Vì vậy viết chuyên đề này tôi mong muốn sự chia sẻ và đóng góp của đồng nghiệp về: “Một số giải pháp nâng cao năng lực giải các bài toán phân số cho ba đối tượng học sinh THCS”.. MỤC ĐÍC
Trang 1thể hiện rõ trong nghị quyết của Đảng: “Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học công nghệ là yếu tố quyết định góp phần phát triển khoa học và xã hội” Do đó cần phải đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đạihóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Trong giáo dục, môn toán có một vị trí quan trọng Trong nhà trườngcác tri thức toán giúp học sinh học tốt các môn học khác, không những vậytrong đời sống hàng ngày học sinh có được các kĩ năng như tính toán, đođạc, ước lượng vv
Thực tế, đa số học sinh đều đã quá quen thuộc với việc học tập thụ động, đặc biệt là học sinh tiểu học và học sinh đầu cấp THCS Việc chủ động, tự học của học sinh thông qua sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác là rất ít, hầu như không có Mặt khác trong quá trình giảng dạy vì nhiều lí do khác nhau mà người thầy chưa phát huy được nhiều năng lực sáng tạo của bản thân học sinh Vì vậy viết chuyên đề này tôi mong muốn
sự chia sẻ và đóng góp của đồng nghiệp về: “Một số giải pháp nâng cao năng lực giải các bài toán phân số cho ba đối tượng học sinh THCS”
II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 6 trường THCS Tam Hợp- Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
III MỤC ĐÍCH, PHAM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp sư phạm hiệu quả nhất giúpcho học sinh nói chung, học sinh lớp 6 trường THCS Tam Hợp nói riêng cókhả năng giải được các bài toán trong chương phân số trong chương trình
số học lớp 6
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ làm sáng tỏ một sốvấn đề như sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về phát triển năng lực giải toán của họcsinh
- Đề ra các phương pháp sư phạm nhằm nâng cao và phát triển nănglực giải toán của học sinh
Trang 2- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của chuyên đề.
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc tài liệu sách báo, tạp chí,
Internet có nội dung liên quan đến nâng cao và phát triển năng lực giảitoán
vì vậy khả năng giải toán của các em còn nhiều hạn chế Trong quá trìnhdạy học nhiều năm ở trường THCS tôi nhận thấy đa số học sinh chưa pháthuy hết năng lực giải toán của mình, nhất là học sinh thuộc diện trung bình
và yếu, việc hình thành thói quen phân tích bài toán, vận dụng kiến thức đãhọc vào giải toán còn yếu ở học sinh.Tôi đã rút ra được một số tồn tại của
cả giáo viên và học sinh như sau:
I.Về phía GV
Trong quá trình học tập trong trường THCS hiện nay phần đông giáoviên chưa xem trọng việc tự học ở nhà của học sinh do vậy giáo viên chỉhướng dẫn học bài ở nhà của học sinh một cách sơ sài, giáo viên chưaphát huy hết tác dụng của sách giáo khoa Giáo viên chưa chú trọng nhiềuđến hình thành và phát triển năng lực học toán cho học sinh thông qua việcđọc sách giáo khoa xác định được mục tiêu bài học và tìm nhiều cách giải,sáng tạo ra bài toán mới
II Về phía HS
Thói quen tự hoc gần như không có, phương pháp học tập chưa hợp
lí, thụ động trong việc nắm bắt kiên thức, kĩ năng tính toán của các em conyếu chưa linh hoạt, chưa vận dụng hợp lí các phương pháp giải hợp logic,khả năng phân tích, dự đoán kết quả của một số em còn hạn chế và chưa
có khả năng khai thác sâu bài toán
Học sinh không nắm vững được những kiến thức đã học, một số họcsinh không có khả năng phân tích một bài toán từ những gì đề bài yêu cầusau đó tổng hợp lại, không chuyển đổi được từ ngôn ngữ thông thườngsang ngôn ngữ số học hoặc không tìm ra phương pháp chung để giải dạngtoán về phân số, từ đó khó mà có khả năng so sánh các cách giải để trìnhbày lời giải cho hợp lí
Trang 3III Nguyên nhân của những tồn tại.
- Chưa có phương pháp học tập hợp lí, chưa xác định đúng các dạng toán,chưa có thời khóa biểu học ở nhà cụ thể, không giải được nhiều bài tập ởlớp
- Do học sinh bị “quên mất” căn bản của phần kiến thức về số tự nhiên
và số nguyên.
