nội dung của chương học cũng thường xuyên xuất hiện trong những đềthi khảo sát chuyên đề, thi học sinh giỏi cấp tỉnh và thi Trung học phổ thôngQuốc gia Vì vậy, rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh sẽ góp phần nâng caochất lượng môn học

Thực tế, nhiều đề tài đã nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng tự học chohọc sinh để nâng cao hiệu quả bài học nhưng chủ yếu tập trung trình bày nhữngnội dung mang tính lí luận và lấy một vài ví dụ minh họa chứ không gắn vàomột chương, một bài học cụ thể

Đề tài: Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản sẽ khắc phục được hạn chế của các đề tài khác, trình bày cụ thể các lí thuyết

và việc ứng dụng lí thuyết về các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học vào mộtchương cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.Qua đó, nâng cao hiệu quả bài học, giúp học sinh hứng thú với bài học, mônhọc

Trang 4

2 Tên sáng kiến: Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II:

“Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban

cơ bản.

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thúy Mai

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học – Thànhphố Vĩnh Yên-Tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0964034756 E-mail: nguyenthuymai18121981@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thúy Mai

Địa chỉ: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học Thành phố Vĩnh Yên Tỉnh Vĩnh Phúc

Số điện thoại: 0964034756 E mail: nguyenthuymai18121981@gmail.com

12 - Ban cơ bản Qua đó, nâng cao hiệu quả bài học và bồi dưỡng niềm yêu thích

môn học cho học sinh

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Ngày áp dụng lần đầu: Tháng 10 năm 2018

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1.1 Xác định mục tiêu bài học để hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng tự học cho học sinh

Để hình thành kĩ năng tự học cho học sinh cần phải xác định được các mụctiêu mà bài học hướng tới:

* Về kiến thức:

Học sinh cần nắm được:

Trang 5

- Phong trào cách mạng đầu tiên do Đảng ta lãnh đạo (1930-1931): nguyên nhânbùng nổ, những cuộc đấu tranh tiêu biểu, ý nghĩa lịch sử và bài học kinhnghiệm.

- Hiểu rõ thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chính quyền do Đảng Cộngsản lãnh đạo (1936-1939) Đây là phong trào đấu tranh khác hẳn thời kì 1930-

1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức và phương pháp đấu tranh

- Đường lối, công cuộc chuẩn bị, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và nguyên nhânthắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945

* Về tư tưởng:

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng

- Bồi dưỡng tinh thần hăng hái, nhiệt tình cách mạng, không quản gian khó hysinh vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, noi gương ông cha, trân trọng pháthuy những thành quả của cách mạng tháng Tám

- Rèn luyện kĩ năng tự học với phương tiện kĩ thuật hiện đại

- Rèn luyện kĩ năng tư duy lịch sử để hiểu rõ bản chất của các sự việc, hiệntượng lịch sử từ đó tạo ra niềm say mê, hứng thú học tập

* Định hướng các năng lực được hình thành:

- Năng lực chung: năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực đánh giá, phản biện,

năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng công nghệ thông tin

- Năng lực chuyên biệt:

+ Năng lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng lược đồ lịch sử; tranh ảnh vềcác nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử

+ Phân tích được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử

Trang 6

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cá nhân, khả năng đánh giá của cá nhân về một sựkiện, hiện tượng lịch sử

+ Năng lực phát hiện, đề xuất, giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (tracứu và xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết các vấn đề, tổ chức thực hiện dựkiến, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống)

7.1.2 Xác định các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945”

7.1.2.1 Hình thành và phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa

Việc hình thành kĩ năng tự học với sách giáo khoa cho học sinh đượcthực hiện ở cả 2 khâu: tự học trên lớp và tự học ở nhà trên cơ sở sự hướngdẫn chi tiết của giáo viên

a Hình thành và phát triển kĩ năng đọc và tự phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa

* Bản chất: Học sinh tự đọc sách giáo khoa, tìm được các ý quan trọng, cốt lõi

nhất của bài viết, để chủ động chiếm lĩnh kiến thức cơ bản và trả lời câu hỏi củagiáo viên từ đó tạo hứng thú học tập và kích thích tư duy học sinh phát triển

* Biện pháp thực hiện

Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:

- Đọc lướt nội dung bài viết trong sách giáo khoa để tìm ý chính

- Xác định các mục, phân đoạn trong từng mục

- Tự tìm tư tưởng chính qua các từ khóa.

- Sắp xếp các ý thành một nội dung hoàn chỉnh

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935:

Khi dạy mục 2 (I): “Xô viết Nghệ Tĩnh”: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc

lướt mục này, xác định được nội dung bao gồm: sự ra đời, các chính sách và ýnghĩa của Xô viết Nghệ Tĩnh, các chính sách của Xô viết được thực hiện trên

các lĩnh vực: “chính trị”, “kinh tế”, “văn hóa, xã hội”, gạch chân những từ khóa,

như: “Tự do tham gia các hoạt động đoàn thể”, “Chia ruộng đất công”, “Bãi bỏthuế”, “Mở lớp dạy chữ Quốc ngữ”, “Đỉnh cao của phong trào 1930-1931”, …

Trang 7

Cuối cùng, học sinh sắp xếp lại nội dung đã phân tích.

Nội dung tóm tắt mục 2 (II)- Bài 14 (Lịch sử 12): “Xô viết Nghệ Tĩnh”

Xô viết

Nghệ Tĩnh

Tại Nghệ An, Xô viết ra đời tháng 9/1930 Ở Hà Tĩnh, Xô viếthình thành cuối năm 1930-đầu năm 1931 Các Xô viết thực hiệnquyền làm chủ của quần chúng, điều hành mọi mặt đời sống xãhội

Chính sách - Về chính trị: thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân,

b Hình thành và phát triển kĩ năng tự lập dàn ý bài viết trong sách giáo khoa

* Bản chất: Đây là kĩ năng quan trọng khi học sinh tự học với sách giáo khoa.

Bởi vì dàn ý là sự thể hiện cô đọng, khái quát, hệ thống nội dung kiến thức cốt lõitừng mục và toàn bài Khi học sinh tự lập được dàn ý bài viết trong sách giáo khoa

có nghĩa là các em đã nắm được kiến thức cơ bản của bài học và có thể vận dụnglinh hoạt

* Biện pháp thực hiện

Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:

- Đọc kĩ một mục hay toàn bài viết của sách giáo khoa

- Xác định cấu trúc của bài học (có bao nhiêu mục? nội dung cơ bản của mỗimục)

- Khai thác nội dung cơ bản theo từng ý

- Sắp xếp ý chính, ý phụ thành một thể thống nhất, hoàn thiện dàn ý

Trang 8

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939

Để lập được dàn ý, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ nội dung trong sáchgiáo khoa, xác định được các nội dung cơ bản: bối cảnh thế giới và trong nước,chủ trương của Đảng, những phong trào đấu tranh tiêu biểu, ý nghĩa và bài họckinh nghiệm của phong trào dân chủ 1936-1939 Triển khai ý phụ của các ýchính trên và hoàn thiện dàn ý của bài

Dàn ý bài 15 (Lịch sử lớp 12) Phong trào dân chủ 1936-1939

* Bối cảnh lịch sử:

- Bối cảnh thế giới:

+ Sự xuất hiệt và hoạt động của chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật Bản

