Những điểm yếu của các em được thể hiện qua bài viếtcó thể kể ra như: nắm chưa chắc lý thuyết của làm văn biểu cảm, lúng túng khilựa chọn đối tượng biểu cảm và thực hiện phương thức biểu
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I Lời giới thiệu
Đời sống tình cảm của con người là vô cùng phong phú, phức tạp Các họcgiả Trung Hoa thời xưa đã phân loại tình cảm con người thành bảy trạng thái,gọi là “thất tình”, gồm: hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ (nghĩa là mừng, giận, yêu, ghét,buồn, vui, sợ) Nhưng đó mới chỉ là những trạng thái cơ bản vì trong thực tế tìnhcảm con người tinh tế hơn nhiều, thậm chí có những trạng thái pha tạp lẫn lộn
mà ta không dễ gì gọi tên ra được Như một tất yếu khách quan, khi đã có tìnhcảm nảy sinh trong lòng thì con người sẽ có nhu cầu biểu cảm Nắm bắt đượcnhu cầu đó, chương trình ngữ văn THCS đã cho học sinh tiếp cận với thể loạivăn biểu cảm ngay từ lớp 7 Bởi văn biểu cảm được xem là một trong nhữngphương thức quan trọng giúp các em bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình Thực
tế ngày càng đòi hỏi học sinh không những nắm vững tri thức mà còn có kỹnăng thực hành vận dụng thành thạo các tri thức đã có trước mắt cũng như lâudài Ở môn Ngữ văn, học sinh phải tự mình tạo lập được những kiểu văn bản,trong đó văn bản biểu cảm có một vai trò hết sức quan trọng trong thời gian họcsinh còn ngồi trên ghế nhà trường, cũng như trong cuộc sống sau này Thếnhưng học sinh còn rất nhiều điểm yếu trong quá trình viết văn biểu cảm như:lúng túng trong chọn đối tượng biểu cảm, vận dụng chưa thành thạo phương tiệnngôn ngữ, triển khai ý trong bài văn chưa mạch lạc, bố cục bài viết chưa rõ ràng,liên kết đoạn văn còn yếu
Chính vì thế, tôi đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này và tìm ra phương pháp, ápdụng những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh để rèn kỹ năng viết vănbiểu cảm cho học sinh lớp 7
Nhiều năm tôi được phân công dạy Ngữ văn 7, dù đã bám sát chương trìnhsách giáo khoa, trong quá trình giảng dạy mặc dầu đã cố gắng rất nhiều song tôivẫn nhận thấy một thực tế là: học sinh có bám sát yêu cầu của đề bài nhưng chất
Trang 2lượng bài viết chưa cao Những điểm yếu của các em được thể hiện qua bài viết
có thể kể ra như: nắm chưa chắc lý thuyết của làm văn biểu cảm, lúng túng khilựa chọn đối tượng biểu cảm và thực hiện phương thức biểu cảm, chưa biết ápdụng những cách lập ý trong bài văn biểu cảm, kỹ năng viết đoạn và liên kếtđoạn chưa thành thạo Ngoài ra còn có tâm lý phổ biến của các em là ngại vàthậm chí sợ khi phải viết văn
Từ thực trạng trên, bước sang năm học 2017 – 2018, tôi đã có ý thức tìm vàthực hiện những biện pháp để nâng cao hiệu quả viết văn biểu cảm cho học sinh.Tôi đã dự tính những biện pháp đó là: coi trọng giờ dạy lý thuyết, kết hợp chặtchẽ giữa lý thuyết và thực hành, chú trọng việc tích hợp giữa ba phân môn đặc
biệt giữa Tập làm văn với Văn học nên tôi đã mạnh dạn đề xuất Một vài biện pháp rèn kĩ năng viết văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 THCS
II Tên sáng kiến: Một vài biện pháp rèn kĩ năng viết văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 THCS
