1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN phương pháp dạy luyện từ và câu khái niệm từ láy

28 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 328,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay ở Tiểu học trong phân môn Luyện từ và câu, phần dạy khái niệm Từ láy là một phần tương đối khó và phức tạp gây khó khăn trong quá trình giảng dạy của giáo viên.. Ngoài ra trong

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Tiểu học là bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hìnhthành nhân cách của học sinh Nội dung chương trình ở bậc Tiểu học có nhiều mônhọc, các môn học này rất đa dạng và phong phú Song chúng luôn tác động cho nhaugiúp học sinh phát triển toàn diện Trong nội dung các môn học thì môn Tiếng Việt làmôn học hết sức quan trọng Nó là công cụ cần thiết để học tốt các môn học khác Họctốt môn Tiếng Việt sẽ góp phần giáo dục nhân cách và cung cấp cho các em kiến thức

cơ bản để hình thành những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe- nói- đọc- viết) đáp ứng

nhu cầu cuộc sống và yêu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong môn Tiếng việt có phânmôn Luyện từ và câu nó có tính chất tổng hợp, có mối quan hệ chặt chẽ với việc họctập: tập đọc- kể chuyện-luyện từ và câu- tập làm văn Đây là nơi tiếp nhận và cũng lànơi luyện tập ngày càng nhuần nhuyễn kỹ năng và kiến thức của các phân môn trên.Phân môn Luyện từ và câu trở thành sản phẩm tổng hợp là nơi trình bày kết quả đíchthực nhất của việc học Tiếng việt Phân môn Luyện từ và câu là một tên gọi mớitrong chương trình thay sách giáo khoa sau năm 2000, thực chất nó là phânmôn bao gồm nội dung hai phân môn trong chương trình cũ là Ngữ pháp và Từngữ Phân môn Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng trongmôn Tiếng việt Nó bao gồm toàn bộ các quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kếthợp từ thành cụm từ, câu, các quy tắc liên kết cấu tạo thành đoạn văn và văn

bản (ở Tiểu học gọi là đoạn và bài) Luyện từ và câu còn chi phối việc sử dụng

các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói, làm cho ngôn ngữ thực hiện đượcchức năng công cụ giao tiếp trong đời sống xã hội Luyện từ và câu có vai tròquan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướngdẫn học sinh nghe- nói- đọc- viết Luyện từ và câu là một yếu tố quan trọng đểphát triển năng lực trí tuệ, kỹ năng giao tiếp, những phẩm chất đạo đức tốt đẹpcủa học sinh Việc dạy Luyện từ và câu trong Tiểu học có một vai trò đặc biệtquan trọng Ngay từ ngày đầu đến trường các em đã được bắt đầu làm quen vớiLuyện từ và câu, nó được dạy trong tất cả các phân môn Tiếng việt, ở đâu códạy tiếp nhận và sản sinh lời nói thì ở đó dạy Luyện từ và câu Ngoài ra Luyện

từ và câu còn được dạy với tư cách là một phân môn độc lập

Hiện nay ở Tiểu học trong phân môn Luyện từ và câu, phần dạy khái niệm Từ láy là một phần tương đối khó và phức tạp gây khó khăn trong quá trình giảng dạy

của giáo viên Đa phần giáo viên chưa nắm vững vấn đề này bởi còn rất nhiều ý kiếnchưa đồng nhất với nhau về các quan điểm

Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy hầu như tất cả giáo viên đều rất coitrọng môn Tiếng Việt, dành rất nhiều thời gian cho môn học nhưng chất lượng mônTiếng Việt vẫn chưa đạt như mong muốn Một trong những nguyên nhân đó là do

hiệu quả phân môn Luyện từ và câu chưa cao, đặc biệt là phần “khái niệm từ láy”

cho học sinh

Trang 2

Làm thế nào để dạy học tốt phân môn luyện từ và câu phần khái niệm từ láy góp phần nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt ?

Đây là nổi trăn trở của rất nhiều thầy cô đang trực tiếp đứng lớp, luôn tìm tòinghiên cứu tìm biện pháp thích hợp nâng cao chất lượng giảng dạy Mặt khác,Luyện từ và câu là một phân môn trong sách Tiếng Việt lớp 4 thường được đánhgiá là khô khan, trừu tượng trong các phân môn Tiếng Việt, các em rất “chán” mônnày Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy nội dung phân môn luyện từ và câu là phùhợp với năng lực nhận thức của các em Nếu người giáo viên có phương pháp, kĩthuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn các hoạt động một cách linh hoạt, nhẹnhàng, thì các em sẽ rất hứng thú, chủ động nắm chắc kiến thức Ngược lại, nếugiáo viên “ngán” dạy phân môn mà tổ chức bài dạy đơn điệu, phương pháp áp đặtthì học sinh sẽ khó tiếp thu, “sợ” học, nhất là những em có học lực trung bình vàyếu Ngoài ra trong các nội dung của Luyện từ và câu thì giáo viên thường xem nhẹ

phần từ láy, học sinh không biết thì giáo viên tìm giúp nên các em thường rất thụ