+ 7/1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản: xác định nhiệm vụ chống chủ nghĩaphát xít

+ 6/1936: Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, ban hành nhiềuchính sách tiến bộ ở thuộc địa

- Bối cảnh trong nước:

+ Chính trị: nhiều Đảng phái chính trị hoạt động, mạnh nhất là Đảng Cộngsản Đông Dương

+ Kinh tế: Pháp tăng cường khai thác, bóc lột thuộc địa Kinh tế Việt Nam phụchồi và phát triển nhưng vẫn phụ thuộc vào Pháp

+ Xã hội: Đời sống các tầng lớp nhân dân khó khăn

* Chủ trương của Đảng: 7/1936: họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

Đảng tại Thượng Hải (Trung Quốc), xác định:

- Nhiệm vụ chiến lược: chống đế quốc và phong kiến

- Nhiệm vụ trước mắt: chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít,chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình

- Phương pháp: kết hợp công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp

- Thành lập mặt trận nhân dân phản đến Đông Dương (1938: mặt trận dânchủ Đông Dương)

Trang 9

* Phong trào tiêu biểu:

- Đấu tranh đòi các quyền tự do dân sinh dân chủ:

+ Phong trào Đông Dương đại hội (1936)

+ Phong trào đón Gô-đa và Brê-vi-ê (1937)

+ Phong trào dân sinh dân chủ trong những năm 1937-1939

* Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

- Bài học kinh nghiệm:

+ Xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất

+ Tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp tác

+ Thấy được hạn chế trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc

=> Là cuộc tập dượt chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám

Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.

Mục 1 (II) Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939.

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ nội dung trong sách giáo khoa, xác địnhđược các nội dung cơ bản về Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộngsản Đông Dương tháng 11/1939 bao gồm hoàn cảnh triệu tập, nội dung và ýnghĩa lịch sử của hội nghị Triển khai ý phụ của các ý chính trên và hoàn thiệndàn ý của bài

Trang 10

Dàn ý Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (11 – 1939)

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 1939.

Hoàn cảnh: tháng 11 1939, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại

Bà Điểm (Hóc Môn – Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì

- Nội dung:

+ Nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước mắt: đánh đổ đế quốc và tay sai, làm cho

Đông Dương hoàn toàn độc lập

+Chủ trương: tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất đề ra khẩu hiệu tịch thu

ruộng đất của bọn thực dân đế quốc và địa chủ tay sai đế quốc, chống tô cao…khẩu hiệu lập Chính phủ dân chủ cộng hòa

+ Về mục tiêu, phương pháp đấu tranh: Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh dân

chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai Từ hoạtđộng hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật

+Chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương

- Ý nghĩa lịch sử: đánh dấu sự chuyển biến quan trọng - đặt nhiệm vụ giải

phóng dân tộc lên hàng đầu.

c Hình thành và phát triển kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa

* Bản chất: Kênh hình là nguồn kiến thức quan trọng, bổ sung cho kênh

chữ, góp phần tạo biểu tượng sinh động, tăng tính hình ảnh, gây hứng thú họctập cho học sinh Đồng thời phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, khả năng tưduy và thực hành bộ môn cho học sinh

* Biện pháp thực hiện

- Quan sát tổng thể kênh hình để biết được chủ đề

- Phân tích kênh hình, xác định các chi tiết quan trọng trong hình theo gợi ýcủa giáo viên

- Tích cực suy nghĩ, phát hiện kiến thức cơ bản qua kênh hình

Trang 11

- Chủ động trình bày ý kiến của mình và lắng nghe nhận xét bổ sung của bạn vàgiáo viên để tự hoàn thiện kiến thức.

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935

- Khi dạy mục 2(II): Xô viết Nghệ Tĩnh, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát:

Hình 32: Đấu tranh trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, xác định đây là thể loạitranh sơn dầu, phản ánh diễn biến của phong trào đấu tranh 1930-1931 ở Nghệ -Tĩnh

Đấu tranh trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với kiến thức sáchgiáo khoa để trao đổi một số câu hỏi:

+ Quan sát bức ảnh, em thấy số lượng người tham gia cuộc biểu tình như thếnào? Khí thế đấu tranh ra sao? (rất đông đảo, tinh thần quyết liệt)

+ Khi đi biểu tình người dân mang theo gì? (vũ trang tự vệ: chiêng trống, gậy,dao, )

+ Hình ảnh lá cờ đi đầu biểu tượng cho điều gì? (sự lãnh đạo của Đảng)

- Sau khi học sinh trao đổi, gọi 1 học sinh trình bày trước lớp, cả lớp nghe, bổsung và nhận xét

Trang 12

- Giáo viên nhận xét và cung cấpthêm tư liệu:

“Bức tranh miêu tả cuộc biểu tình của người dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An) Vào ngày 12 tháng 9 năm 1930, ước tính có hơn 8.000 nông dân kéo về phủ lị và trương các khẩu hiệu như: Bỏ sưu thuế, bớt giờ làm, chống khủng bố trắng, bồi thường cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc bạo động Yên Bái thậm chí là chia lại ruộng đất, đả đảo chủ nghĩa đế quốc, đả đảo phong kiến Đoàn biểu tình này xếp hàng dài hơn 1 cây số, tập trung kéo về thành phố Vinh Theo mô tả, đi đầu là những người cầm cờ đỏ, đi hai bên là đội viên tự vệ được trang bị các loại dao, gậy Trên đường đi, đoàn biểu tình có lúc dừng lại

để diễn thuyết và chỉnh đốn đội ngũ Dòng người càng đi càng được bổ sung thêm cho đến khi đến gần Vinh con số đã lên tới 30.000 người và xếp hàng dài tới hơn 4 cây số.

Chính quyền thực dân Pháp đã phản ứng đáp trả mạnh mẽ, họ chủ trương kiên quyết trấn áp Lực lượng vũ trang đã vào cuộc, thậm chí họ đã huy động cả máy bay ném bom vào đoàn biểu tình làm 217 người chết và 125 người bị thương Tuy vậy hành động trên, không ngăn được đoàn người biểu tình đấu tranh Người biểu tình kéo về huyện lỵ, đập phá nhà lao, đốt phá các huyện đường, bao vây đồn lính khố xanh Điều này đã làm cho hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến tan rã hay lung lay ở nhiều huyện, xã Nhiều viên chức nhà nước như: lý trưởng, tri huyện đã bỏ trốn vì sức ép này Nhưng cuối cùng cuộc nổi dậy của phong trào này đã bị nhà Nguyễn và chính quyền Bảo hộ Pháp đàn áp ”

- Khi dạy mục 3(II): Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương lâm thời

Đảng Cộng sản Việt Nam (10/1030), giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát: Hình

33: Trần Phú (1904-1931) xác định đây là thể loại tranh chân dung nhân vật lịch sử

Trang 13

Trần Phú (1904-1931)

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với kiến thức sáchgiáo khoa và hiểu biết của bản thân để trao đổi một số câu hỏi:

+ Em biết gì về Trần Phú (tiểu sử bản thân, quá trình hoạt động)?

+ Đóng góp của Trần Phú cho lịch sử dân tộc là gì?

