1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm tăng sự hứng thú của học sinh trong mỗi bài học lịch sử ở trường THCS

32 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 217,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH YÊNTRƯỜNG THCS THANH TRÙ HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH NĂM 2019 Tên sáng kiến: Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm tăng sự hứng th

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH YÊN

TRƯỜNG THCS THANH TRÙ

HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH NĂM 2019

Tên sáng kiến: Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm

tăng sự hứng thú của học sinh trong mỗi bài học Lịch Sử ở trường THCS

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Lê

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến tỉnh Vĩnh Phúc

(Cơ quan thường trực: Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc)

Tên tôi là: Nguyễn Thị Lê

Chức vụ (nếu có): Giáo viên

Đơn vị: Trường THCS Thanh Trù

Điện thoại : 0988431496

Tôi làm đơn này trân trọng đề nghị Hội đồng Sáng kiến tỉnh Vĩnh Phúcxem xét và công nhận sáng kiến cấp tỉnh cho tôi đối với sáng kiến đã được Hộiđồng Sáng kiến cơ sở công nhận sau đây:

Tên sáng kiến: Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm tăng sựhứng thú của học sinh trong mỗi bài học Lịch Sử ở trường THCS

(Có Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến và Giấy chứng nhận Sáng kiến cấp cơ sở kèm theo)

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong báo cáo sáng kiến là trung thực, đúng sự thật, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toàn chịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong báo cáo sáng kiến.

Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị Vĩnh Yên, ngày 3 tháng 4 năm 2019

Người nộp đơn

Nguyễn Thị Lê

Trang 3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Lịch sử xã hội loài người là một tổng thể thống nhất, bao gồm tất cả cáclĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Do đó, việc nghiên cứu trình bàylịch sử loài người không thể thực hiện một cách phiến diện Chức năng của bộmôn Lịch sử là củng cố những kiến thức cơ bản về quá trình phát triển của xãhội loài người, việc nắm vững những kiến thức cơ bản về quá trình phát triểncủa xã hội loài người, việc nắm vững những sự kiện và quá trình lịch sử đòi hỏiphải liên quan đến nhiều ngành khoa học như xã hội - nhân văn và khoa học tựnhiên

Dạy học Lịch sử ở trường THCS là quá trình cung cấp cho học sinh tiếntrình ra đời và phát triển của xã hội loài người trên mọi mặt đời sống xã hộibằng các bài chính trị, chiến tranh cách mạng, về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹthuật Người giáo viên trước khi chuẩn bị bài cho một tiết lên lớp không thểkhông lưu ý tới các dạng bài với những đặc trưng của nó để xác định nội dung

và phương pháp phù hợp, trong đó sự hiểu biết vận dụng kiến thức liên nghành

là yếu tố quan trọng đảm bảo thành công cho bài giảng

Dạy học lịch sử ở trường THCS là một quá trình sư phạm, bao gồm nhiềuloại hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh Những hoạt động đó nhằmmục đích cho học sinh nắm được tri thức lịch sử, yêu thích môn học, từ đó pháttriển tư duy lịch sử, biết nhận định, đánh giá các sự kiện lịch sử một cách kháchquan, đúng đắn

Bên cạnh đó, việc đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học Lịch sửnói riêng là một quá trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó cónhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau

Trang 4

Vậy dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốtnhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo chúng ta Muốn thế ngoài việcđổi mới nôi dung dạy học thì chúng ta phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy

và học Người giáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động của họcsinh từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc giờ học, từ cách ổn định lớp, kiểm trabài cũ đến cách học bài mới, củng cố, hướng dẫn về nhà Những hoạt động đógiúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo

và ngày càng yêu thích, say mê môn học

Vậy để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử, ngườigiáo viên phải sử dụng rất nhiều biện pháp, ví như: phương pháp dạy học nêuvấn đề, phương pháp “động não”, phương pháp dạy học tích hợp liên môn, sơ đồ

tư duy, phương pháp đóng vai, sử dụng đồ dùng trực quan, kể chuyện lịch sử,phương pháp hướng dẫn học sinh ghi nhớ sự kiện lịch sử, nắm vững và sử dụngsách giáo khoa, vở bài tập

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn lịch sử, tôi rất băn khoăn về vấn đềhọc tập của các em Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch

sử là cả một vấn đề Làm sao để trò hứng thú, say mê, tích cực học tập? làm gì

để khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu, nghiên cứu ở trò?