III Tác giả sáng kiến:
1
Trang 3- Họ và tên: Vũ Thị Tuyến
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Gia Khánh
- Số điện thoại 0918088439 Email: vutuyen77gk@gmail.com
IV Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Vũ Thị Tuyến, giáo viên trường THCS Gia Khánh- Bình Xuyên- Vĩnh Phúc
V Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
1 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Dạy đại trà học sinh lớp 7
- Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS
2 Vấn đề mà sáng kiến cầ giải quyết:
Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn trong trường THCS đã được cụ thểhóa thành ba phương diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ Về kỹ năng, trọng tâm làlàm cho học sinh có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theocác kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu
có năng lực cảm nhận và bình giá văn học Như vậy kỹ năng viết, tạo lập vănbản biểu cảm là một yêu cầu cơ bản mà học sinh phải nắm được một cách thànhthạo
Ở chương trình cũ học sinh chủ yếu học văn biểu cảm dưới các kiểu bài phátbiểu cảm nghĩ về tác phẩm, nhân vật văn học Phạm vi phát biểu cảm nghĩ bị thuhẹp trong lĩnh vực văn học, tách rời mọi lĩnh vực của đời sống Chương trình
Trang 4mới đã khắc phục hạn chế của chương trình cũ ở bốn điểm sau đây: phạm vibiểu cảm rộng hơn, chủ yếu biểu cảm về con người, về thiên nhiên sự vật xungquanh; biểu cảm đối với tác phẩm văn học chiếm tỷ lệ rất nhỏ; đề văn biểu cảmthường đơn giản và khái quát ngắn gọn: từ đề có thể khái quát thành tiêu đề củabài văn hoặc đề bài không có mệnh lệnh ( loài hoa em yêu ); tình cảm trong bàiviết mang đậm giấu ấn cá nhân.
Về yêu cầu bài viết cá nhân của học sinh: lấy ngắn gọn, dễ hiểu, đủ ý làmtiêu chí Chi tiết trong bài văn chân thật tự nhiên Bài viết phải thể hiện đượctính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
Để khắc sâu kiến thức về văn biểu cảm, thực hành luyện tập rèn kỹ năng viếtvăn, kết hợp với luyện nói để rèn kỹ năng viết văn biểu cảm cho học sinh Nếulàm được đầy đủ các biện pháp trên sẽ giúp học sinh nâng cao kỹ năng viết vănbiểu cảm, hiệu quả của bài viết sẽ cao hơn
VI N gày sáng kiến được áp dụng lầ đầu:
Bắt đầu từ ngày 15 tháng 9 năm 2017
VII Mô tả bản chất của sáng kiến.
1 Nội dung của sáng kiến.
1.Coi trọng giờ dạy lý thuyết
Trong các giờ dạy lý thuyết về văn biểu cảm tôi đã tập trung khắc sâu kiếnthức cho học sinh từ việc hình thành khái niệm thế nào là văn biểu cảm, đặcđiểm văn bản biểu cảm, đề văn biểu cảm, cách làm bài văn biểu cảm, cách lập ý
2
Trang 5của bài văn biểu cảm, các yếu tố tự sự miêu tả trong văn biểu cảm, nắm đượccách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học Cách thực hiện rất đa dạng,song nổi bật là sử dụng câu hỏi trắc nghiệm buộc học sinh suy nghĩ động viênhọc sinh hào hứng trả lời, qua đó nắm vững kiến thức Cách làm này huy độngđược tất cả học sinh tham gia vào quá trình lĩnh hội, củng cố kiến thức, bởi tất cảđều được suy nghĩ, một số trả lời, một số khác nhận xét đánh giá bổ sung hoặcsửa chữa.
Sau đây là một bài tập đã áp dụng khi giảng dạy (đáp án đúng)
Bài 1: Thế nào là một văn bản biểu cảm?