động dẫn đến vốn từ nghèo nàn, việc dùng từ khi viết văn chưa hay ảnh hưởngchung đến chất lượng môn Tiếng Việt

Học sinh muốn nắm chắc được ngữ pháp trước hết phải nắm vững cấu tạo từ

(đơn vị nhỏ của câu) Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy lớp 4, tôithấy việc giảng dạy cho học sinh nắm rõ khái niệm từ, biết vận dụng từ vào thực tếbài học, vào cuộc sống giao tiếp là điều hết sức quan trọng Mặt khác, học sinhmuốn viết câu đúng ngữ pháp, câucó hình ảnh, cảm xúc phải hiểu rõ từ Hình ảnh,cảm xúc được thể hiện rõở các từ đơn, từ ghép, từ láy (đặc biệt là từ láy).

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ dạy ngữ pháp ở Tiểu học là giúp cho họcsinhnhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các qui tắc cấu tạo và sử dụngcác đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình Đồng thời, ngữ pháp còn cónhiệm vụ rèn luyện tư duy giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Do đó, việc giảng dạy cho học sinh cần nắm chắc, phân biệt rõ cấu tạo các từ

sẽ là cơ sở cho việc viết văn hay, đúng ngữ pháp

Chính vì vậy, từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: Phương pháp dạy Luyện

từ và câu “Khái niệm từ láy” Với mong muốn tìm ra cách dạy tốt nhất để các em

hiểu và nắm chắc cấu tạo từ láy và vận dụng hết các tác dụng của nó vào quá trình sửdụng ngôn ngữ trong học tập vào đời sống hằng ngày một cách chính xác, có hiệuquả cao làm cho cuộc sống thêm giàu hình ảnh, giàu màu sắc, tươi tắn, vui vẻ hơn

II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Tạo điều kiện để học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động nhận thức,khám phá, chiếm lĩnh các tri thức một cách tốt nhất để có điều kiện khắc sâu, nhớlâu, vận dụng tốt

- Giúp học sinh nắm vững khái niệm ngữ pháp, biết vận dụng để giải các bàitập, học tốt các bộ môn khác của Tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ giao tiếp

thông qua “Cách” phân tích dữ liệu.

Trang 3

- Đối với giáo viên cung cấp một số phương pháp mới, cách thức để hoàn

thành việc dạy khái niệm Luyện từ và câu thông qua việc “phân tích ngữ liệu” mới

để làm rõ những dấu hiệu bản chất của khái niệm

III- BẢN CHẤT CỦA ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc dạy khái niệm từ láy

- Điều chỉnh một số nội dung, phương pháp dạy khái niệm từ láy

- Thực hiện dạy học thực nghiệm theo phương pháp đã điều chỉnh

IV- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Do khuôn khổ của đề tài và điều kiện thời gian hạn hẹp, đề tài chỉ đi sâu

nghiên cứu: Phương pháp dạy luyện từ và câu “Khái niệm từ láy” Và chủ yếu trình bày kiến thức và một số giải pháp chỉ dạy khái niệm Từ láy Luyện từ và

câu lớp 4 + 5 và tiến hành dạy thực nghiệm trên lớp 4 của trường Tiểu học BìnhDương II - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

V - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để giải quyết được các nhiệm vụ của đề tài, tôi đã dùng các phương phápnghiên cứu như:

1-Phương pháp phân tích và tổng hợp

2-Phương pháp trao đổi và đàm thoại

3-Phương pháp điều tra thực trạng

4-Phương pháp thực nghiệm

5-Phương pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan

6-Phương pháp nghiên cứu lý luận

7- Thăm dò, khảo sát chất lượng học sinh

VI-GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

Do khuôn khổ của đề tài và điều kiện thời gian hạn hẹp Tôi chỉ thực hiệnthực nghiệm đề tài trên lớp mình giảng dạy tại Trường Tiểu học Bình Dương II-Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

VII- PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt lớp 4- 5 từ năm học 2012- 2013 đếnnăm học 2013-2014

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Cơ sở của bài viết này dựa trên cơ sở khoa học của phương pháp dạy học củamôn Tiếng Việt nói chung và cơ sở khoa học của phương pháp dạy Luyện từ và câunói riêng

1- Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Triết học Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạyTiếng Việt, giúp ta hiểu được đối tượng của khoa học ngôn ngữ một cách sâusắc, trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn

Trong học thuyết Mác-Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của loài người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là phương tiện đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư tưởng tình cảm thì nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường là phát triển ngôn ngữ cho học sinh Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt phải đi theo khuynh hướng toàn diện đó là (nói, đọc, viết, nghe) và đặc biệt với phân môn Luyện từ

và câu phải đi nghiên cứu về ngữ pháp, từ ngữ Học sinh cần phải hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình và cho người khác Cho nên ngôn ngữ cần sắc bén, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu và chuẩn về ngữ pháp” Các Mác cho rằng “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy”.