Chính vì lí do trên tôi chọn đề tài: “Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm tăng sự hứng thú của học sinh trong mỗi bài học Lịch Sử

ở trường THCS” nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và

mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học lịch sử hiệuquả hơn, học sinh tích cực chủ động trong việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức củabài học Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường

2 Tên sáng kiến: “Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm tăng

sự hứng thú của học sinh trong mỗi bài học Lịch Sử ở trường THCS”.

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Lê

Trang 5

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Thanh Trù-TP Vĩnh Yên-tỉnhVĩnh Phúc.

- Số điện thoại: 0988431496 E_mail: nguyenlethcstt@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Lê

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy bộ môn Lịch sử.

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 1 - 2018.

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu hiện nay:

Vai trò, ý nghĩa của môn Lịch sử trong việc trang bị tri thức xã hội vàgiáo dục nhân cách cho học sinh là điều đã được nhân loại thừa nhận Bên cạnh

đó lịch sử không những được xem là “khoa học của các ngành khoa học xã hội”

mà còn chứa đựng trong nó những câu chuyện thú vị, ấn tượng, tạo nên sức hấpdẫn riêng cho bộ môn này

Như ta đã biết lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, đặc thù của mônhọc lịch sử là phải tiếp cận nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, nhữngdanh nhân lịch sử, không chỉ của dân tộc mà còn cả thế giới, từ cổ đại cho đếnhiện đại Khi học lịch sử yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bàihọc một cách chính xác, đầy đủ Vì vậy, đòi hỏi các em phải cần cù, say mê, vàchịu khó lĩnh hội kiến thức thì mới đạt được kết quả cao Do đó, mà bộ môn lịch

sử khó gây được hứng thú học tập ở học sinh

Mặt khác, môn lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục thế

hệ trẻ Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống của dântộc, tự hào với những thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên, xác địnhnhiệm vụ hiện tại có thái độ đúng đắn đối với sự phát triển trong tương lai

Để giúp các em học tốt, tiếp thu nhanh và nhớ lâu thì giáo viên phải đổimới phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm phát huy tính tíchcực, tạo hứng thú học tập của các em, để các em tiếp thu kiến thức mà không bị

Trang 6

gò ép Vì vậy việc khơi dậy sự hứng thú học tập, phát triển ý thức, ý chí, nănglực bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu củagiáo dục.

Tuy nhiên trong trường phổ thông ở nước ta hiện nay ý nghĩa của bộ môn

đã không được phát huy đầy đủ, chất lượng dạy và học trong nhiều năm qua rấtthấp, nhiều học sinh “thờ ơ” với giờ học, gần như là “quay lưng” với bộ mônlịch sử Thực trạng này được lý giải bởi nhiều nguyên nhân trong đó nguyênnhân sâu xa có thể kể đến là do nội dung, chương trình, Sách giáo khoa cònnặng nề, phương pháp dạy học chưa hấp dẫn và cách kiểm tra, đánh giá học sinhcòn thiên về thuộc lòng, nặng tính hàn lâm, không phát huy được sự chủ động,sáng tạo của học sinh

Ở đây chúng ta sẽ phân tích nguyên nhân từ Sách giáo khoa Lịch sử,phương pháp giảng dạy của giáo viên và cách kiểm tra - đánh giá học sinh

Thứ nhất: Sách giáo khoa Lịch sử:

Đi vào tìm hiểu nội dung chương trình Sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, 7, 8,

9, chúng ta nhận thấy, chương trình được phân phối theo mô hình “đồng tâm”với chương trình Lịch sử ở cấp Trung học phổ thông (cùng nội dung kiến thứcnhưng mức độ nhận thức thấp hơn); thể hiện được nguyên tắc “cơ bản - hiện đại