- Dựa vào sách giáo khoa, tư liệu tham khảo và hiểu biết của bản thân học sinhsuy nghĩ tích cực và trình bày trước lớp, giáo viên cùng các học sinh tronglớplắng nghe và đóng góp ý kiến

- Giáo viên cung cấp cho học sinh những hiểu biết về đồng chí Trần Phú:

“Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên cường, mẫu mực, người con ưu

tú của Đảng và dân tộc ta suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Đồng chí Trần Phú sinh ngày 1-5-1904, tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Mồ côi cha khi mới hơn 4 tuổi, Trần Phú sớm có ý thức tự lập, vượt khó để vươn lên trong học tập theo tấm gương của cha, mẹ Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Trần Phú đã dồn hết tâm trí cho học tập Sau khi đỗ đầu kỳ thi thành chung ở Huế vào năm 1922 Trần Phú được bổ nhiệm

Trang 14

làm giáo viên Trường tiểu học Cao Xuân Dục tại Vinh Trong những năm làm giáo viên ở Vinh, Trần Phú nổi tiếng là một giáo viên dạy giỏi, yêu trò, đoàn kết các Đồng nghiệp, khơi đậy trong thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương

và lòng căm thù giặc sâu sắc Đồng chí đã tiếp nhận những tư tưởng yêu nước

và cách mạng của Nguyễn Ái Quốc qua sách báo truyền vào Việt Nam lúc đó Bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của Trần Phú là việc Đồng chí được

cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Tại đây Trần Phú đã gặp Nguyễn Ái Quốc, dự lớp huấn luyện chính trị do Người giảng dạy Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc tin cậy, kết nạp vào nhóm bí mật (Cộng sản Đoàn) với tên gọi Lý Quý, được giới thiệu sang học tại Trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva Chính những năm học tập, nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tham gia hoạt động thực tiễn, đặc biệt trao đổi với các đồng nghiệp của các Đảng anh em về những vấn đề dân tộc và thuộc địa, Trần Phú

đã có bước trưởng thành lớn đủ sức gánh vác những nhiệm vụ do Đảng phân công Tháng 4-1930, Trần Phú được Quốc tế Cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử về nước hoạt động với cương vị là cán bộ chủ chốt của Đảng và có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam.

Tháng 7 năm 1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Luận cương chính trị do Trần Phú dự thảo và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930 thông qua, là văn kiện quan trọng của Đảng, đã vận đụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những luận điểm cơ bản trình bày trong Chính cương vắn tắtvà Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng.

Với công lao và đóng góp to lớn đó đồng chí Trần Phú đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930 bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

Trên cương vị Tổng Bí thư đầu tiên, Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trong việc xây đựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đồng chí Trần Phú là người cộng sản mẫu mực, nêu tấm gương kiên cường, bất khuất trước kẻ thù Đồng chí bị địch bắt ở Sài Gòn ngày 18-4-1931 Thực dân Pháp đã không

Trang 15

từ một thủ đoạn dã man xảo quyệt nào hòng khuất phục đồng chí Trước những thủ đoạn của kẻ thù, kể cả việc đụ dỗ, mua chuộc, Trần Phú đã tiến công lại kẻ thù: "Tôi biết nhiều người là để làm việc cho Đảng tôi, nước tôi, chứ không phải khai cho các ông bắt bớ" Sống trong nhà tù đế quốc trong điều kiện hết sức nghiệt ngã, Trần Phú luôn luôn bình tĩnh, sáng suốt truyền niềm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng đến các đồng chí cùng bị giam Trần Phú cùng với các đồng chí khác tổ chức nhiều cuộc đấu tranh vạch mặt chế độ lao tù dã man, vô nhân đạo của kẻ thù, tổ chức những buổi huấn luyện chính trị ngay trong nhà tù của đế quốc Pháp.

Sự tra tấn và đày ải của kẻ thù đã cướp đi Tổng Bí thư Trần Phú vào ngày 6-9-1931 Trước lúc hy sinh, Trần Phú nhắn gửi đồng chí, đồng bào lời nói bất hủ: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: "Là một người rất thông minh, hăng hái và cần cù, Đồng chí Trần Phú đã làm được nhiều việc quan trọng cho Đảng" Trong bài tưởng nhớ Đồng chí Trần Phú năm 1932 lưu trữ tại Hồ sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: "Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là những người cộng sản Đông Dương".

Vận dụng vào bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939

Khi dạy mục 2(II): Những phong trào đấu tranh tiêu biểu, giáo viên

hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 34: Mít tinh kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động(1/5/1938) tại khu Đấu Xảo (nay thuộc Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội

Trang 16

Cuộc mít tinh ở Khu Đấu xảo (Hà Nội) (1/5/1938)

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh, trao đổi thảo luận theo nhữngcâu hỏi gợi ý:

+ Cuộc mít-tinh diễn ra ở đâu? (Hà Nội và các vùng phụ cận…)

+ Số lượng tham gia như thế nào, không khí ra sao? (Không khí náo nhiệt,thu hút đông đảo nhân dân tham gia )

- Gọi học sinh lên trả lời, các học sinh khác có thể bổ sung, nhận xét sau đó giáoviên cung cấp tư liệu về không khí sôi động ngày hội lao động của quần chúngnhân dân Hà Nội Khi trình bày của giáo viên kết hợp với ảnh sẽ giúp học sinhhiểu rõ trình độ giác ngộ, ý thức tổ chức, đoàn kết đấu tranh của quần chúng nhân dân

và chính sách Mặt trận dân chủ đúng đắn của đảng cộng sản Đông Dương

“Chiều ngày 1/5/1938, các đoàn thể quần chúng đại diện cho các ngành nghề, tầng lớp xã hội: thợ máy, công nhân hoả xa, nhà văn, nhà báo, thanh niên, trí thức, phụ nữ…gồm 25 nghìn người, hàng ngũ chỉnh tề, có người phụ trách từng nhóm, từng đoàn tập trung ở địa điểm quy định Mỗi người đều có huy hiệu trên ngực và khẩu hiệu cài trên mũ, nón Các trưởng đoàn đeo băng màu vàng, các chỉ huy đeo dấu hiệu sao đỏ Đoàn viên đeo băng màu đen Các

Trang 17

đoàn tuần tuần hành qua các phố, hô vang khẩu hiệu và lôi cuốn thêm nhiều người tham gia Họ tiến vào khu vực nhà đấu xảo Hà Nội.

Trước lễ đài cuộc mít tinh, có các khẩu hiệu lớn: “ủng hộ mặt trận bình dân Pháp”, “Đi tới mặt trận dân chủ Đông Dương”, “chống nạn thất nghiệp”, đi tới phổ thông đầu phiếu “Tự do dân chủ”, “chống phát xít và đấu tranh chống nạn sinh hoạt đắt đỏ” Cuộc mít tinh khai mạc Sau bài quốc ca Pháp, quần chúng hát vang bài Quốc tế ca.

Tiếp đó 12 lá cờ đỏ khổ lớn của 12 đoàn thể nhân dân được giương cao, chào đón những đại biểu lên phát biểu ý kiến Trần Văn Lai, Muytê (Mútter), Capuýt đại biểu đảng xã hội; Trần Huy Liệu đại biểu nhóm cộng sản hoạt động công khai, nhóm “Tin tức”; Trần Văn Hoè đại biểu thợ máy; Mai Khắc Thể đại biểu nông dân; Nguyễn Thị Thảo đại biểu phụ nữ; Nguyễn Văn Mô đại biểu tiểu thương… xen vào các bài phát biểu, máy truyền thanh lại phát ra bài “Quốc tế ca” và mọi người hưởng ứng hát theo.