A Kể lại một câu chuyện cảm động
B Bàn luận về một câu chuyện cảm động trong cuộc sống
C Là những văn bản được viết bằng thơ
D Bộc lộ tình cảm, cảm xúc của con người trước những sự vật hiện tượng trong đời sống
Bài 2: Dòng nào sau đây nói đúng về văn biểu cảm:
A Chỉ thể hiện cảm xúc, không có yếu tố miêu tả và tự sự
B Không có lý lẽ, lập luận
C Cảm xúc chỉ thể hiện trực tiếp
D Cảm xúc có thể được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 6( Hai bài trên được áp dụng cho tiết 20: Tìm hiểu chung về văn biểu cảm)
Bài 3: Cho đoạn văn sau: “ Hồ Chí Minh là cái sản phẩm trong sáng nhất của
giống nòi Cụ Hồ là tinh hoa của muôn đời để lại Vì sao chúng ta cảm độngkhông nói nên lời, khi nhìn thấy Hồ Chủ Tịch? Vì sao dân chúng thấy mặt Cụnhư thấy mặt mẹ, sung sướng giơ hai tay chào đón, ai nấy mặt mày hớn hở tronglòng thỏa thuê? Há chẳng phải vì Hồ Chủ Tịch kết tinh được muôn cái gì hay,đẹp nhất của mỗi người Việt Nam, há chẳng phải vì cụ Hồ là hiện thân của dântộc?"
a Theo em tình cảm nổi bật trong đoạn văn trên là:
A Ca ngợi tài năng trí tuệ của Hồ Chủ Tịch
B Ngợi ca sự nghiêp cách mạng của Hồ Chủ Tích
C Bày tỏ niềm ngưỡng vọng và kính yêu vô hạn của nhân dân đối với Bác Hồ
D Bày tỏ những tình cảm của tác giả đối với Bác
Hồ b Tác giả đã bày tỏ tình cảm bằng cách nào?
A Bày tỏ trực tiếp
B Miêu tả sự việc
C Liên tưởng so sánh
D Lối ẩn dụ tượng trưng
( Sự dụng trong tiết 23: Đặc điểm văn bản biểu cảm)
Trang 7Củng có kiến thức lý thuyết bằng những bài tập chắc nghiệm đồng thời gắn lý
3
Trang 8thuyết với thực hành, bằng cách đưa ra những bài tập ứng dụng ngay sau đó Ví
dụ đối với tiết 20 tôi ra đề sạu: “ Viết một đoạn văn từ hai đến ba câu nói lên cảm xúc của em trước sự vật hoặc hiện tượng nào đó” Với dạng bài tập này tôi
đã phân loại học sinh để bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giảm dần học sinh trungbình Với đối tượng yếu kém học sinh cũng phải viết theo yêu cầu của thầy songchất lượng chưa nâng cao lên được Một phần cũng do thời gian cuối tiết học chưa nhiều Vì vậy có những tiết học tôi cho học sinh làm ở nhà
Thực hiện biện pháp này đối với học sinh, ban đầu không phải học sinh nàocũng hào hứng mà có thể miễn cưỡng Nhưng dần dần do tôi tích cực động viênkhích lệ hoạt động theo nhóm, kết hợp việc cho điểm những câu trả lời đúng vànhanh, những bài viết đúng và hay, nên đã thu hút được 100% các em tham gia
Đã xảy ra trường hợp học sinh tiếc ngẩn ngơ vì minh cũng làm được bài nhưngchậm hơn để lỡ cơ hội trả lời Chính cách làm này đã khiến học sinh nắm rấtchắc những vấn đề về lý thuyết văn biểu cảm để từ đó có cơ sở viết bài văn biểucảm đạt kết quả cao
2 Tăng cường thực hành luyện tập
Cách làm này tên gọi không có gì mới, cái mới thể hiện ở trong quá trìnhthực hiện.Trước hết, đây là giải pháp được thực hiện linh hoạt ở các khâu cácđoạn trong bài giảng ở trên lớp, hoặc ở nhà hoặc ở lớp bồi dưỡng học sinh giỏi,
ở lớp phụ đạo học sinh yếu, với từng hoàn cảnh từng đối tượng mà áp dụng những cách khác nhau, yêu cầu mức độ khác nhau
Bắt đầu từ việc ra đề Để giúp học sinh có thể thể hiện tình cảm thật sự
“mang dấu ấn cá nhân” với đối tượng biểu cảm, giúp cho các em thoải máitựnguyện bộc lộ tình cảm của mình không phải do một sự gò ép nào chọn những
đề bài có độ mở nhất định, tạo cơ hội cho các em lựa chọn đối tượng phù hợpvới cảm xúc của mình Sau đây là một vài đề bài theo cách đó
Trang 9Đề 1: Loài hoa em yêu.
Đề 2: Cảm nghĩ về một mùa trong năm.