- Việt Nam”, đảm bảo tính hệ thống, lo-gic và chính xác Sách giáo khoa đã cốgắng trình bày Lịch sử một cách toàn diện: bên cạnh Lịch sử quân sự, chính trị,còn chú ý đến Lịch sử kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…

Tuy nhiên cách trình bày Sách giáo khoa và chương trình Lịch sử hiệnhành vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm Trước hết xét về nội dung theo nhận

xét của nhiều chuyên gia sử học Sách giáo khoa Lịch sử phổ thông “gần như

tóm tắt sách Sử của người lớn để bắt học sinh học Sách giáo khoa vẫn trình bày dàn trải, la liệt các sự kiện, nhàm chán, nặng nề Kiến thức Lịch sử vừa thừa, vừa thiếu, thừa những cái không cần thiết và thiếu một số nội dung cơ bản, tiêu biểu” 1 Bên cạnh đó chương trình Lịch sử nhất là Lịch sử lớp 9 còn

1 Theo GS Phan Huy Lê – Môn Sử có bị khai tử, học sao cho khỏi ngán – tuoitre.vn (12/02/2016)

Trang 7

nặng về chính trị, quân sự mà nhẹ về văn hóa, kinh tế, cách trình bày sự kiện cònnặng về số liệu, nhiều nhận định mang tính chủ quan, một chiều Có thể thấySách giáo khoa Lịch sử mang một “tham vọng” là truyền đạt tất cả những trithức về Lịch sử của thế giới và Việt Nam đến học sinh Chính vì thế khối lượngkiến thức trong Sách giáo khoa là rất lớn Tuy nhiên thời gian dành cho môn họcnày ở trường THCS lại rất hạn hẹp (1- 2 tiết/tuần) Vì vậy dẫn đến việc truyềnthụ kiến thức bị dồn nén quá mức, nhiều sự kiện, nhân vật chỉ được nhắc tênhoặc trình bày bằng những khái niệm khái quát, trừu tượng Hệ thống tranh ảnh,bản đồ thì “vừa thiếu, vừa yếu về mỹ thuật” (in đen trắng, nhòe, mờ, ) Nhữngthông tin, hình ảnh đơn điệu ấy không làm cho học sinh cảm thấy ấn tượng, hấpdẫn Do vậy tính khoa học và tính giáo dục của nó cũng giảm đi rất nhiều.

Các chuyên gia và dư luận xã hội đã nhiều lần lên tiếng về chương trìnhLịch sử phổ thông quá nặng, quá nhiều và tẻ nhạt trong cách trình bày, gây khókhăn cho giáo viên trong việc soạn giảng và truyền đạt kiến thức Bộ Giáo dụccũng đã cố gắng “giảm tải” bằng cách ban hành tài liệu “chuẩn” kiến thức, trong

đó có cắt bớt một số nội dung Tuy nhiên theo ý kiến của các chuyên gia, cách

“giảm tải” như thế của Bộ là “quan niệm giảm tải rất cơ học và lệch lạc” Chính

sự “giảm tải cơ học”, còn chủ quan đó khiến cho một số nội dung Lịch sử trởnên thiếu lo-gic”, làm học sinh càng khó hiểu và làm cho kiến thức càng thiếuhấp dẫn hơn

Thứ hai: Phương pháp giảng dạy của giáo viên:

Như chúng ta đã biết giáo viên là “nhịp cầu nối” giữa Sách giáo khoa vàhọc sinh, là người truyền kiến thức và tổ chức cho học sinh học tập Cùng mộtnội dung kiến thức nhưng cách truyền đạt lôi cuốn, hấp dẫn sẽ thu hút được họcsinh, truyền “lửa đam mê” Lịch sử cho học sinh

Tìm hiểu thực tế phải công nhận rằng có nhiều thầy cô bộ môn Lịch sử rấtyêu nghề, có tâm huyết, có trình độ chuyên môn cao Thầy cô luôn cố gắng tìmtòi tư liệu, chuyện kể lịch sử, đưa các phương pháp - kỹ thuật dạy học mới vàứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, khiến cho các kiến thức trừu