Cuộc mít tinh kéo dài mấy tiếng đồng hồ, số lượng người tham gia rất đông, nhưng không ồn ào và rất trật tự Mấy vạn người đều như một Đại diện phát biểu không chỉ có các đảng phái, mà còn có đại biểu của công nhân, nông dân, phụ nữ, tiểu thương, trí thức và của đảng cộng sản Đông Dương Bọn thống trị Pháp rất căm tức, nhưng đứng trước một cuộc mít tinh lớn có hàng vạn người tham gia, có tổ chức, có kế hoạch, có chỉ đạo chặt chẽ, chúng đành bất lực”.

- Giáo viên đặt câu hỏi nâng cao:Đây có phải lần đầu tiên nhân dân ta đấu tranhnhân ngày Quốc tế Lao động? Phong trào đấu tranh lần này khác gì so vớinhững phong trào trước đó? Ý nghĩa lịch sử của cuộc mít-tinh là gì?

+ Làlần đầu tiên nhân dân đấu tranh công khai nhân ngày Quốc tế Lao động

1/5, thể hiện sức mạnh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Trang 18

Khi dạy mục 3(II): Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 38: Lán Khuổi Nậm

+ Sự kiện nào đã được tổ chức tại đây? Ý nghĩa của sự kiện đó là gì?

- Sau khi thảo luận, dựa vào sách giáo khoa và những hiểu biết của bản thân, họcsinh trình bày trước lớp những hiểu biết của mình về lán Khuổi Nậm và Hộinghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cả lớp lắng nghe, bổ sung, sau

đó giáo viên cung cấp thêm tư liệu:

“Từ cuối tháng 3/1941, Người chuyển sang ở và làm việc tại lán Khuổi Nậm (Pác Bó) Lán có địa thế rất thuận lợi, nằm ngay ở cửa rừng, được che kín, nhìn bên ngoài vào không phát hiện được, nhưng ở bên trong quan sát ra thì rất rõ,

Trang 19

khi có động tĩnh có thể rút lui, ngược dòng Khuổi Nậm qua mốc 108 (cũ) sang Trung Quốc an toàn Lán Khuổi Nậm là một cái lán nhỏ, đơn sơ nhưng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng có tầm chiến lược để từ đó Đảng ta vận động, đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước, tích cực chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, đón thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc Lán

là nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập báo “Việt Nam độc lập”, tổ chức các lớp huấn luyện chính trị, quân sự, thành lập Đội du kích Pác Bó Nhưng quan trọng nhất, từ ngày 10 - 19/5/1941, tại đây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách

là đại biểu của Quốc tế Cộng sản đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 Tham dự Hội nghị có Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh và các đồng chí: Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và đại biểu tổ chức Đảng hoạt động ở nước ngoài Xét về tính chất và quy mô, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 giống như một Đại hội toàn quốc của Đảng bởi Nghị quyết Trung ương đã vạch ra những chiến lược căn bản cho con đường cách mạng Việt Nam và có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của đất nước.

Không ai có thể tin được rằng, chính tại đây, ở chốn hẻo lánh này, nơi mà đi hàng chục cây số không gặp một bóng người, trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn ấy, tại căn lán nhỏ bằng tre đơn sơ lại diễn ra hội nghị của những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương và hội nghị

ấy thông qua những nghị quyết có ý nghĩa lịch sử đối với vận mệnh của dân tộc Việt Nam, đối với toàn bộ phong trào cách mạng của Đông Dương Nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và sự thay đổi chiến lược cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng trong việc giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ trong điều kiện cụ thể của nước ta, chính là sự hoàn chỉnh nội dung các nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 và 7 trước đó Sự thay đổi chiến lược một cách kịp thời, đầy sáng tạo của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đáp ứng được khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc, phù hợp với bối cảnh cụ

Trang 20

thể của cách mạng Việt Nam và đã mở đường cho Cách mạng Tháng Tám năm

1945 đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, là một sự kiện vĩ đại, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử Việt Nam, phá tan xiềng xích nô lệ và lật đổ chế

độ quân chủ chuyên chế Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành đất nước độc lập, nhân dân làm chủ vận mệnh dân tộc Chính từ căn lán nhỏ đơn sơ nơi cội nguồn Pác Bó, ánh sáng cách mạng đã lan tỏa, phát triển mạnh mẽ trở thành bão lửa cách mạng thiêu đốt hết tất cả “bè lũ bán nước và cướp nước” Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khẳng định con đường đúng đắn của hành trình hơn 4 năm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo thực hiện những quyết sách đã được vạch ra tại lán Khuổi Nậm để đến Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”

Khi dạy mục 4(II): Chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, giáo viên

hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 39: Lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyềnGiải phóng quân

Lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh, trao đổi thảo luận theo nhữngcâu hỏi gợi ý:

+ Em biết gì về bức ảnh trên? Người chỉ huy trong bức ảnh trên là ai? (VõNguyên Giáp)

+ Các chiến sỹ trong bức ảnh trên thuộc những dân tộc nào? (chủ yếu là người

Trang 21

+ Ý nghĩa của sự kiện trong bức ảnh trên là gì?

- Giáo viên gọi học sinh lên trình bày sau khi đã thảo luận, các học sinh khác bổsung và nhận xét

- Giáo viên chốt ý, cung cấp tư liệu:

‘Đứng trước những yêu cầu thực tiễn của cách mạng, tháng 12-1944, lãnh

tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao cho Võ Nguyên Giáp phụ trách Bản chỉ thị lịch sử này là một văn kiện có tính chất cương lĩnh quân sự của Đảng, đề cập một cách toàn diện đường lối Phương châm, tổ chức và hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng Trong điều kiện lịch sử đương thời, bản chỉ thị nhấn mạnh: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự Nó

là đội tuyên truyền…”, đồng thời “Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc khắp đất nước Việt Nam chúng ta”.

Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22-12-1944 tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chính thức làm lễ thành lập gồm 3 tiểu đội, với 34 chiến sĩ được chọn lọc từ những chiến sĩ du kích Cao - Bắc - Lạng do Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy rong số 34 cán bộ, chiến sĩ của đội có 29 người là dân tộc thiểu số, còn lại

5 chiến sĩ người dân tộc Kinh.

Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam”

Khi dạy mục 3(III): Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, giáo viên

hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 41: Quần chúng cách mạng chiếm Phủ Khâmsai (Hà Nội)

Trang 22

Quần chúng cách mạng chiếm Phủ Khâm sai (Hà Nội)

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với sách giáo khoa đểtrao đổi một số câu hỏi:

+ Quan sát bức ảnh, các em thấy những gì? Đoàn người khởi nghĩa ở đâynhư thế nào? (rất đông người)

+ Họ đang làm gì? (tiến vào cổng của Phủ Khâm sai)

- Sau khi học sinh trao đổi, giáo viên gọi học sinh lên trình bày hiểu biết củamình, học sinh khác nghe, bổ sung, giao viên cung cấp thêm tư liệu:

“Sáng 19-8-1945, hàng chục vạn nhân dân nội, ngoại thành Hà Nội xuống đường biểu dương lực lượng Họ mang trong tay giáo, mác, mã tấu tiến về quảng trường Nhà hát lớn thành phố Sau khi Ủy ban khởi nghĩa đọc lời kêu gọi khởi nghĩa giành chính quyền, quần chúng cách mạng có sự hỗ trợ của các đội

tự vệ chiến đấu, đã chia đi các ngả đường để chiếm những cơ quan đầu não của

kẻ thù.