Đề 3: Cảm nghĩ về một chuyện vui hay chuyện buồn trong tuổi ấu thơ của em.
Đề 4: Phát biểu cảm nghĩ về một người thân yêu.
Đề 5: Cảm nghĩ về một loài cây em yêu.
Đề 6: Cảm nghĩ về một bài thơ đã học hay chưa học.
Qua theo dõi tôi thấy các em đều có ý thức lựa chọn đối tượng phù hợp vớitình cảm cá nhân Vì vậy chi tiết thể hiện tự nhiên và tình cảm rất chân thật thậmchí còn sâu sắc và cảm động Đó là những trường hợp lựa chọn đối tượng biểucảm người cha đã mất (đề 4 ) hoặc cây đa nơi trường cũ (đề 5)
Sau khâu ra đề là việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề và tìm ý cho bài vănsắp viết Việc này tôi thường tổ chức cho học sinh tự làm và tự nhận xét đánhgiá bổ sung cho hoàn chỉnh Việc phân tích đề phải chỉ ra được thể loại bài văn
sẽ việt, xác định được đối tượng biểu cảm và định hướng biểu cảm cho bài làm.Việc tìm ý phải dựa trên cơ sở hình dung rõ về đối tượng trong mọi trường hợp
và cảm xúc tình cảm của mình trong các trường hợp đó
4
Trang 10Phân tích đề:
Thể loại: văn biểu cảm
Đối tượng biểu cảm: Yêu mến, ưa thích, thích thú và nhớ mãi
Phương thức biểu cảm: Cả hai cách song chủ yếu là biểu cảm gián tiếp
Tìm ý và lập dàn ý:
a.Mở bài:
Giới thiệu mùa em thích
Giới thiệu chung tình cảm của mình
Trang 11biểu lộ cảm xúc, sử dụng kiểu câu cảm với những từ cảm thán, sử dụng các phép
tu từ đã học Nếu biểu cảm gián tiếp cần chú ý mức độ sử dụng các yếu tố tự sự
và miêu tả như một phương tiện để bộc lộ cảm xúc, tránh trường hợp lạm dụnghai yếu tố trên khiến bài viết trở thành bài văn tự sự hoặc miêu tả Giúp các emviết dàn ý trong văn biểu cảm, chọn những dàn ý sao cho cho phù hợp với đề tàinày
Ví dụ đề bài: “ Phát biểu cảm nghĩ về một đồ chơi tuổi ấu thơ” đòi hỏi
phải lập ý theo cách hồi tưởng kỷ niệm về quá khứ là chủ yếu, rồi mới có thể kếthợp với các cách lập ý khác Học sinh thấy được rằng không nắm được cách lập
ý thì không thể triển khai ý theo yêu cầu đề bài này Hoặc như đối với đề bài
“Phát biểu cảm nghĩ một người thân yêu” thì có sự quan sát miêu tả suy ngẫm vềđối tượng, ngoài ra có thể kết hợp các biện pháp khác
Theo tôi, cái khó nhất đối với học sinh khi viết bài là việc viết đoạn văn vàliên kết đoạn văn lại với nhau để tạo thành một bài văn mạch lạc và hoànchỉnh.Tôi đã chỉ ra cho học sinh thấy nguyên nhân cơ bản khiến các em lúngtúng không biết bắt đầu đoạn văn như thế nào, triển khai nó ra sao và kết thúc nó
để chuẩn bị chuyển sang đoạn tiếp theo chính là các em không coi trọng việc lậpdàn ý và không bám sát vào dàn ý và không bám sát vào dàn ý để viết bài Tức
là học sinh chưa biết sử dụng giấy nháp hiệu quả Vậy làm thế nào để giải quyếtvấn đề này?