Thật vậy, ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, ngôn ngữ là phươngtiện diễn đạt tư duy của loài người Tư duy của loài người không thể phát triểnnếu thiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề phát

triển tư duy trong việc dạy học (Việc giải nghĩa từ) cũng có thể đi từ tư duy

đến ngôn ngữ Từ một ý ta có thể viết thành những câu khác nhau Nếu táchngôn ngữ ra khỏi tư duy sẽ là phương pháp sai lầm về triết học của mọi quan hệngôn ngữ và tư duy

Nhận thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra nhận thức tâm lý điqua 2 giai đoạn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Đây là cơ sở nguyêntắc trực quan trong dạy Tiếng Việt Đứa trẻ nhận thức thế giới xung quanh mộtcách cảm tính bằng mắt, gắn với màu sắc, âm thanh cụ thể Do đó, nhiệm vụđầu tiên của trường Tiểu học trong dạy Tiếng Việt là phát triển khả năng nhậnthức cảm tính dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói để dần hìnhthành cho các em đến nhận thức lý tính

2- Cơ sở ngôn ngữ học:

Các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhậntính chất cơ bản, trọng tâm của từ trong ngôn ngữ nhưng đều đi tới một định nghĩa

* Ví dụ: Sự biến đổi mất các phụ âm ghép, sự xuất hiện thanh điệu, sự

chuyển nghĩa trong từ, sự phát triển vốn từ

Luyện từ và câu nhìn chung tương đối ổn định và bền vững Các hiện tượngngữ pháp trong các văn bản thời xưa và hiện nay không quá khắc nghiệt và quá khóhiểu đối với người bản ngữ

Trang 5

3- Cơ sở giáo dục:

Giáo dục nói chung và lý luận dạy học đại cương nói riêng cung cấpphương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung cũng như dạy Luyện từ và câu nóiriêng, những biểu hiện về quy luật chung của việc dạy học các môn

Mục đích của phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như phân mônLuyện từ và câu là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh,chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống thực tiễn hoặc tiếp tục học tập Do đómục tiêu của giáo dục đề ra là phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quankhoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạođức, phát triển óc, thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động

Dạy cho các em học sinh Tiểu học hình thành các khái niệm từ láy cơ bảnvào trong quá trình nhận thức, nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành, nguyêntắc trực quan, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc giáo dục vàphát triển của dạy học do đó học sinh vận dụng những từ ngữ chuẩn mực đạtđúng câu, hiểu rõ thực tế của từ, câu để áp dụng vào đặt câu, áp dụng tốt hơncác môn học khác

4 -Cơ sở tâm lý học:

1-Bản chất tâm lý quá trình hình thành khái niệm từ láy:

Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học về tri giác mang tính đơn giản, đạikhái, ít đi vào cụ thể chi tiết, không chủ động

Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các em rất khó khăn phân biệt chính xác sựkhác nhau và giống nhau giữa các sự vật Trong khi đó các khái niệm ngữpháp hoàn toàn mang tính chất lý thuyết trừu tượng, cụ thể bằng các ngônliệu trực quan

Ở cuối bậc Tiểu học, tuy ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnhnhưng ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng, ở giai đoạn này các

em phải ghi nhớ một cách máy móc, mà các khái niệm ngữ pháp được xâydựng trên cơ sở ngữ liệu Tiếng Việt, trong khi Tiếng Việt là một ngôn ngữ hếtsức phức tạp khiến cho việc nắm các khái niệm ngữ pháp là rất khó khăn

Quá trình dạy hình thành về khái niệm học sinh sẽ lĩnh hội được ở nhiềumức độ khác nhau, có học sinh chỉ nắm được những thuộc tính bề ngoài ứngmới một vài khái niệm của bản thân, có học sinh do không hiểu bản chấtkhái niệm nên không thể dùng lời nói để diễn đạt nội dung khái niệm

Trình độ lĩnh hội khái niệm có thể các mức độ:

+ Mức độ mô tả, tái hiện

+ Mức độ giải thích vận dụng

+ Mức độ chỉ dẫn biến hoá

2- Dạy cho học sinh nắm khái niệm một cách vững chắc:

Lựa chọn hiện tượng, sự vật, các ví dụ điển hình để hình thành khái niệm

khi dạy “Từ láy” bởi vì đối với phân môn Luyện từ và câu trong giờ dạy chủ

yếu hướng dẫn cho các em thực hành nhiều nên giáo viên cần lựa chọn những

dữ liệu tiêu biểu, có đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp rõ ràng, tiêu biểu

Trang 6

để học sinh dễ tiếp thu Khi học sinh đã nắm được khái niệm rồi thì mới mởrộng sự nhận biết về khái niệm đó.