Trong ảnh là cảnh đoàn biểu tình chiếm Phủ Khâm sai Bắc bộ (nay là Nhà khách Chính phủ trên đường Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Đoàn biểu tình tiến tới Phủ Khâm sai Lính Bảo an ở đây rất đông, đã được lệnh sẵn sàng

Trang 23

nổ súng Quần chúng đập cửa, thuyết phục lính Bảo an đừng bắn, rồi nhiều người vượt hàng rào sắt vào bên trong Phủ.

Trước sức mạnh của quần chúng đông đảo, lính Bảo an hạ vũ khí đầu hàng quần chúng cách mạng Lá cờ đỏ sao vàng đã được cắm trên nóc nhà Phủ Khâm sai ”

- Giáo viên nêu câu hỏi nâng cao: thông qua bức ảnh “Quần chúng cách mạngchiếm Phủ Khâm sai (Hà Nội)”, em thấy lực lượng chủ yếu tham gia giànhthắng lợi trong cách mạng tháng Tám là ai? - Là lực lượng quần chúng nhân dândưới sự tập hợp của mặt trận Việt Minh

Khi dạy mục IV: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập (2/9/1945), giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 43: Quảng trường Ba

Đình Hà Nội ngày 2/9/1945

Quảng trường Ba Đình Hà Nội ngày 2/9/1945

- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với sách giáo khoa đểtrao đổi một số câu hỏi:

+ Em biết gì về sự kiện trong bức ảnh?

Trang 24

+ Em thấy không khí trong bức ảnh như thế nào?

+ Em có thể kể một vài câu chuyện mà em biết liên quan đến sự kiện trong bức ảnh?

- Sau khi học sinh trao đổi, giáo viên gọi học sinh lên trình bày hiểu biết củamình, học sinh khác nghe, bổ sung, giao viên cung cấp thêm tư liệu:

“Quảng trường Ba Đình nằm ở phía Tây cổng thành cổ Hà Nội Tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố

từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là

Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân Việt Nam từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước,

tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập, và cuối cùng Quảng trường Ba Đình đã được chọn.

Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế

Trang 25

giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng

và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết thêm: “Cuộc biểu dương lực lượng

ấy không chỉ thể hiện được ý chí của người lãnh đạo mà đồng thời nó tìm thấy được sự đồng thuận rất lớn của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn ngày 2/9

vì đó là ngày Chủ nhật, có thể huy động được quần chúng Không gian của quảng trường Ba Đình lúc đó trở thành một lễ đài rất trang nghiêm và hội tụ lòng dân vào trong nền độc lập của đất nước ”

d Hình thành và phát triển kĩ năng trả lời câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa

* Bản chất:

Hệ thống câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa là những gợi ý quan trọng vềnội dung kiến thức cơ bản của bài, mà trong mỗi tiết học giáo viên cần hướng dẫnhọc sinh lí giải Câu hỏi trong sách giáo khoa phong phú về thể loại, đảm bảo cácmức độ nhận thức khác nhau và được sử dụng trong suốt tiến trình bài học Việcrèn luyện kĩ năng tự khai thác kiến thức để hoàn thành việc trả lời câu hỏi và làmbài tập trong sách giáo khoa giúp học sinh khắc sâu kiến thức cơ bản, phát huytính tích cực, sự kiên trì, chịu khó, say mê trong học tập bồi dưỡng năng lực tưduy và hành động Đồng thời, giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpcủa mình

* Biện pháp thực hiện

Để phát triển kĩ năng này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh kiên trì, rènluyện qua nhiều bài học, với các bước như sau:

- Xác định đúng yêu cầu của câu hỏi

- Khai thác kiến thức trong sách giáo khoa hoặc kiến thức đã học để suy nghĩtìm ý trả lời

- Trình bày nội dung kiến thức theo ý hiểu của mình

Trang 26

- Nghe ý kiến nhận xét, bổ sung của bạn và giáo viên để hoàn thiện câu trảlời.

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935:

- Câu hỏi cuối mục II, trang 96 - SGK Lịch sử 12: Trình bày diễn biến phong trào cách mạng 1930-1931.

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ nhận biết, giáo viên giúp học sinh trìnhbày được diễn biến của phong trào các mạng 1930-1931

+ Bước 2: Câu hỏi có thể khai thác trước khi giảng mục II, học sinh sử dụngkiến thức ở mục 1 và 2 (II) để trả lời

+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

Phong trào trên toàn quốc

- Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế – xã hội, phong trào cách mạng lên cao

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh củacông nông trong cả nước

- Tháng 4-1930 nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân nổ ra

Mục tiêu: Đòi cải thiện đời sông, công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm; nôngdân đòi giảm sưu thuế Do Đảng lãnh đạo, có khẩu hiệu chính trị, có cờ Đảng

- Nhân ngày Quốc tế lao động 1/5, cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh, đây làbước ngoặt của phong trào cách mạng Lần đầu tiên công nhân VN biểu tình kỷniệm ngày Quốc tế lao động, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao động

Trang 27

trong nước, thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động thế giới

- Tháng 6 đến tháng 8/1930 cuộc đấu tranh của công nhân trên cả nước

Ở Nghệ - Tĩnh:

- Tháng 9/1930 phong trào dâng cao ở Nghệ An và Hà Tĩnh:

+ Nông dân biểu tình có vũ trang tự vệ với hàng nghìn người kéo đến huyện lị,tỉnh lị đòi giảm thuế ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Diễn Châu, AnhSơn (Nghệ An), Kỳ Anh (Hà Tĩnh) …

+ Được công nhân Vinh - Bến Thủy hưởng ứng

- Ngày 12/ 9/1930 biểu tình của 8000 nông dân Hưng Nguyên (Nghệ An):

+ Chính quyền thực dân, phong kiến bị tê liệt, tan rã ở nhiều huyện, xã

+Nhiều cấp ủy Đảng ở thôn xã lãnh đạo nhân dân tự quản lý đời sống chính trị, kinh

tế, văn hóa xã hội ở địa phương, làm chức năng của chính quyền, gọi là Xô Viết

- Câu hỏi 1, trang 97 - SGK Lịch sử 12: Nêu ý ngĩa Lịch sử và bài học kinh

nghiệm của phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh.

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ thông hiểu, giáo viên giúp học sinh hiểu

và rút ra được ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm sau khi tìm hiểu xongnhững nét cơ bản về bối cảnh và diễn biến chính của phong trào các mạng 1930-1931

+ Bước 2: Học sinh dựa vào kiến thức ở mục I và II để trả lời

+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

Trang 28

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

Ý nghĩa lịch sử

- Là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với quần chúng nhân dân trong cả nước

- Khối liên minh công nông được hình thành

- Là cuộc tập dượt đầu tiên cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này

Bài học kinh nghiệm

- Bài học về công tác tư tưởng: Đảng đã giáo dục tập hợp được một lực lượngcách mạng đông đảo của quần chúng, nhất là quần chúng công nông đứng lênlàm cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp

- Bài học về xây dựng liên minh công nông: Qua phong trào khối liên minhcông nông được hình thành Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nông đoàn kếtvới các tầng lớp nhân dân khác

- Bài học về phương pháp giành chính quyền và giữ chính quyền bằngbạo lực cách mạng

- Bài học về xây dựng chính quyền nhân dân, một hình thức chính quyềnkiểu mới

- Bài học về tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh

Vận dụng vào bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939:

- Câu 1 (trang 102 sgk Sử 12):Em có nhận xét gì về quy mô, lực lượng tham

gia và hình thức đấu tranh trong phong trào dân chủ 1936 - 1939?