Trang 8

tượng, khó hiểu trở nên cụ thể, gần gũi hơn, giúp học sinh chủ động, hứng thúhọc tập hơn.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn không ít thầy cô còn giữ cách dạy “truyềnthống”, truyền đạt kiến thức có sẵn, một chiều, học sinh nghe, ghi chép ý màthầy tóm tắt trên bảng hoặc thầy đọc chậm Ở một số tiết giảng câu hỏi phát vấncủa giáo viên còn thiếu ý nghĩa phát triển năng lực nhận thức của học sinh đó làcâu hỏi mà đáp án nằm ngay trong Sách giáo khoa, học sinh chỉ cần tìm và đọclên, thảo luận nhóm chỉ mang tính hình thức (thảo luận các phần mà Sách giáokhoa đã ghi chép đầy đủ, học sinh chỉ cần xem sách, tóm tắt ra giấy)

Một yếu tố quan trọng tác động không nhỏ đến phương pháp giảng dạycủa giáo viên là lượng kiến thức cần phải cung cấp quá nhiều trong một tiết học.Chính vì tâm lý e ngại “cháy giáo án”, sợ “dạy thiếu kiến thức để học sinh thi”nên giáo viên luôn trong tư thế “chạy cho kịp”, “dạy cho xong”, đôi khi bàigiảng trên lớp chỉ là sự tóm tắt lại Sách giáo khoa một cách ngắn gọn Cộngthêm, quỹ thời gian của giáo viên bị chi phối bởi nhiều công việc “không tên”nên giáo viên chưa đầu tư nhiều cho việc tìm kiếm tư liệu và soạn giảng Từ đógiáo viên chưa tạo nhiều điều kiện cho học sinh tiếp cận với tư liệu Lịch sử,chưa tổ chức cho các em chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức bộ môn

Một yếu tố khác cũng tác động không nhỏ đến việc giáo viên bộ mônchậm hoặc không “mặn mà” với việc đổi mới phương pháp Đó là do cách nhìnnhận, đánh giá của phụ huynh, học sinh… khi cho rằng lịch sử là “môn phụ”,không cần thiết phải đầu tư nhiều Học sinh chỉ học bài để đối phó với các kỳthi, thái độ học nhiều khi thờ ơ, vô cảm

Nhiều năm qua Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục cũng đã có nhiều văn bản,nhiều lớp tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực nhằmphát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Bộ cũng đã nêu ra định hướngcho giáo viên tổ chức dạy học theo hướng tích hợp Tuy nhiên do Sách giáokhoa chưa đổi mới, giáo viên chưa nắm rõ phương thức cũng như lượng kiếnthức cần tích hợp, đề thi vẫn còn nhiều câu hỏi “học thuộc” nên giáo viên chưa

Trang 9

dám mạnh mẽ đổi mới phương pháp; việc dạy học tích hợp, dạy học theo chủ đềchỉ mới được áp dụng nhỏ giọt, chưa có chiều sâu

Chính lượng kiến thức nặng nề lại được truyền tải bởi cách dạy truyềnthống tẻ nhạt, khô khan khiến học sinh cảm thấy nhàm chán, mệt mỏi Các emkhông nắm được kiến thức một cách sâu sắc, không được rèn luyện kỹ năng Và

hệ quả của vấn đề này dĩ nhiên là chất lượng dạy và học giảm sút

Thứ ba: Cách thức kiểm tra - đánh giá học sinh.

Sẽ không quá đáng khi nói rằng hình thức kiểm tra - đánh giá học sinh màchúng ta đã và đang áp dụng có “trách nhiệm” rất lớn trong việc chậm đổi mớiphương pháp giảng dạy của giáo viên Trước đây giáo viên vẫn quen với cách ra

đề kiểm tra theo hướng học thuộc lòng, bắt học sinh phải ghi nhớ máy móc, chitiết các sự kiện đã xảy ra Mỗi cuối học kỳ giáo viên bộ môn luôn lo đau đáu đáp

án sợ học sinh của mình bị trừ điểm vì thiếu ý Chính cách kiểm tra - đánh giáthiếu khoa học trên đã dẫn đến một hệ quả “dây chuyền” không mong muốn.Nội dung kiến thức nhiều, thời gian tiết học quá ngắn và tâm lý giáo viên thì sợ