- Cách trình bày lời giải một bài toán chưa thật chặt chẽ và thực hiện cácphép tính chưa chính xác nên hướng dẫn học sinh cần phải thực hiện chohợp lí
B GIẢI PHÁP THỂ NGHIỆM
I/ Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về phân số cho HS
1 Cơ sở xác định giải pháp
Việc bồi dưỡng kiến thức cơ bản là một công việc cực kỳ quan trọng
vì kiến thức cơ bản là nền tảng quyết định đến khả năng học tập của các
em, đặc biệt môn Toán càng quan trọng hơn vì lượng kiến thức của bộmôn Toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Do đó trong quá trình dạyhọc cần rèn luyện giúp HS nắm vững các kiến thức cơ bản về phân số từ
đó có cơ sở để giải các bài toán có liên quan
2 Nội dung của giải pháp
Để bồi dưỡng kiến thức cơ bản có hiệu quả thì chúng ta cần:
- Xác định được đối tượng cần bồi dưỡng kiến thức
- Kế hoạch của việc cần bồi dưỡng kiến thức
- Nội dung bồi dưỡng kiến thức
- Đánh giá hiệu quả qua việc bồi dưỡng kiến thức
3 Yêu cầu của giải pháp
Trong quá trình dạy học GV cần chú trọng đến việc bồi dưỡng cáckiến thức cơ bản cho các em để nhằm giúp cho các em nắm vững các kiếnthức Từ đó các em có nền tảng vững chắc và cũng là cơ sở giúp cho các
em học tập một cách tốt hơn Muốn vậy, trong quá trình giải toán GV có thểthông qua hệ thống câu hỏi để HS nắm lại các kiến thức đã học
HS: Học sinh xây dựng được sơ đồ giải toán
Câu a: Thực hiện trong ngoặc trước ( nhân trước, chia sau).
Trang 4Câu b: Thứ tự thực hiện: ( ) (chia trước, cộng sau) [ ] ngoài ngoặc
Qua bài toán trên nhằm rèn khả năng tính toán cho HS, giúp cho cácnắm vững thứ tự thực hiện các phép tính trong toán đồng thời cũng rènluyện khả năng tư duy cho các em Đặc biệt trong quá trình dạy học GVcần đặt nhiều câu hỏi gợi ý cho sinh nhằm giúp cho các em nắm vững kiếnthức
Ví dụ 2 (Bài tập 92 phương pháp giải toán 6 tập 2 tr 157)
Quãng đường từ nhà đến trường dài 1200m An đi xe đạp được 53quãng đường thì bị hỏng xe An đành phải gửi xe và đi bộ đến trường Tínhquãng đường An đi xe đạp và đi bộ
Gợi ý bài toán
GV: Cho HS tóm tắt bài toán bằng sơ đồ
Đây là bài toán liên quan đến kiến thức nào ?
HS: Dạng toán tìm giá trị phân số của một số cho trước
GV: Xác định đâu là b và đâu là m n ?
HS: b là quãng đường từ nhà đến trường dài 1200m
m
n là phân số 53 là quãng đường An đi xe đạp đến
trường GV : Giúp học sinh xây dựng được sơ đồ giải toán
Quãng đường từ nhà đến trường = Quãng đường An đi xe đạp +
Quãng đường An đi bộ
Trang 55 5
2
Quãng đường An đi bộ là : 1200. 5 480 ( m).
Qua bài toán rèn luyện cho HS khả năng phân tích đúng bài toán vàbiết cách giải đúng bài toán, cho HS thấy được mối quan hệ giữa toán học
và thực tế Do đó trong quá trình dạy học GV cần tạo được sự tò mò, hứngthú và muốn khám phá sự hiểu biết của mình để nhằm làm tăng khả nănghọc tập cho các em
Ví dụ 3 ( Dành cho HS khá, giỏi)
Một đội sản xuất nông nghiệp có 360 ha đất, diện tích đất ở là 54 ha,diện tích đất trồng trọt là 270 ha, còn lại là diện tích hồ nước Vẽ biểu đồ ôvuông biểu diễn tỉ số phần trăm giữa diện tích đất ở, diện tích đất trồng trọt
và hồ nước so với tổng diện tích của đội sản xuất
Phân tích bài toán
GV: Dựa vào số liệu của bài toán ta có thể vẽ được biểu đồ hay chưa ?GV: Để vẽ được biểu đồ ta cần làm gì ?