Phải tổ chức cho các em quan sát phân tích sự vật để tìm ra những đặcđiểm chủ yếu bản chất so sánh với những nét không bản chất

Cần chú ý đến trình độ nắm khái niệm của học sinh Tuy nhiên, đối vớihọc sinh Tiểu học không phải bao giờ cũng hiểu dễ dàng được các khái niệm

do vốn kiến thức của các em còn có hạn nên việc nắm bắt của các em còn gặpnhiều khó khăn

Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp nhằn nâng cao hiệu quả của giờ dạy

hình thành khái niệm “Từ láy” cho học sinh Tiểu học.

II- THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU :

1- Về chương trình:

- Chương trình Luyện từ và câu ở Tiểu học dạy từ lớp 2 - lớp 5, ở lớp 2, 3các bài Luyện từ và câu riêng nhưng được dạy mỗi tuần 1 tiết Lớp 4, 5 có tiếthọc độc lập riêng mỗi tuần 2 tiết Nội dung gồm danh từ, động từ, tính từ, từđơn, từ ghép, từ láy, cách xưng hô trong giao tiếp, câu từ, tiết ôn tập, chủ ngữ,

vị ngữ, trạng ngữ các câu có từ nối, hoặc không có từ nối

Chương trình Luyện từ và câu ở bậc Tiểu học chủ yếu mang tính thựchành, mang tính đồng âm, lấy câu làm trung tâm, học sinh bắt đầu học câu vàkết thúc chương tình ở cuối bậc Tiểu học cũng bằng câu

Khi dạy học giáo viên trung thành với sách giáo khoa, chưa có sự sáng tạo,phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, giáo viên chưa quan tâm đến mức độ tiếp thu bàicủa học sinh để có biện pháp dạy học tốt hơn

Việc học, tự học , bồi dưỡng thường xuyên giáo viên còn chưa đầu tư thời gianvẫn còn xem nhẹ

Học sinh nắm và hiểu kiến thức còn lơ mơ

Việc học về từ láy đối với các em rất ngại Các em sợ mình còn nói sai Thời gianhọc phần từ láy còn ít

Giáo viên dạy theo kiến thức sách giáo khoa, chưa nâng cao thêm kiến thức Năm học 2012- 2013 tôi được Ban giám hiệu phân công giảng dạy lớp 4 Sau khihọc xong phần từ láy Tôi kiểm tra , đánh giá kết quả của học tập của học sinh đầu năm

Thống kê kết quả khảo sát học tập của học sinh đầu năm:

Trang 7

-Học sinh đã dần làm quen với cách thức học mới.

-Tich cực chủ động tham gia xây dựng bài, hăng hái phát biểu ý kién

-Khái niệm từ láy

-Phân biệt từ láy với từ ghép

-Chưa hiểu nghĩa của từ láy

Qua kiểm tra đánh giá tôi thấy học sinh trong lớp nhận thức từ láy chưa tốt do một số nguyên nhân sau:

-Nắm chưa đúng khái niệm về từ láy

-Còn nhầm lẫn giữa từ láy với từ ghép

-Hiểu nghĩa của từ chưa đúng

Từ những nguyên nhân trên, tôi cần đưa ra một số giải pháp sau:

+Cung cấp đầy đủ về khái niệm từ láy để giúp các em hiểu từ láy

+Giúp học sinh phân biệt được từ láy và từ ghép

+Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ láy

Qua đợt khảo sát cuối học kì I, kết quả đạt như sau:

Thống kê kết quả khảo sát học tập của học sinh cuối học kì I:

Trang 8

*Nhược điểm:

-Một số học sinh học lực yếu, nhận thức còn chậm

Quy trình áp dụng: Theo phương pháp đổi mới dạy học lấy học sinh làmtrung tâm, phát huy tính tích cực của người học, tôi đã xây dựng nên giáo ánđổi mới về phương pháp dạy học, nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh.Các em biết được cách học không tiếp thu bài một cách thụ động mà nhằm đểcác em nắm bắt đúng bản chất của vấn đề thông qua bài dạy

* Hiệu qủa khi áp dụng vào thực tế lớp học.

Để giúp cho việc triển khai áp dụng phương pháp dạy học đạt kết quả tốt,

tôi đã đi sâu nghiên cứu phương pháp hướng dẫn học sinh Phương pháp dạy

luyện từ và câu “Khái niệm từ láy” Song giáo viên phải vận dụng một cách

linh hoạt, sáng tạo đặc biệt khi bồi dưỡng HSG Đối với phân môn Luy ện từ vàcâu sao cho đạt hiệu quả

Qua thực tiễn giảng dạy khi tôi vận dụng phương pháp dạy Luy ện từ và

câu Khái niệm từ láy vào dạy học với kiến thức đại trà thì 100% các em đều

nhận biết từ láy đúng theo yêu cầu, tôi đã thu được kết quả đáng khả thi tronggiảng dạy cụ thể như sau:

Với phương pháp này tôi vận dụng vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi Qua

kì thi giao lưu học sinh giỏi lớp 5 cấp Tỉnh năm học 2013- 2014 tôi đã đạt được kết quả như:

xây dựng bài, nên bài dạy đạt kết quả tốt

Để có được những kết quả đáng kể trên, thầy và trò lớp tôi giảng dạy đã nỗ lựcphấn đấu hết sức mình vượt lên những khó khăn vất vả tất cả mọi mặt để hoànthành tốt kiến thức Tiếng Việt cho học sinh và nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi.Tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Theo quan điểm của giáo trình thì “Từ láy” thường có bộ phận lặp lại về

Trang 9

âm thanh Láy và lặp lại bộ phận hình thức ngữ âm của hình vị gốc Nói nhưvậy ta phải hiểu được “Từ láy” là từ phải có một tiếng gốc mang nghĩa và mộttiếng lặp lại một bộ phận nào đó của tiếng gốc không có nghĩa.

Ví dụ: Lạnh lạnh lùng, lạnh lẽo

Nhỏ nhỏ nhắn, nhỏ nhon, nhỏ nhẻ, nhỏ nhen Rối bối rối

Nếu như các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa thì các tiếng trong

từ láy có quan hệ về âm Trong “Từ láy”, có thể xác định được tiếng gốc (tiếng

có nghĩa) và “Từ láy” ( láy lại toàn bộ hoặc bộ phận hình thức âm thanh củatiến gốc

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 định nghĩa về Từ láy: Từ láy là từ do hai haynhiều tiếng láy tạo thành” Định nghĩa này chưa nói rõ cơ chế tạo từ trong từláy là cơ chế “Láy lại toàn bộ hoặc bộ phận tiếng gốc.” Cạnh đó, nếu chỉ nhấnmạnh dấu hiệu “hai hay nhiều tiếng tạo thành” thì các từ ghép như : mặt mũi, điđứng, buôn bán, tươi tốt, nhỏ nhẹ cũng có đặc trưng ấy

Nhưng mặt hợp lý của định nghĩa về từ láy trong sách giáo khoa Tiểuhọc là nhấn mạnh các dấu hiệu hình thức của từ láy, giúp học sinh Tiểu học dễdàng nhận biết được từ láy trong văn bản Đó cũng chính là mức độ cần dạycho học sinh Tiểu học về khái niệm “Từ láy” trong Tiếng Việt

Cách phân loại từ láy dựa vào bộ phận được giữ lại trong âm tiết của hình

vị cơ sở

a- Từ láy toàn bộ:

* Ví dụ: Xanh xanh, tim tím, xinh xinh.

Hình vị láy có thể lặp lại toàn bộ âm tiết cơ sở theo quy tắc biến âmhoài thanh

+ Quy tắc biến âm theo quan điểm truyền thống chia thành 2 nhóm:

- Nhóm cao có các thanh: Thanh không, thanh hỏi, thanh sắc

- Nhóm thấp có các thanh: Thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng

- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước

- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau

+ Việc nhận diện và phân biệt từ láy với nội dung từ đơn âm, đa âm, từghép có những khó khăn nhất định

+ Ta có thể dựa vào quy tắc chuyển hoá thanh điệu để xác định các từ láy đôi

Trang 10

+ Có những hai âm tiết, phụ âm đầu và vần của các âm tiết đó tuy vậndụng theo quy tắc láy nhưng thanh điệu của chúng không phù hợp với quy tắcláy, láy thanh thì chưa hẳn đã là từ láy đối chân chính.

* Ví dụ: Mơ màng, mơ mộng

Có thể đây là những từ ghép bởi vì cả hai hình vị đều có nghĩa, dĩ nhiêncũng có những từ láy chân chính không theo quy tắc nhóm thanh, song nhữngtrường hợp này vẫn có thể giải thích được

* Ví dụ: Thâm thẩm thay cho từ (thâm thâm).

Se sẻ thay cho từ (se sẽ)

- Có những từ hai âm tiết rất phù hợp với quy tắc láy đôi về âm và thanh

điệu song cả 2 âm tiết đều có nghĩa (hoặc trước kia hoặc hiện nay có nghĩa).

* Ví dụ: Đền đài, gậy gộc, đất đai

* Ví dụ: Chùa chiền, hỏi han

Về hình thức và ý nghĩa những từ này vừa giống láy vừa giống từ ghép để

có thể xếp lại được, ta quy ước như sau:

- Coi những từ nào mà cả 2 hình vị hiện nay đang có nghĩa và có thể sửdụng như từ và có năng lực tạo từ ghép như ví dụ 1

- Coi những từ nào mà cả một hình vị hiện đã mất nghĩa không dùng độclập và không còn năng lực tạo từ nữa ở ví dụ 2 là từ láy

- Coi những từ có hai âm tiết phù hợp với cả quy tắc láy nhưng cả hai âmthanh đều không có nghĩa là từ đơn đa âm

* Ví dụ: Ba ba, đu đủ, chôm chôm

+ Một số âm tiết của từ tách riêng không thể dùng độc lập để đại diện chocác từ Một số âm tiết của từ tách riêng có thể dùng đại diện cho cả nhữngtrường hợp này là trung gian giữa từ láy và từ đơn đa âm ở đây chúng gọi tên

sự vật hiện tượng nên xếp vào loại từ đơn

* Ví dụ: Bươm bướm, chuồn chuồn.

- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước

- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau

+ Các từ láy mà hình vị cơ sở đã mất nghĩa bởi vì ngoài chức năng gọi tênchúng còn có chức năng miêu tả

*Ví dụ: ồn ào, ấm ấp, êm ái, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi

+ Trường hợp các tiếng trong từ cùng vắng khuyết đi phụ âm đầu khi đốichiếu sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học ta có thể nghĩa rằng các từ trên khôngphải là từ láy Nhưng các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm cho nên một

số quan điểm cho rằng đó là từ láy nhưng những từ láy không điển hình

+ Có quan điểm cho rằng do các âm tiết (tiếng) được biểu hiện trên chữ

viết chung có phụ âm đầu các nhà nghiên cứu Tiếng Việt có hai ý kiến Một

cho rằng ở vị trí đầu mỗi tiếng một phụ âm các thanh hầu (phương thức phát

Trang 11

âm phụ âm này là phương thức tắc, bộ phận tham gia và thanh hầu) các phụ

âm đó không dược thể hiện trên chữ Việt (giống như các thanh điệu củaTiếng Việt)

- Ý kiến hai cho rằng ở vị trí này của âm tiết (tiếng không có phụ âm đầu) cả

hai cách hiểu trên đều cho rằng đó là từ láy Khi dạy cho học sinh Tiểu học thìgiáo viên xem đây là những từ láy đặc biệt Đặc biệt là ở chỗ nó không giốngcác từ láy bình thường về hình thức ngữ âm

* Ví dụ: ồn ào, ấm áp, ép uổng, êm ái, im ắng

Thoạt nhìn và đối chiếu với định nghĩa v ề “từ láy” trong sách giáo khoaTiếng Việt Tiểu học, ta có thể nghĩ rằng các từ trên không phải là từ láy.Nhưng nếu quan sát kĩ, ta thấy các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm:

ở các tiếng trong từng từ cùng vắng khuyết phụ âm đầu Bên cạnh đó, đặctrưng ngữ nghĩa của các từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa nóichung của từ láy Vì vậy, một số người co rằng những từ này cũng là “từ láy”

*Ví dụ: Ồn ã, ấm áp, ép uổng, im ắng, ế ẩm, êm ả, ít ỏi, oi ả, ôm so, ao

ước, ấm ức, o ép, yên ả, oằn oại ( những từ xác định được tiếng gốc)

*Ví dụ: ấp úng, ẽo ợt, ỉ eo, oái oăm, óc ách, ỏn ẻn, õng ẹo, ỡm ờ, ậm ẹo,

ánh ỏi ( những từ không xác định được tiếng gốc)

Trong khi dạy giáo viên cần đưa ra một số ví dụ về từ láy không có nghĩa

“giảm nhẹ” hoặc “ mạnh hơn” so với nghĩa của tiếng gốc

*Ví dụ: đẹp đẽ, xinh xinh, may mắn, lạnh lùng Vậy nghĩa của những từ

láy này được hình thành từ nghĩa của tiếng gốc Cụ thể, từ láy có nhiều sắc thái

ý nghĩa, sắc thái biểu cảm tinh tế khác với tiếng gốc So với nghĩa của tiếnggốc, nghĩa của từ láy xác định hơn, gợi tả hơn, có giá trị biểu hiện, biểu cảmcao hơn

*Ví dụ : từ một tiếng gốc là “ nhỏ”, ta có thể tạo ra một số từ láy với

những sắc thái ý nghĩa, sắc thái biểu cảm rất khác nhau, như:

nhỏ nhỏ : hơi nhỏ

nhỏ nhắn: (vóc dáng) nhỏ và cân đối dễ thương

nhỏ nhặt: nhỏ bé, vụn vặt không đáng chú ý

nhỏ nhẻ: ( nói năng, ăn uông) chậm rãi, từ tốn

nhỏ nhen: đối xử hẹp hòi, chú ý đến cả những việc nhỏ nhặt

nhỏ nhoi: nhỏ bé, ít ỏi, mỏng manh và yếu ớt

Nghĩa của các từ láy: đẹp đẽ, xinh xắn, may mắn, lạnh lùng nói trên cũng

có những đặc trưng như vậy Các từ láy này có những sắc thái nghĩa riêng so với nghĩa của tiếng gốc ( đẹp, xinh, may, lạnh)