“dạy thiếu” làm ảnh hưởng đến kết quả thi của học sinh, chính vì thế mà nhiềugiáo viên đành chọn giải pháp “dạy chay”, miễn sao có thể dạy hết giáo án, cungcấp nhiều kiến thức giáo khoa cho học sinh nhất Học sinh thì bị “quá tải” vềkiến thức hàn lâm, không hiểu bài, chán nản nên học trước quên sau, nhầm lẫn

sự kiện lung tung Để đảm bảo chất lượng bộ môn giáo viên phải tăng cường trảbài học sinh: từ trả bài miệng, trả bài giấy đến kiểm tra 15 phút nhiều lần, nhiềuđợt… Điều đó khiến tiết học Sử trở nên nặng nề, áp lực Nhiều học sinh “đón”tiết học Sử với sự căng thẳng giống như người “sắp bị đưa ra chiến trường”

Trong 05 năm trở lại đây việc đổi mới hình thức kiểm tra - đánh giá đãđược Bộ Giáo dục đề cập đến khá nhiều Bộ và các Sở Giáo dục đều đưa ra địnhhướng phải ra đề theo hướng mở gắn với thời sự quê hương, đất nước, cho họcsinh cơ hội bày tỏ quan điểm, chính kiến Đây là một định hướng hay mang tínhkhoa học phù hợp với yêu cầu thời đại Tuy nhiên trong các đề thi của Bộ, của

Sở và Phòng giáo dục riêng đối với môn Lịch sử tỉ lệ điểm của câu hỏi “mở” so

Trang 10

với câu hỏi học thuộc lòng vẫn còn khiêm tốn Do vậy giáo viên bộ môn vẫnchưa dám mạnh mẽ đổi mới cách kiểm tra, đánh giá học sinh tại lớp, chưa dámđổi mới cách dạy truyền thống để đưa thêm những kiến thức thực tiễn vào bài.

Từ những nguyên nhân và thực trạng nêu trên là một giáo viên dạy Sử tôirất mong có thể góp phần cải thiện chất lượng bộ môn, biến những mốc lịch sửkhô khan từ trong sách trở thành những câu truyện gần gũi, giản dị, dễ ghi dễnhớ từ đó tạo được cảm hứng cho học sinh, giúp học sinh yêu thích Lịch Sửhơn Đó là lý do tôi chọn đề tài của mình là “Góp thêm vài phương pháp dạyhọc để nâng cao vị thế và sức hấp dẫn của bộ môn Lịch sử ở trường THCS”

7.1.2 Cơ sở lí thuyết.

Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trườngđều nhằm cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học,phẩm chất đạo đức chính trị cho học sinh

Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa,việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng địnhvai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng caochất lượng dạy học Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ

sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu vàvận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Cho nên, cùng với các môn học khác,việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo Đã có quanniệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghinhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não,không có bài tập thực hành,… Đây là một trong những nguyên nhân làm suygiảm chất lượng môn học

Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học làthầy dạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệcủa học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em Hiện nay,trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi

Trang 11

nhớ và tái hiện Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài…nhưng vềcăn bản đã được hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng

về rèn luyện trí nhớ và khả năng tái hiện Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy,khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minh…của học sinhnói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quátrình dạy học hiện đại Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học

là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường cácphương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinhtrong quá trình dạy học

Mỗi một môn học hay một tiết học giáo viên có rất nhiều phương phápgiảng dạy khác nhau để truyền tải kiến thức đến cho học sinh Tuy nhiên với đềtài này người viết chỉ xin được trình bày, giới thiệu một số phương pháp - kỹ

thuật mới của mình

Dạy học nêu vấn đề là phương pháp mà trong đó giáo viên tạo ra những

“tình huống có vấn đề”, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác,tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh trithức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác

Trang 12

Có nhiều cách để tạo ra “tình huống có vấn đề”, có thể kể đến những cách

dễ thực hiện như: Dự đoán qua quan sát trực quan, thực hành hoặc hoạt độngthực tiễn (giáo viên đưa ra một số hình ảnh trực quan, đoạn clip về một sự kiện,hiện tượng sau đó đặt câu hỏi cho học sinh