Trang 29

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ vận dụng, trên cơ sở kiến thức của toàn

bộ bài 15, học sinh phải rút ra được nhận xét về phong trào dân chủ 1936-1939theo các tiêu chí:quy mô, lực lượng tham gia và hình thức đấu tranh Giáo viênhướng dẫn học sinh nhận xét từng tiêu chí

+ Bước 2: Học sinh dựa vào kiến thức đã học và tư duy để trả lời câu hỏi.+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

Nhận xét:

- Về quy mô: rộng lớn, diễn ra rộng khắp cả nước, trên nhiều mặt trận

- Về lực lượng: thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia

- Về hình thức đấu tranh: đa dạng, phong phú với nhiều hình thức công khai,bán công khai

=> Phong trào dân chủ 1936 -1939 là cuộc diễn tập lần thứ 2, chuẩn bị choTổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.

- Câu hỏi cuối mục I (trang 104 sgk Lịch Sử 12): Tình hình nước ta trong

những năm 1939 - 1945 có biến chuyển như thế nào?

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ thông hiểu, học sinh cần nắm được sựchuyển biến của tình hình nước ta trong những năm 1939-1945

Trang 30

+ Bước 2: Từ nội dung mục I - Tình hình Việt Nam trong những năm

1939-1945, giáo viên giúp học sinh rút ra được những chuyển biến về chính trị, kinh

tế, xã hội nước ta trong giai đoạn này

+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

*Tình hình chính trị:

- Tháng 9 - 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Pháp ra sức vơ vétthuộc địa để phục vụ cho cuộc chiến tranh

- Tháng 9 - 1940, Việt Nam chịu sự thống trị của Nhật - Pháp

- Tháng 3 - 1945, Nhật đảo chính Pháp, nhân dân Việt Nam sôi sục khí thếcách mạng, sẵn sàng khởi nghĩa

*Tình hình kinh tế - xã hội:

- Pháp thi hành chính sách Kinh tế chỉ huy

- Phát xít Nhật ra sức cướp bóc ruộng đất của nông dân

- Các công ty Nhật đầu tư vào các những ngành phục vụ cho quân sự

- Cuối năm 1944 - đầu năm 1945, gần 2 triệu đồng bào của ta chết đói

- Câu 1 (trang 120 sgk Sử 12):Mặt trận Việt Minh ra đời có tác động như thế

nào đến cao trào kháng Nhật cứu nước?

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ vận dụng cao, học sinh cần đánh giáđược vai trò của mặt trận Việt Minh trong cao trào kháng Nhật cứu nước

Trang 31

+ Bước 2: Để đánh giá được vai trò của tổ chức hoặc cá nhân trong một giaiđoạn hoặc sự kiện lịch sử, học sinh cần dựa vào diễn biến cụ thể của sự kiện lịch

sử đó Trong câu hỏi này, để thấy được vai trò của mặt trận Việt Minh học sinhcần phải dựa vào diễn biến của cao trào kháng Nhật để đánh giá

+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

- Mặt trận Việt Minh đã có tác động lớn đến cao trào kháng Nhật cứu nước:+ Việt Minh đã có uy tín và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, gópphần to lớn cho cao trào kháng Nhật cứu nước và tiến tới Tổng khởi nghĩa.+ Việt Minh đã trực tiếp lãnh đạo cao trào kháng Nhật cứu nước

+ Tổ chức các cuộc đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần ở địaphương cùng nhiều hoạt động như phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói,biều tình mít tinh

+ Tổ chức giác ngộ cho quần chúng đấu tranh, xây dựng lực lượng vũ trang vàcăn cứ địa cách mạng

+ Tạo cơ sở và tiền đề cho Tổng khởi nghĩa trong cả nước

- Câu 2 (trang 120 sgk Sử 12):Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông

Dương và Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng Tám được thể hiện như thếnào?

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ vận dụng, học sinh cần phân tích được

sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh trongcách mạng tháng Tám

Trang 32

+ Bước 2:Trong câu hỏi này, để thấy được sự lãnh đạo đúng đắn của ĐảngCộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minhhọc sinh cần phải dựa vào quá trìnhchuẩn bị và diễn biến của cuộc cách mạng tháng Tám.

+ Bước 3: Học sinh trình bày theo nhận thức của mình

+ Bước 4: Giáo viên gọi học sinh khác bổ sung, nhận xét và chốt ý:

* Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng Tám:

- Nắm bắt thời cơ cách mạng: Khi nhận được thông tin về việc Nhật sắp đầuhàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởinghĩa toàn quốc, sau đó ban bố “Quân lệnh số 1”, chính thức phát lệnh Tổngkhởi nghĩa trong cả nước trước khi quân Đồng Minh kéo vào nước ta

- Lên kế hoạch cụ thể cho cuộc Tổng khởi nghĩa:

+ Triệu tập Hội nghị toàn quốc, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dânTổng khởi nghĩa, quyết định chính sách đối nội - đối ngoại sau khi giànhđược chính quyền

+ Triệu tập Quốc dân đại hội Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởinghĩa của Đảng

+ Tích cực lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền CuộcTổng khởi nghĩa giành chính quyền đã diễn ra nhanh chóng (khoảng 15 ngày),

ít đổ máu

- Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Là văn bản mang tính pháp lý tuyên bố với toàn thế giới về nềnđộc lập của Việt Nam

Trang 33

- Câu 3 (trang 120 sgk Sử 12):Tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám ở địa phương em.

+ Bước 1: Đây là câu hỏi ở mức độ vận dụng cao, giáo viên yêu cầu học sinhvận dụng kiến thức chung là cuộc cách mạng tháng Tám trong cả nước để tìmhiểu cuộc cách mạng tháng Tám ở địa phương

+ Bước 2: Trên cơ sở tài liệu tham khảo và hiểu biết của bản thân, học sinhtìm hiểu về cuộc cách mạng tháng Tám ở địa phương mình (giáo viên giaonhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu)

+ Bước 3: Học sinh trình bày trước lớp, những học sinh khác nghe, đặt câuhỏi bổ sung kiến thức và nhận xét

+ Bước 4: Giáo viên nhận xét và cung cấp thêm tư liệu:

“Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (từ tháng 3/1945 - 8/1945), trên địa bàn Vĩnh Yên và Phúc Yên, bọn Nhật đang đóng ở những nơi quan trọng, hiểm yếu như Diệm Xuân, thị xã Vĩnh Yên, vùng Tam Lộng, khu vực Đông Anh Ở những nơi này, chúng móc nối, tiếp sức cho bọn phản động, trong đó, nguy hiểm nhất là bọn Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh cầm đầu và bọn đại địa chủ phản động

do Đỗ Đình Đạo cấu kết với những tên thuộc Đảng Đại Việt đang ráo riết hoạt động nhằm cướp chính quyền trước chúng ta Ở thời điểm này, khi nạn đói đang hoành hành dữ dội thì cả 2 tỉnh lại bị ngập lụt bởi vỡ đê sông Hồng ở Quảng