diện tích là 270.100 75%
360Diện tích hồ nước so với tổng diện
tích là
100% - (15% + 75% ) = 10%
Trong quá trình dạy học, cũng như hướng
dẫn HS giải các bài toán như những ví dụ
ở trên GV cần hỏi chúng ta đã sử dụng
kiến thức nào ? Để giúp HS khắc sâu kiến
Trang 62 Nội dung giải pháp
Khi giải bài toán thì chúng ta cần phải biết đường lối giải nhưngkhông phải bài toán nào cũng dễ tìm thấy đường lối giải Do đó việc tìm rađường lối giải cũng là một vấn đề nan giải nó đòi cả một quá trình rèn luyệnlâu dài Ngoài việc nắm vững các kiến thức cơ bản thì việc thực hành cũngrất quan trọng Nhờ quá trình thực hành đó giúp cho HS hình thành nênnhững kỹ năng, kỹ xảo và định hướng được đường lối giải bài toán Do đó
nó đòi hỏi người dạy, người học phải có tính nghiêm túc, cẩn thận và kiênnhẫn cao
3 Yêu cầu của giải pháp
Việc xác định đường lối giải chính xác sẽ giúp cho HS giải quyết cácbài toán một cách nhanh chóng, dễ hiểu, ngắn gọn và tránh mất được thờigian Chính vì vậy, đòi hỏi mỗi GV cần phải rèn luyện cho HS khả năngđịnh hướng đường lối giải bài toán là điều không thể thiếu trong quá trìnhdạy học toán
quen dần các bước phân tích, lập luận bài toán cho HS Ví dụ 2 ( Ví dụ
64 ôn tập Toán 6 tr 99 )
Tính nhanh: A 157 .1311 132 .157 158
Định hướng giải bài toán
GV: Hãy quan sát và nhận xét ở 3 số hạng của biểu thức ?
Trang 7HS: Số hạng thứ nhất và số hạng thứ hai là tích của hai phân số trong đó
Qua bài toán này rèn luyện khả năng quan sát và vận dụng các kiến thức
đã học để giải bài toán
Ví dụ 3 ( Ví dụ 62 ôn tập Toán 6 tr 94 )
Dành cho HS khá, giỏi.
Tính: S 2.31 3.41 4.51 19.201
Định hướng giải bài toán
Đối với những bài toán như thế này thì chúng ta không thể tiến hànhquy đồng mẫu để tính tổng được vì làm như vậy chỉ làm mất thời gian của
ta và không thực hiên được Khi chúng ta gặp những bài toán như thế nàythì cần phải tìm ra quy luật của nó
GV: Giúp học sinh tìm ra quy luật của dãy số
21.3 3
2.32 1
2 13
GV: Tương tự hãy phân tích các số hạng tiếp theo
Trang 8cũng giúp HS nắm vững các kiến thức đồng thời tăng khả năng giải toáncho các em và gây được hứng thú nhu cầu ham học toán ở tất cả các đốitượng HS.
2 Nội dung giải pháp
Muốn bồi dưỡng năng lực phân loại bài toán có hiệu quả thì chúng ta cần:
- Phân biệt được mức độ của bài toán
- Mức độ và khả năng học tập của HS
- Hiệu quả của việc phân loại bài toán
3 Yêu cầu của giải pháp
Việc phân loại bài toán nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức
đã học Qua đó cũng đánh giá được mức độ học tập của các em đồng thờicũng tăng khả năng học toán, giải toán cho các em Từ đó GV có thể xâydựng kế hoạch dạy học một cách hợp lí nhằm đem lại hiệu quả học tập cho
HS: Có cùng mẫu (cùng số) nhưng chỉ khác nhau về dấu
GV: Vậy để thực hiện phép cộng 2 phân số đó ta làm như thế nào ?