Ví dụ khi dạy Lịch sử 6, bài 3: “Xã hội nguyên thủy” giáo viên cho học

sinh xem hình vượn cổ, người tối cổ, người tinh khôn, hình công cụ đá cũ, đámới, hình hang động, mái đá, cư trú “nhà cửa”, bầy người nguyên thủy và tổchức thị tộc, bộ lạc…, sau đó đề nghị học sinh dự đoán người nguyên thủy đãtrải qua mấy giai đoạn tiến hóa và sự tiến hóa của họ thể hiện trong những lĩnhvực nào? Học sinh dựa vào các hình ảnh để thảo luận với nhau rồi đưa ra cáccâu trả lời, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài để rút ra kết luận chínhxác nhất Đây là cách dạy mới, nếu chỉ đơn điệu theo lối đàm thoại, vấn đáp thìhọc sinh rất chán mà phải kết hợp với hình ảnh, tư liệu liên quan đến bài dạy sẽgiúp các em hứng thú học tập, yêu thích bộ môn hơn

Để vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy học này giáo viên cần nắmđược đặc điểm của lớp (về trình độ nhận thức, kỹ năng), từ đó xây dựng nên hệthống câu hỏi vừa sức, phù hợp Giáo viên cũng cần có sự linh hoạt, uyểnchuyển trong quá trình dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề, tránh trường hợp họcsinh lạc đề, làm mất nhiều thời gian

Trong thực tế, việc vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn đối với mônLịch sử ở trường THCS đã được một số giáo viên tiến hành làm, song hiệu quảchưa cao, quá trình thực hiện còn trùng lặp, gây mất thời gian học tập, gây tìnhtrạng nặng nề, quá tải cho học sinh Một số giáo viên lại “quên” mất việc vậndụng nguyên tắc này, khiến giờ học kém phần hấp dẫn

Với thực trạng hiện nay, tôi nhận thấy dạy học liên môn là một trongnhững nguyên tắc quan trọng của dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, nó giúpcho chúng ta nhận thức được sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống

Trang 13

nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực cuộc sống xã hội, hiểuđược tính toàn diện của lịch sử, khắc phục được tính rời rạc, tản mạn trong kiếnthức của học sinh Nắm được mối quan hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệthống của các tri thức lịch sử sẽ giúp các em có khả năng phân tích các sự kiện,tìm ra bản chất, quy luật phát triển của lịch sử.

Vì vậy, việc dạy học liên môn trong Lịch sử đòi hỏi người Giáo viênkhông chỉ có những kiến thức vững chắc về bộ môn Lịch sử mà còn phải nắmnhững nội dung, chương trình các bộ môn được giảng dạy ở trường phổ thông(có kiến thức cơ bản về môn được tích hợp) Tích hợp linh hoạt, nhẹ nhàng,đúng địa chỉ - không làm nặng nề hoặc rối tiết học Tránh biến môn Lịch sửthành môn Ngữ văn hay các môn khác

Ví dụ: Vận dụng kiến thức Văn học

Khi dạy Lịch sử 7 ở mục 2 Văn học (Phần II: Sự phát triển văn hóa của

bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần) Giáo viên giúp học sinh vậndụng các tác phẩm văn học như: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Phúsông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu, “Phò giá về kinh” của Trần QuangKhải … để làm phong phú thêm bài học Sau đó giáo viên nhấn mạnh:

Trần Quốc Tuấn viết “Hịch tướng sĩ” Đây là bản anh hùng ca sáng ngờichí khí hào hùng, chí khí anh hùng của Đại Việt trong triều đại nhà Trần Bàihịch đã vạch trần âm mưu xâm lược của giặc Mông - Nguyên, thể hiện lòng cămthù giặc sôi sục, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng xả thân trênchiến địa để bảo vệ sơn hà xã tắc