Cư và Diệm Xuân, làm cho giao thông bị ách tắc, sản xuất bị đình trệ, nhiều nhà cửa, tài sản bị cuốn trôi, đời sống của nhân dân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Song, nhìn chung thuận lợi vẫn rất lớn Đó là lực lượng cách mạng của quần chúng được giác ngộ rất đông đảo, được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh do các Đảng bộ lãnh đạo; uy tín của Mặt trận Việt Minh lên cao, bởi Mặt trận đã tổ chức các hoạt động như biểu tình, phá kho thóc của địch chia cho

Trang 34

dân nghèo Việc làm này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà đã tạo ra động lực

về tinh thần và chính trị rất lớn đối với quần chúng Một thuận lợi có tính chiến lược là thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi, nghĩa là thời khắc lịch sử đã điểm cho một cuộc đổi đời của dân tộc Từ những khó khăn và thuận lợi ấy, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã diễn ra ở Phúc Yên và Vĩnh Yên trong thời gian từ ngày 17 đến ngày 31/8/1945 theo phương thức giành chính quyền ở cấp huyện trước, sau đó đến cấp xã và kết thúc ở cấp tỉnh.

Ở cấp huyện: Ngày 17/8 khởi nghĩa ở huyện Lập Thạch; ngày 18/8 ở huyện Đông Anh và Bình Xuyên; ngày 19/8 ở huyện Kim Anh và Đa Phúc; ngày 20/8 ở huyện Yên Lãng; ngày 21/8 ở huyện Vĩnh Tường; ngày 22/8 ở huyện Yên Lạc và ngày 24/8 ở huyện Tam Dương Như vậy, đến ngày 24/8, các huyện đều khởi nghĩa giành thắng lợi.

Đối với cấp xã: Sau khi Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời cấp huyện được thành lập, cấp ủy Đảng, Mặt trận Việt Minh và chính quyền cử các đoàn cán bộ về các làng, xã tổ chức nhân dân biểu tình, bắt bọn lý dịch nộp sổ sách, tài liệu, ấn tín, vũ khí; sau đó tổ chức mít tinh tuyên bố xoá bỏ chính quyền địch, đồng thời công bố việc lập UBND cách mạng lâm thời cấp xã Quá trình khởi nghĩa diễn ra ở cấp xã rất nhanh gọn, chỉ trong 1 tuần lễ, từ 17 - 24/8, hệ thống chính quyền của ta đã hình thành và đi vào hoạt động.

Đối với cấp tỉnh: Ngày 19/8/1945, Ban cán sự tỉnh Phúc Yên cùng Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh thắng lợi Ngay hôm đó, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại sân vận động thị xã để chào mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa và làm lễ

ra mắt Ủy ban bảo vệ cách mạng tỉnh Phúc Yên (đến ngày 27/8/1945 đổi thành UBND cách mạng lâm thời tỉnh Phúc Yên) Như vậy, chính quyền cấp tỉnh ở tỉnh Phúc Yên được xác lập ngay sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ngày 19/8/1945.

Trang 35

Trong khi đó, ở tỉnh Vĩnh Yên, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh lại gặp những khó khăn lớn Vào thời điểm này, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lâm thời đi dự họp ở Hội nghị Tân Trào; ở địa phương, Tỉnh uỷ lâm thời đã họp 2 lần để bàn kế hoạch khởi nghĩa, nhưng mãi đến ngày 31/8/1945 mới tiến hành khởi nghĩa ở thị xã Vĩnh Yên Đúng ngày này, hàng vạn quần chúng được huy động từ các huyện đã kéo về thị xã Vĩnh Yên biểu tình giành chính quyền cấp tỉnh Nhưng cuộc biểu tình của nhân dân đã bị bọn phản động nổ súng chống lại làm hàng trăm người chết và bị thương Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, chúng ta đã

bị tổn thất nặng nề mà không giành được thắng lợi trọn vẹn trong ngày khởi nghĩa; sự kiện này đã để lại bài học lịch sử quý báu cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà.

Sau khi kết thúc công cuộc khởi nghĩa, tuy chưa lập được chính quyền cấp tỉnh

ở tỉnh Vĩnh Yên trong tháng 8, nhưng chính quyền địch cũng không còn hệ thống

và mất chỗ dựa từ cơ sở Chính quyền dân chủ nhân dân tỉnh Vĩnh Yên vẫn được thành lập vào đầu tháng 9/1945, đóng trụ sở ở huyện Yên Lạc để điều hành mọi hoạt động ở địa phương Xét trên tổng thể cách mạng tháng Tám và công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Vĩnh Yên và Phúc Yên đã thành công; mà nguyên nhân chủ yếu gồm:

Trước hết, do các Đảng bộ đã quán triệt các chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng trong thời kỳ này và vận dụng hết sức hiệu quả trong việc xây dựng lực lượng (bao gồm cả chính trị và vũ trang) lập ra các chiến khu kháng Nhật, sẵn sàng khởi nghĩa khi thời cơ đến Trong xây dựng lực lượng, các Đảng

bộ đặc biệt quan tâm xây dựng tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo, đồng thời xây dựng lực lượng quần chúng tập hợp trong Mặt trận Việt Minh để tạo ra động lực lớn tiến hành khởi nghĩa thắng lợi Mặt trận Việt Minh là tổ chức tập hợp quần chúng rộng rãi đã thu hút đông đảo lực lượng yêu nước của các dân tộc, tôn giáo, đảng phái (Đảng dân chủ), các thân sĩ yêu nước, một số địa chủ nhỏ và cả hào lý có tinh thần yêu nước tham gia Thực tế đó đã có tác dụng rất

to lớn trong việc tập hợp lực lượng tham gia giành chính quyền thắng lợi.

Trang 36

Một nguyên nhân hết sức quan trọng khác là nhờ khối đoàn kết toàn dân Khối đoàn kết ấy đã phát huy sức mạnh tinh thần, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất, tạo nên bạo lực cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đập tan chính quyền địch, giành chính quyền về tay công nông.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Vĩnh Phúc đã thành công vang dội, thành công này mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, đó là: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Vĩnh Phúc đã làm nên cuộc đổi đời lịch sử Từ thân phận người dân mất nước nay đã trở thành công dân nước Việt Nam độc lập, bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng quê hương đất nước theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; cách mạng tháng Tám và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Vĩnh Phúc đã khẳng định sức mạnh của quần chúng cách mạng khi đã được giác ngộ, tập hợp trong Mặt trận Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy cao độ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm giành quyền sống, giành độc lập tự do thì dù gian khổ khó khăn đến mấy nhân dân cũng vượt qua để giành thắng lợi; thắng lợi của cách mạng tháng Tám ở Vĩnh Phúc góp phần cùng cả nước đập tan hệ thống chính quyền địch, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đồng thời, Vĩnh Phúc cùng cả nước bước vào trận chiến mới, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn”

7.1.2.2 Hình thành và phát triển kĩ năng tự học với đồ dùng trực quan

Việc hình thành kĩ năng tự học với đồ dùng trực quan cho học sinh được thựchiện ở cả 2 khâu: tự học trên lớp và tự học ở nhà trên cơ sở sự hướng dẫn chi tiếtcủa giáo viên

a Hình thành và phát triển kĩ năng tự học với lược đồ lịch sử

Tự học với lược đồ lịch sử có sẵn (trong sách giáo khoa hoặc giáo viên cung cấp)