Trước hết, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng giấy nháp khi làm bài một cách đúngđắn Đó là nơi thể hiện những công việc có tính chất “bếp núc” của mỗi ngườitrong đó việc quan trọng nhất là xác định một dàn ý chi tiết cho một bài 5
Trang 12văn Cách ghi dàn ý phải cô đọng, không diễn đạt thành đoạn văn, sao cho dựngđược một cái khung cho bài văn Cái khung cân đối thì bài viết sẽ chắc chắn Đểbiến một dàn ý thành bài viết thì phải làm thế nào? Phải bám vào từng ý cụ thểtrong mỗi phần của dàn ý để viết bằng cách sử dụng từ ngữ, sử dụng câu, sửdụng biện pháp tu từ đã học và cách lập ý phù hợp, sao cho đoạn văn mình viết
ra làm nổi bật được ý định diễn tả
Phần mở bài của bài văn biểu cảm là giới thiệu được đối tượng biểu cảm vàtình cảm của người viết với đối tượng đó Vì vậy phần mở bài đôi khi rất ngắngọn, ví dụ như “ Tuổi thơ của em đã trải qua nhiều kỷ niệm khó quên, nhưng emnhớ nhất là một câu chuyện thật bất ngờ đến với em trong đêm Trung thu vừaqua” Hoặc “Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với một thức quà mùa hè: quả nhót.”
Việc phân chia đoạn ở phần thân bài của bài văn biểu cảm thường dựa trênyếu tố cảm xúc tâm lý hoặc lập ý của những người viết Vì vậy sẽ có đoạn vănhồi tưởng quá khứ với những kỷ niệm khó quên để lại cảm xúc mạnh mẽ, dadiết… và cũng có một đoạn văn thể hiện một tình huống ngay trước mắt, ngườiviết vừa kể vừa tả thể hiện suy ngẫm cảm xúc trước người, vật, việc đó Và dùviết theo cách lập ý nào thì người viết cũng phải trình bày bộc lộ tình cảm cóthật của mình với đối tượng cũng có thật ở ngoài đời thì tình cảm mới tự nhiên,
có sức lay động đến người đọc Mọi đoạn văn viết về đối tượng nào đó tự tưởngtượng ra đều khó làm, chính người viết cũng khó có tình cảm chứ chưa nói đếnlàm người đọc cảm động Tôi thường cho học sinh một câu văn mang ý nghĩakhái quát và yêu cầu viết đoạn văn theo ý đó Sau nhiều lần như vậy học sinh
“lên tay” hơn nhiều
Không có bài nào giống hoàn toàn bài nào về cả ý và cách diễn đạt nhưng lạiđạt được yêu cầu: ý tưởng đầy đủ, mạch lạc, tình cảm tự nhiên trong sáng phùhợp lứa tuổi Việc liên kết đoạn văn cũng được tôi chú ý hướng dẫn học sinhthực hiện Với đối tượng khá giỏi có thể sử dụng câu nối, song phần lớn các emdừng ở mức sử dụng từ ngữ để liên kết đoạn văn Muốn sử dụng từ ngữ liên kết
Trang 13đoạn văn cho phù hợp phải xem xét mối quan hệ giữa hai đoạn về mặt nội dungnhư đó là mối quan hệ tương phản hay bổ sung hay là ý cụ thể với ý khái quát…hoặc như trình tự, như thời gian, không gian, sự việc,… Để học sinh dễ dàngchọn lựa những phương tiện liên kết khi viết văn, tôi cung cấp cho các emnhững từ ngữ liên kết thường dùng.
Phần kết bài của bài văn biểu cảm dòi hỏi học sinh phải khẳng định lại tìnhcảm của mình đối với đối tượng biểu cảm Phần này có thể lập ý bằng cáchhướng tới tương lai, thể hiện niềm tin, niềm mong ước…
Mọi thứ tình cảm, cảm xúc được biểu hiện phải có ý nghĩa giáo dục vớimình, với người Ví dụ sau đây là một kết bài như thế: “ Mi Mi là một người bạnnhỏ dễ thương của tôi Cảm ơn bố đã đưa Mi Mi đến với tuổi ấu thơ của tôi, dạytôi hiểu biết về Mi Mi và tình yêu thương của tôi cứ lớn dần theo năm tháng.”
Trong quá trình luyện văn cho học sinh, tôi thường yêu cầu học sinh sau khiđọc lại và tự sửa bài viết, biết thuyết minh về bài viết của mình (có thể cả bàihoặc một đoạn) theo hình thức trả lời câu hỏi: Bài viết về đối tượng nào? Tình
6