Trương Hán Siêu viết “Phú sông Bạch Đằng” thể hiện lòng yêu nước vàniềm tự hào dân tộc của tác giả trước những chiến thắng lẫy lừng của quân dânnhà Trần trên sông Bạch Đằng năm 1288, đồng thời ca ngợi truyền thống anhhùng bất khuất của dân tộc Việt Nam Thông qua việc đề cao vai trò và vị trí củacon người trong lịch sử, đề cao đạo lí chính nghĩa, tác phẩm chứa đựng tư tưởngnhân văn sâu sắc

Trang 14

Đối với bài “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải, học sinh được học ở

môn Ngữ văn 7, nên giáo viên gợi cho học sinh dựa vào kiến thức văn học đã học

để nêu lên nội dung của tác phẩm này Sau đó giáo viên nhấn mạnh: Với cách nóigiản dị, cô đúc của bài thơ có tác dụng thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọnghòa bình của dân tộc ta ở thời nhà Trần Làm nên chất thơ chính là cảm xúc tựhào, vui mừng về chiến công hiển hách của dân tộc, là hào khí của thời đại nhàTrần và niềm tin vào một nền thái bình vững chắc Những cảm xúc ấy được ẩnchứa trong cách nói chắc nịch, ngăn gọn của thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, không hoa

mĩ, cầu kì Đây cũng là vẻ đẹp độc đáo của bài thơ mà tác giả là một vị tướng

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 7 ở mục 2 Cuộc chiến đấu trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (Phần II Giai đoạn thứ hai (1076 - 1077) của bài 11: Cuộc

kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 - 1077)) Giáo viên cho học sinhđọc bài thơ “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam) của Lí Thường Kiệt HSdựa vào kiến thức Văn học để nêu nội dung và ý nghĩa bài thơ Sau đó giáo viênnhấn mạnh: Theo tương truyền để khích lệ tinh thần chiến đấu của quân ta, đồngthời làm khiếp đảm tinh thần quân Tống, đêm đêm Lý Thường Kiệt cho ngườivào đền Xà - nơi thờ Trương Hống, Trương Hát (2 vị tướng của Triệu QuangPhục) trên bờ sông Như Nguyệt ngâm bài thơ “Nam quốc sơn hà” (Sông núinước Nam) Chính bài thơ đã kích động tinh thần yêu nước thành sức mạnhchiến đấu trực tiếp diệt thù và đồng thời làm cho giặc càng nhụt ý chí chiến đấuhơn Bài thơ đã khẳng định chủ quyền về biên giới của Tổ quốc và ý chí quyếttâm đánh giặc xâm lược để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Bàithơ là lời tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc Kẻ thù nào dám xâm phạm sẽ bịđánh tơi bời Bài thơ còn được coi như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dântộc ta

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 9 mục 2 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

(Phần II: Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 và chiến dịch lịch

sử Điện Biên Phủ, của bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápxâm lược kết thúc (1953-1954) Giáo viên có thể sử dụng các tác phẩm văn học

Trang 15

“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” (Tố Hữu) và trích dẫn 2 câu thơ sau để khắc sâu

về hình ảnh chiến đấu dũng cảm, gan dạ của các chiến sĩ Điện Biên đó là:

“ Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắtMáu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”

Ví dụ: Vận dụng kiến thức Địa lí.

Hai môn Địa Lí và Lịch Sử đều có những nội dung thuộc nhóm Khoa học

xã hội nhân văn, đều nghiên cứu những vấn đề của con người, xem xét các mốiquan hệ mang tính qui luật trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, tuy rằng mỗi môn học

có mục tiêu riêng (Lịch sử chú ý đến quá trình hình thành và phát triển của xãhội, trong khi đó địa lí chú ý đến tính không gian lãnh thổ của các sự vật hiệntượng đang diễn ra hiện nay) Tuy vậy, giữa chúng có mối quan hệ tác động qualại với nhau bởi các sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một khoảngkhông gian nhất định với các điều kiện cụ thể, trong đó có các điều kiện địa lí.Lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc (kể cả phần lịch sử địa phương) đều gắn vớinhững điều kiện tự nhiên mà con người sinh sống, cho nên khi học tập lịch sử xãhội phải phân tích đến các yếu tố của môi trường tự nhiên và thông qua nội dunglịch sử để hiểu rõ hơn môi trường tự nhiên và thực hiện giáo dục môi trường