* Bản chất: lược đồ lịch sử giúp học sinh xác định được vị trí địa lý, diến biến

của sự kiện lịch sử trong không gian và thời gian nhất định Lược đồ không chỉ

có tác dụng cụ thể hóa kiến thức mà còn bổ sung, làm phong phú kiến thức sách

Trang 37

giáo khoa Vì vậy, trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học, học sinhcần có những kĩ năng tự học cần thiết với loại đồ dùng trực quan này

* Biện pháp thực hiện

Giáo viên yêu cầu học sinh thường xuyên thực hiện các công việc sau:

- Quan sát kĩ lược đồ, xác định tên gọi, loại lược đồ, bảng chú giải (kí hiệu, ướchiệu trên lược đồ)

- Khai thác kiến thức từ lược đồ (“đọc” lược đồ), phải có kĩ năng đọc lược đồtheo đúng nguyên tắc bộ môn: chỉ đúng phương hướng (Tây, Bắc, Đông,Nam); đúng vị trí (một điểm, một khu vực, đường biên giới quốc gia); đúngnguyên tắc (sông, suối phải từ thượng lưu xuống hạ lưu, chiều hướng chuyểnđộng của các mũi tên…)

- Suy nghĩ yêu cầu câu hỏi của giáo viên để xác định nội dung kiến thức cầnkhai thác; đọc sách giáo khoa để khai thác kiến thức liên quan đến lược đồ

- Trình bày kiến thức trên lược đồ ngắn gọn

- Theo dõi phần trình bày của học sinh khác và giáo viên để hoàn thiện kiếnthức

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935:

Khi dạy mục 1(II): Phong trào cách mạng 1930-1931, giáo viên hướng dẫn học sinh

quan sát: Hình 31: Lược đồ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnhtrong sách giáo khoa

Trang 38

Lược đồ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh

- Yêu cầu học sinh dựa vào lược đồ và những kiến thức trong sách giáokhoa trình bày ngắn gọn những hiểu biết của mình về diễn biến của phongtrào Xô Viết Nghệ Tĩnh

- Cả lớp lắng nghe, bố sung, nhận xét và đặt câu hỏi phản biện

- Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác lược đồ:

Lược đồ thể hiện địa bàn phát triển mạnh nhất trong cao trào cách mạng1930-1931 là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Căn cứ cách mạng được thể hiệnbằng hình ngôi sao, nơi cơ quan tỉnh ủy đóng là chấm tròn xanh, nơi có các cuộcđấu tranh, biểu tình của công nhân là lá cờ xanh, nơi có các cuộc đấu tranh, biểutình của nông dân là lá cờ trắng, hình ảnh búa liềm là tượng trưng cho địaphương lập được chính quyền Xô viết cấp xã…Ngoài ra, trên lược đồ còn thểhiện đường biên giới giáp Lào, sông ngòi…

Giáo viên hỏi học sinh: “Tại sao phong trào ở Nghệ Tĩnh đạt tới đỉnh cao?”.

Để giúp học sinh trả lời, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ và nêu

Trang 39

lên vị trí địa lý, lịch sử của Nghệ-Tĩnh Sau khi học sinh trao đổi, trả lời, giáoviên chốt lại và trình bày tiếp:

“Nghệ-Tĩnh là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, nhưng là vùng đất nghèo, thiên nhiên khắc nghiệt, lại bị thực dân, phong kiến đàn áp, bóc lột tàn bạo Chúng đã khẳng định: “Hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” (có Nghệ Tĩnh không giàu, không có Nghệ Tĩnh cũng chẳng nghèo) Tuy nhiên tại đây có khu công nghiệp tập trung đông công nhân là Vinh, Bến Thủy Trong hoàn cảnh như vậy, Nghệ Tĩnh có một Đảng bộ mạnh với 2011 đảng viên và các

tổ chức của quần chúng phát triển Phong trào cách mạng của nhân dân Nghệ Tĩnh đã phát triển thành các đợt sóng đấu tranh, càng ngày càng cao hơn, dồn dập hơn, quyết liệt hơn.

Tháng 9-1930, phong trào đấu tranh của nhân dân hai tỉnh Nghệ Tĩnh đạt tới đỉnh cao Những cuộc đấu tranh với quy mô từ vài nghìn đến vài vạn người tham gia nổ ra ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Diễn Châu…trong đó tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình khổng lồ ngày 12-9-1930 của 2 vạn người ở Hưng Nguyên Đế quốc Pháp cho máy bay tới ném bom làm 217 người chết và

126 người bị thương, càng làm cho ngọn lửa đấu tranh bốc cao hơn Quần chúng tiếp tục biểu tình thị uy, kéo lên phá huyện lị, cắt dây điện tín, phá nhà giam…

Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc

và phong kiến tay sai ở nhiều huyện, xã thuộc 2 tỉnh tê liệt, tan rã Thay vào đó

là sự thành lập các Xô viết để tự quản và làm nhiệm vụ của chính quyền nhân dân Xô viết kiên quyết trấn áp kẻ thù của cách mạng, thi hành các chính sách đem lại quyền lợi cho nhân dân, tổ chức cuộc sống mới ở nông thôn Nghệ Tĩnh…”

Sau khi tìm hiểu về diễn biến, giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về phongtrào đấu tranh của nhân dân ta nói chung và hai tỉnh Nghệ-Tĩnh nói riêng (hướngdẫn học sinh nhận xét về hình thức đấu tranh, tinh thần cách mạng của quầnchúng nhân dân, các chiến sĩ cộng sản…)

Bổ sung ý kiến của học sinh, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau để minh họa:

Trang 40

“Trên gió cả cờ đào phất thẳng,

Dưới đất bằng giấy trắng tung ra

Giữa đàng một trận xông pha,

Bên kia đạn sắt, bên ta tên vàng…”.

Ngoài việc lưu ý tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, giáo viêncần nhấn mạnh sự đàn áp dã man của thực dân Pháp Gợi ý để các em hiểu rằng,

sự tàn bạo của kẻ thù chứng tỏ chúng “hoàn toàn bất lực, chẳng làm được gì đểngăn cản sự mở rộng của phong trào” như lời thú nhận của Toàn quyền Rôbanhlúc bấy giờ

Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.

- Khi dạy mục 2(III): Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày Tổng khởi nghĩa,

giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 40: Lược đồ khu giải phóng ViệtBắc trong sách giáo khoa

Lược đồ khu giải phóng Việt Bắc

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD - ĐT, sách giáo khoa lịch sử lớp 12, NXB GD HÀ Nội, 2009 2. Bộ GD – ĐT, sách giáo viên lịch sử lớp 12, NXB GD Hà Nội, 2009 Khác
3. Phan Ngọc Liên, phương pháp dạy học lịch sử tập 2, NXB ĐHSP Hà Nội, 2002 Khác
4. Trần Bá Đệ (chủ biên), Lịch sử Việt Nam 1930-1945, NXB Đại học quốc giaHà Nội, 1995 Khác
5. Trần Bá Đệ, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
6. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông (Một số chuyên đề), Nxb Đại học Sư phạm, 2005 Khác
7. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lược sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 1995 Khác
8. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Một só vấn đề về lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Khác
9. Nguyễn Thị Côi, Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
10. Nguyễn Thị Thế Bình, Phát triển kĩ năng tự học lịch sử cho học sinh, NXB Đại học Sư phạm, 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w