HS: Biến mẫu âm thành mẫu dương (phân số thứ 2) sau đó áp dụng quy tắc cộng 2 phân số cùng mẫu
Riêng câu b, GV có thể cho HS nhắc lại quy tắc cộng 2 phân số
không cùng mẫu trước khi thực hiện
Qua những bài toán như thế này nhằm giúp cho HS nắm lại các kiến
cơ bản đặt biệt là những HS yếu kém nên GV cần thường xuyên đặt nhiềucâu hỏi gợi ý, từ đó HS mới có thể giải được những bài toán cao hơn
Học sinh trung bình
Bài 2.1a, b (Rèn kuyện kĩ năng giải bài tập Toán 6 tập 2 tr 43)
Trang 9Phân tích bài toán
GV: Người thứ nhất phải mất 4 giờ để làm chung một công việc Vậy ngườithứ nhất làm được bao nhiêu phần của công việc ?
HS: Người thứ nhất làm được 14 công việc
GV: Người thứ hai phải mất 6 giờ để làm chung một công việc Vậy ngườithứ hai làm được bao nhiêu phần của công việc ?
HS: Người thứ hai làm được 16 công việc
GV: Người thứ ba phải mất 5 giờ để làm chung một công việc Vậy ngườithứ ba làm được bao nhiêu phần của công việc ?
HS: Người thứ ba làm được
Giải: Trong một giờ
1
5 công việc.
Trang 10Người thứ nhất làm được 1 công việc.
4Người thứ hai làm được 1 công việc
6Người thứ ba làm được 1 công việc
Ví dụ 4 (Bài tập 176 Ôn tập Toán 6 tr 93)
Học sinh khá, giỏi
Có hai xe ô tô: Xe thứ nhất chạy từ A đến B hết 3 giờ, xe thứ haichạy từ B đến A hết 2 giờ Xe thứ hai khởi hành sau xe thứ nhất 1 giờ Hỏisau khi xe thứ hai chạy được 1 giờ thì hai xe đã gặp nhau chưa ?
Phân tích bài toán
Ô tô A
Ô tô B
GV: Để biết hai xe có gặp nhau hay không ta làm như thế nào ?
HS: Tìm tổng phần quãng đường của hai xe đi được Nếu tổng quãng đường của hai xe lớn hơn hoặc bằng 1 thì hai xe đó gặp nhau GV: Theo
đề bài thì Ô tô A đi hết mấy giờ ?
HS: Ô tô đi hết 2 giờ
GV: Ô tô A đi được bao nhiêu phần của quãng đường AB ?
HS: Ô tô đi được 23 quãng đường AB
GV: Theo đề bài thì Ô tô B đi hết mấy giờ ?
HS: Ô tô A đi hết 1 giờ
GV: Ô tô B đi được bao nhiêu phần của quãng đường AB ?
HS: Ô tô đi được 12 quãng đường AB
Giải: Ta có:
Ô tô A đi trong 2 giờ được 23 quãng đường AB
Ô tô B đi trong 1 giờ được 12 quãng đường AB
Tổng quãng đường cả hai xe chạy được là:
2
3 + 12 = 64 63 7
6 1 ( quãng đường AB )
Trang 11Vậy với thời gian trên thì hai xe đã gặp nhau.
Đây là một trong những bài toán mà học thường rất nhiều khó khăntrong giải toán vì đa số các em còn nhỏ nên khả năng phân tích bài toánchưa cao Do đó trong quá trình giải toán GV nên hướng dẫn cho HS tậpquen dần cách phân tích những dạng toán này Nhằm làm tăng dần khảnăng phân tích cho HS và đồng thời cũng tăng khả năng giải toán cho HS
Tóm lại: Trong quá trình dạy học GV cần thực hiện phân loại bài toán vì làm
như vậy sẽ giúp ít cho HS trong quá trình học tập và cũng gây được hứngthú học tập cho HS
IV/ Bồi dưỡng năng lực phân tích, tổng hợp và so sánh.
1 Cơ sở xác định giải pháp
Nói đến năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh thì chúng ta cũng đãbiết gần như mọi ngành nghề, mọi cấp học đều sử dụng đến nó Đặt biệtvới sự thay đổi phương pháp dạy học hiện nay thì năng lực này càng đượcchú trọng Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh này không thể thiếu đượctrong toán học vì nó giúp cho học sinh tăng khả năng suy luận, sáng tạotrong giải toán và tự chiếm lĩnh tri thức Qua đó cũng giúp cho HS hiểu rõ,hiểu sâu, hiểu rộng về vấn đề toán học
2 Nội dung của giải pháp
Muốn rèn luyện cho HS khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh tốt các bài toán chúng ta cần:
- Cần nắm vững các kiến thức cơ bản
- Nắm kỹ nội dung của bài toán
- Bài toán đã cho ta biết điều gì ?