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 6 ở mục 1 Các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành ở đâu và từ bao giờ của bài 4 Các quốc gia cổ đại phương

Đông học sinh sẽ biết được vai trò của các con sông đối với sự phát triển của khuvực này Do nằm ven các con sông lớn: Trung Quốc có sông Hoàng Hà vàTrường Giang, Ai Cập có sông Nin, Ấn Độ có sông Ấn và sông Hằng…Các consông đã cung cấp phù sa, mặt khác đem lại nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng.Chính vì vậy, đất đai ở đây tơi xốp màu mỡ, tạo điều kiện cho nông nghiệp pháttriển Điều này lí giải tại sao nhà nước ra đời sớm ở các quốc gia phương Đông cổđại, mặt khác tại sao ở đây lại có nền văn minh ra đời sớm nhất trên thế giới

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 7 ởmục 1 Kháng chiến bùng nổ (Phần II Giai

đoạn thứ hai (1076-1077) của bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

Trang 16

Tống (1075 - 1077)) Để trả lời cho câu hỏi (?) Tại sao Lý Thường Kiệt lại chọn

sông Như Nguyệt làm phòng tuyến chống quân xâm lược Tống? Giáo viên gợicho học sinh dựa vào kiến thức địa lí để trình bày về vị trí địa lí và đặc điểm củasông Như Nguyệt, rồi nhấn mạnh Sông Cầu bắt nguồn từ Bắc Kạn đổ ra LụcĐầu Giang ở Phả Lại (Chí Linh - Hải Dương) Từ vùng Đông Bắc về tới ThăngLong tất cả các đường bộ đều phải vượt qua sông Cầu Đường thủy từ BạchĐằng về Thiên Đức, Thăng Long cũng phải qua đây, trong đó vùng thượng lưucon sông này rất hiểm trở Khúc sông từ Thái Nguyên đến Đa Phúc có thể qualại được nhưng khi sang sông lại gặp phải dãy núi Tam Đảo khó vượt qua Nhưvậy chỉ còn khúc sông từ Đa Phúc đến Phả Lại dài khoảng 100km, nhất là đoạn

từ ngã ba Xà (nơi sông Cà Lồ gặp Sông Cầu) trở xuống (tức sông Như Nguyệt)

là có thể qua lại dễ dàng vì có bến đò, có đường bộ về Thăng Long Vì vậy LýThường Kiệt chọn đây là nơi xây dựng phòng tuyến

Ví dụ: Vận dụng kiến thức Giáo dục công dân.

Với yêu cầu đặc trưng là giúp học sinh hiểu rõ từng thời kì phát triển của

xã hội để có những nhận thức thức lịch sử đúng đắn, bộ môn Lịch sử có thể tíchhợp nhiều nội dung, chủ đề giáo dục của môn Giáo dục công dân Cụ thể nhưnội dung về đức tính (Sống giản dị; đoàn kết, tương trợ; siêng năng, kiên trì; chícông vô tư Từ đó lồng ghép giáo dục thông qua gương sáng của Bác Hồ, cácnhân vật lịch sử) Nội dung về lòng biết ơn với những người có công với nước,noi gương các anh hùng tuổi thanh niên sẵn sàng xã thân vì nước Nội dung kếthừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Bảo vệ di sản văn hóa, di tíchlịch sử, nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc Qua đó học sinh hiểu được bổn phận và tráchnhiệm cụ thể của công dân hiện nay Nội dung về tôn trọng và học hỏi các dântộc khác, Bảo vệ hòa bình, Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới, Hợp táccùng phát triển Qua đó học sinh hiểu được truyền thống yêu chuộng hòa bìnhcủa dân tộc và chủ trương hội nhập, hợp tác quốc tế của Đảng hiện nay

Ví dụ: Khi dạy Lịch sử 7 ở mục 1 Đời sống văn hóa (Phần II: Sự phát

triển văn hóa của bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần) Khi nói về

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w