Ở đây có điều cần lưu ý là nghĩa của từ láy rất phong phú, đa dạng, nhiềumàu vẻ mà dạng “giảm nhẹ” hoặc “mạnh hơn” ( so với nghĩa của tiếng gốc) chỉ

là hai dạng cơ bản trong sự phong phú, đa dạng ấy Nói cách khác, ngoài haidạng “ giảm nhẹ” và “ mạnh hơn” ( so với nghĩa của tiếng gốc), nghĩa của từ

Trang 12

láy còn có những dạng khác, được hình thành theo những hướng khác, từnghĩa của tiếng gốc Vì vậy, khi dạy về nghĩa của từ láy có học sinh, nếu giáoviên quy nghĩa của tất cả các từ láy vào một trong hai dạng “ giảm nhẹ” hoặc “mạnh hơn” (so với nghĩa của tiếng gốc) thì sẽ khó tránh được sự máy móc,cứng nhắc, khiên cưỡng và hình thành ở học sinh một nhận thức không đầy đủrằng: nghĩa của từ này chỉ có hai dạng ấy mà thôi.

*Chú ý: Đối với các từ láy không xác định được tiếng gốc: (Ví dụ: lững thững,

thướt tha, nhỉ nhảnh, đủng đỉnh, bâng khuâng, thì thào, khúc khích ), đặctrưng chung về nghĩa của những từ này cũng vẫn là tính chất cụ thể xác định,gợi tả, gợi cảm

*Cách phối hợp về âm thanh của các tiếng trong từ láy.

-Lặp lại một bộ phận hoặc toàn bộ âm thanh của các tiếng

-Có sự hài hoà về âm thanh trong các bộ phận của tiếng

Sự lặp lại và sự phối hợp hài hoà về âm thanh các tiếng có tác dụng tạosắc thái nghĩa cho từ láy

* Các kiểu từ láy trong tiếng việt:

Trong Tiếng việt có 3 kiểu từ láy

1 Láy âm: Cả tiếng được láy (lặp) lại

Ví dụ: khó khăn, đỡ đần, sạch sành sanh

2 Láy vần: Bộ phận vần được láy ( lặp) lại

Ví dụ: Bồn chồn, lẩm bẩm, lào xào,

3.Láy cả âm và vần : bộ phận phụ âm và bộ phận vần được láy ( lặp) lại.

Ví dụ: ngoan ngoãn, dửng dưng, tim tím, trăng trắng

* Định nghĩa: Từ láy là từ do hai tiếng hay nhiều tiếng tạo thành các tiếng trong từ

láy có thể có một bộ phận hay toàn bộ âm thanh lặp lại

Có những từ phức gồm một tiếng có nghĩa ghép với tiếng không có nghĩahoặc các tiếng đều không có nghĩa ghép lại với nhau để tạo nên từ mới Cáctiếng này được láy phần âm hoặc phần vần hoặc cả phần âm và phần vần, đây

là các từ láy

Ngoài ra trong Tiếng việt, từ láy thường có 3 dạng khác nhau:

1.Láy đôi: Từ láy có 2 tiếng

Ví dụ: tan tành, lủng củng, canh cánh, tà tà

2.Láy ba: ( từ láy có 3 tiếng): láy ba tiếng thường xuất phát từ một từ láy hai

tiếng làm gốc, phối hợp âm thanh với một tiếng khác thành láy ba

*Ví dụ: Sạch sành sanh, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, xốp xồm xộp, ba nhăng

nhăng

3.Láy tư: (từ láy có 4 tiếng): từ láy bốn tiếng thường xuất phát từ một từ láy

hai tiếng làm gốc, phối hợp âm thanh theo các khuôn cấu tạo thành láy tư

Trang 13

Ví dụ: hớt hơ hớt hải, lúng ta lúng túng, lủng cà lủng củng, quần quần áo áo,cười cười nói nói, đen nhẻm đen nhèm, thấp tha thấp thổm, thướt thướt tha tha

*Lưu ý khi dạy từ láy:

Khi dạy phần từ láy cho học sinh, ngoài việc cung cấp về từ láy giáo viêncòn hướng dẫn cho học sinh biết cách phân biệt giữa từ láy và từ ghép:

-Điểm giống nhau giữa từ ghép và từ láy:

Đều là từ nhiều tiếng ( 2,3 hoặc 4 tiếng)

-Điểm khác nhau:

+Giữa các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa

+Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm

Như vậy khi dạy cho học sinh Tiểu học chỉ dừng ở mức độ hình thức đểhọc sinh dễ tiếp thu Khi dạy giáo viên không phải biết gì dạy nấy, dạy theochương trình mà giáo viên được học mà phải bám vào nội dung kiến thức củasách giáo khoa yêu cầu

Trong quá trình giảng dạy thì luôn xảy ra nhiều tình huống Những câu hỏi màhọc sinh đưa ra mà vượt quá nội dung kiến thức chương trình của bài dạy thì giáoviên phải khéo léo trả lời học sinh, dùng những kiểu kiến thức của chương trìnhhọc sinh đã học hay bằng nhiều hình thức khác để trả lời cho phù hợp