- Yều cầu của bài toán là gì ( cần tìm cái gì ) ?
- Bài toán thuộc dạng toán nào ( nhận dạng bài toán)? Để từ đó tìm mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm
- Tổng hợp các dữ kiện để tìm ra lời giải
3 Yêu cầu của giải pháp
Nhằm giúp HS từng bước tăng khả năng tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và sáng tạo trong giải toán
4 Các ví dụ minh họa
Ví dụ 1 (Bài tập 206 b Ôn tập Toán 6 tr 107)
Dành cho học sinh khá, giỏi :
Một người mang bán một sọt Cam Sau khi bán
thì số Cam còn lại là 50 quả Tính số cam mang bán
Phân tích bài toán ( Vẽ sơ đồ đoạn thẳng )
1 quả
52 số cam và 1 quả
5
Trang 12GV: Dựa vào sơ đồ thì số sọt Cam được chia làm mấy phần ?
HS: Sọt Cam được chia làm 5 phần bằng nhau
GV: Sau khi bán hết 52 số Cam trong sọt thì số Cam trong sọt còn lại baonhiêu quả và chiếm bao nhiêu phần Cam trong sọt ?
HS: Số Cam trong sọt còn lại 51 quả chiếm 3 số Cam trong sọt 5
Dành cho học sinh trung bình
Lúc 6 giờ 50 phút bạn Việt đi xe đạp từ A để đền B với vận tốc 15 km/
h Lúc 7 giờ 10 phút bạn Nam đi xe đạp từ B để đến A với vận tốc 12km/h.Hai bạn gặp nhau ở C lúc 7 giờ 30 phút Tính quãng đường AB
Phân tích bài toán
GV: Tìm quãng đường AB chúng ta làm như thế nào ?
HS: Cần tìm tổng quãng đường của bạn Việt và bạn Nam đi được
GV: Để tìm quãng đường đi được của bạn Việt ta làm như thế nào ?
HS: Cần tìm thời gian và vận tốc đi của quãng đường đó
GV: Thời gian của bạn Việt đi đến lúc hai xe gặp nhau là bao nhiêu ?
Trang 13Quãng đường đi được của bạn Việt đến lúc hai xe gặp nhau 15 23
= 10 (km)
Quãng đường đi được của bạn Nam đến lúc hai xe gặp nhau: 12 13
= 4( km )
Quãng đường AB dài là: 10 + 4 = 14 ( km )
Vậy quãng đường AB dài 14km
V/ Bồi dưỡng năng lực giải toán bằng nhiều cách và biết lựa chọn phương án tối ưu ( dành cho học sinh trung bình, khá và giỏi)
1 Cơ sở xác định giải pháp
Giải toán là một quá trình thúc đẩy tư duy phát triển Việc đào sâu,tìm tòi nhiều lời giải cho một bài toán chẳng những góp phần phát triển tưduy của HS mà còn góp phần hình thành nhân cách cho HS Giúp các emkhông dừng lại ở một lời giải mà phải hướng tới nhiều lời giải và chọn ramột lời giải đẹp, hoàn mĩ hơn trong lúc giải toán nói riêng cũng như trongviệc rèn luyện nhân cách sống của các em
2 Nội dung của giải pháp
HS tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán là một vấn đề rất khó Kể
cả đối với HS giỏi Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy GV rèn luyện cho
HS tìm ra nhiều lời giải là một vấn đề rất cần được quan tâm Qua đó giúp
HS tìm ra cách giải hay và ngắn gọn Từ đó rèn cho HS tính kiên trì, sángtạo trong học tập và dần hoàn thiện phương pháp giải toán cho bản thân
3 Yều cầu của giải pháp
Trong quá trình giải toán cũng như bồi dưỡng HS giỏi, mỗi GV luônkhông ngừng tìm tòi nghiên cứu những những phương pháp dạy tối ưunhất Từ đó giúp HS lĩnh hội các phương pháp giải toán hay, phát huyđược tính sáng tạo của mình Tìm ra được nhiều cách giải hay và hợp lí
Cách 1
Đoạn đường xe lửa đã đi 102 3 61, 2
(km)5Đoạn đường xe lửa còn cách Hải Phòng 102 – 61,2 = 40,8 (km)
Cách 2