Việc nắm bắt kiến thức bộ môn và phương pháp giảng dạy chưa thật sâusắc, trình độ kiến thức của giáo viên chưa đồng đều, việc tiếp cận tri thức mớicòn hạn chế, do đó việc dạy tìm ra giải pháp dạy học về khái niệm từ láy nhiềuhạn chế Đặc biệt là đối với địa bàn là giáo viên vùng sâu, vùng xa còn gặp rấtnhiều khó khăn trong việc giảng dạy đối với học sinh bậc Tiểu học

Khi dạy học giáo viên chỉ thường trung thành với sách giáo khoa ít có sự sángtạo, chưa mạnh dạn có ý kiến đề xuất đến nội dung bài dạy, phương pháp giảng dạychưa phù hợp Giáo viên còn chưa quan tâm đến mức độ tiếp thu bài của học sinh

để có biện pháp điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học Về kiến thức “Từ láy” đây là

một vấn đề khó, nan giải đối với những nhà biên soạn giáo trình để đào tạo giáoviên, dẫn đến giáo viên còn nắm lơ mơ chưa rõ ràng về kiến thức Vậy nên khi dạycho học sinh không thể có được những sáng tạo về hình thức tổ chức dạy học, chưamạnh dạn tự tin trong dạy học dẫn đến học sinh không nắm vững về ngữ pháp, vậndụng vào thực hành lúng túng, làm bài lâu, không chính xác

Học sinh nắm bắt kiến thức lơ mơ, thụ động Từ thực tiễn trên làm cơ sở

để xây dựng nên những giải pháp về dạy khái niệm “Từ láy”

Để nhận biết khái niệm “Từ láy” giáo viên cần tạo hứng thú cho học sinh

học tập

Trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng Nó gần như quyếtđịnh hiệu quả của việc dạy học Luyện từ và câu được đánh giá là khô khan trongcác phân môn Tiếng Việt Vì vậy tạo hứng thú cho học sinh lại càng quan trọng

Trang 14

Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập thì giờ dạy mới diễn

ra nhẹ nhàng, học sinh chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức

Để tạo hứng thú cho học sinh, tôi thường tạo cho các em không khí sẵn sànghọc tập ngay trong từng hoạt động như sau:

Giới thiệu bài : Đây cũng là một bước quan trọng Đó không chỉ đơn giản lànêu mục đích, yêu cầu của tiết học mà còn là bước tạo không khí sôi nổi, thu hútcác em vào giờ học Có thể giới thiệu bài bằng nhiều cách : liên hệ kiến thức cũtrong bài trước đã học bằng trò chơi, hỏi đáp…

Giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được khái niệm Từ láy

Thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức , hướngdẫn làm bài tập tôi cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứng thú đối vớihọc sinh

Ngoài ra để tạo hứng thú học tập cho học sinh, người giáo viên cần phải biếtvận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật chia nhóm, kĩthuật động não,

Đối với kĩ thuật chia nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách khác nhau để gâyhứng thú đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạnkhác nhau trong lớp GV có thể chia nhóm theo số điểm danh, theo màu sắc, theotên các loại trái cây các em yêu thích,….Yêu cầu học sinh có cùng số điểm danh,cùng một màu, cùng một loại trái cây yêu thích sẽ vào cùng một nhóm

Ví dụ: Tìm các từ láy có thanh hỏi đi với thanh ngang, các thanh hỏi đi với thanh

sắc, các từ láy có thanh ngã đi với thanh huyền theo mẫu:

- Các từ láy có thanh hỏi đi với thanh ngang: nhỏ nhoi

- Các từ láy có thanh hỏi đi với thanh sắc: nhỏ nhắn

- Các từ láy có thanh ngã đi với thanh huyền: mỡ màng

* BÀI TẬP VẬN DỤNG

Bài 1: Tìm từ láy trong đoạn văn sau:

Mưa rả rích ngày đêm Mưa tối tăm mặt mũi Mưa thối đất, thối cát Trậnnày chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết, hung tợn hơn

Bài 2: Thay các từ gạch chân dưới đây bằng các từ láy cho thích hợp để các câu sau

gợi tả, sinh động

- Những giọt sương đêm nằm trên lá cành.

- Đêm Trung thu, trăng sáng lắm Dưới trăng, dòng sông trông như dát bạc

- Mưa liên tục cả ngày, mưa làm tối mặt mũi.

- Gió thổi mạnh Lá cây rơi nhiều Từng đàn cò bay nhanh theo cây.

-Trên nền trời, những cánh cò đ ang bay

-Mặt trăng tròn quá Ánh trăng trong xanh chảy khắp khu vườn.

Bài 3: Tìm từ láy chỉ màu sắc từ mỗi tiếng sau: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen.

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w