Khái niệm: Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằn
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Việc đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm cần thiết, phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, phù hợp với nội dung giáo dục từng cấp, lớp được xem như một điều kiện có tính tiên quyết, nhằm quán triệt quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học"
Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ, Sở GD&ĐT nhận thức được rằng, việc việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng đi tích cực nhất, hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt là cần phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với
sự đổi mới trong hình thức kiểm tra đánh giá môn học, hình thức thi mới của bộ giáo dục
Bắt đầu từ năm học 2016 – 2017, Bộ giáo dục đào tạo công bố kỳ thi trung học phổ thông quốc gia thi 4 môn là toán học, văn học, tiếng anh và tổ hợp khoa học tự nhiên hoặc khoa học xã hội Hình thức thi ngoài môn Ngữ văn được thi ở hình thức tự luận, còn tất cả các môn khác thi theo hình thức trắc nghiệm Theo Công văn số 4818/BGDĐT –
KTKĐCLGD về việc tổ chức Kỳ thi THPT Quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2017 ngày 28 tháng 9 năm 2016 Môn Giáo dục công dân có trong bài thi tổ hợp Khoa học xã hội Hình thức thi là học sinh phải làm bài thi trắc nghiệm khách quan phần môn giáo dục công dân với 40 câu ( thứ tự câu hỏi từ câu 81 đến câu 120), thời gian làm bài là 50 phút Từ đó đến nay, Bộ vẫn duy trì hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong kỳ thi THPT Quốc gia Từ thực tế đó đòi hỏi các trường trung học phổ thông phải đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá để học sinh làm quen dần với hình thức thi mới, từng bước thành thạo các kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm khách quan
Từ đó, các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ cũng sử dụng phương pháp này
2 Tên sáng kiến:
Sử dụng phương pháp vấn đáp nhằm nâng cao kết quả học tập, thi trung học phổ thông Quốc gia môn giáo dục công dân
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Bùi Quang Đạo
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Liễn Sơn – TT Hoa Sơn – Huyện Lập Thạch – Tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0987780129 Email: buiquangdao.gvlienson@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Trang 2- Sáng kiến được áp dụng trong giảng dạy và ôn thi trung học phổ thông quốc gia môn giáo dục công dân chủ yếu là học sinh lớp 12 thi tổ hợp khoa học xã hội.
- Sáng kiến tập trung nghiên cứu, ứng dụng phương pháp dạy học nhằm nâng cao kết quả học tập, thi trung học phổ thông quốc gia môn giáo dục công dân
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Đã áp dụng có kết quả trong năm học 2018 - 2019 và đang áp dụng tiếp ở năm học
2019 – 2020
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1 Một số vấn đề lí luận về phương pháp vấn đáp (đàm thoại):
a Khái niệm:
Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức
b Bản chất
Phương pháp dạy học gợi mở - vấn đáp là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được giáo viên đặt ra Qua việc trả lời hệ thống câu hỏi dẫn dắt của giáo viên, học sinh thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình, từ đó khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập
Đây là phương pháp dạy học mà giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của học sinh, người ta phân biệt các loại: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi
c Phân loại:
Tuỳ theo cơ sở để phân loại, người ta chia phương pháp vấn đáp thành các loại sau:
* Dựa vào mục đích dạy học mà phân ra vấn đáp gợi mở, vấn đáp củng cố, vấn đáp tổng kết, vấn đáp kiểm tra
- Vấn đáp gợi mở là phương pháp giáo viên khéo léo đặt câu hỏi hoặc một chuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh giải quyết một câu hỏi cơ bản, từ đó rút ra kết luận, nhờ vậy mà
họ lĩnh hội tri thức mới
- Vấn đáp củng cố là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ mở rộng, đào sâu những tri thức đã thu lượm được
Trang 3- Vấn đáp tổng kết là phương pháp vấn đáp nhằm giúp học sinh khái quát, hệ thống hoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định.
- Vấn đáp kiểm tra là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức đã học, đã được củng cố, khái quát, hệ thống hoá Qua câu trả lời của học sinh mà giáo viên có thể đánhgiá và họ tự kiểm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh hội một cách kịp thời, nhanh gọn
* Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh mà phân ra vấn đáp giải thích, minh hoạ, vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi – phát hiện
- Vấn đáp giải thích, minh hoạ là phương pháp mà giáo viên dặt ra những câu hỏi đòi hỏi học sinh giải thích và nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho sự giải thích của mình Trong câu trả lời của học sinh không chỉ đòi hỏi nhớ lại nội dung tri thức mà phải có
sự cấu trúc lại tri thức để có sự suy luận cần thiết Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi:
+ Học sinh đã có những thông tin cơ bản giáo viên muốn học sinh sử dụng các thông tin ấy trong những tìn huống mới, phức tạp hơn
+ Học sinh đang tham gia giải quyết vấn đề đặt ra
+ Học sinh đang được cuốn hút vào cuộc thảo luận sôi nổi và sáng tạo
Vấn đáp tái hiện là phương pháp giáo viên đặt ra những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ lại những tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập tronghoàn cảnh đã biết Loại câu hỏi vấn đáp tái hiện thường được sử dụng khi:
+ Học sinh chuẩn bị học bài
+ Học sinh đang thực hành, luyện tập
+ Học sinh đang ôn tập những tài liệu đã học
- Vấn đáp tìm tòi:
Vấn đáp tìm tòi còn được gọi là vấn đáp phát hiện hay đàm thoại ơrixtic: Là loại vấnđáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận - giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, thông qua đó, học sinh nắm được tri thức mới Hệ thống câu hỏi được sắp đặt hợp lý nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết một số vấn đề xác định, buộc học sinh phải liên tục cố gắng, tìm tòi lời giải đáp Trật tự logic của các câu hỏi kích thích tính tích cực tìmtòi, sự ham muốn hiểu biết Giáo viên đóng vai trò người tổ chức sự tìm tòi còn học sinh thì
tự lực phát hiện kiến thức mới, vì vậy kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá Cuối giai đoạn đàm thoại, giáo viên khéo léo vận dụng các ý kiến của học sinh để kết luận vấn đề đặt ra, có bổ sung, chỉnh lí khi cần thiết
d Quy trình thực hiện phương pháp vấn đáp
* Trước giờ học:
Trước giờ học giáo viên có thể thực hiện phương pháp vấn đáp thông qua các bướcsau:
Trang 4- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học Xác định các đơn vị kiến thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh.
- Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi (đặt câu hỏi ở chỗ nào?), trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước phải làm nền cho các câu hỏi tiếp sauhoặc định hướng suy nghĩ để học sinh giải quyết vấn đề) Dự kiến nội dung các câu trả lời của học sinh, trong đó dự kiến những "lỗ hổng" về mặt kiến thức cũng như những khó khăn, sai lầm phổ biến mà học sinh thường mắc phải Dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của giáo viên đối với học sinh
- Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp tục gợi ý, dẫn dắt học sinh
* Trong giờ học:
Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độ nhận thức của từngloại đối tượng học sinh) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh
* Sau giờ học:
Giáo viên chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy
đ Ưu điểm và hạn chế của phương pháp vấn đáp:
* Ưu điểm của phương pháp vấn đáp:
Nếu vận dụng khéo léo phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng quan trọng sau:
- Vấn đáp là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ đúng đắn Bằng cách này học sinh hiểu nội dung học tập hơn là học vẹt, thuộc lòng
- Gợi mở vấn đáp giúp lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho không khí lớphọc sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của học sinh, rèn luyện chohọc sinh năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn đạt của người khác
- Tạo môi trường để học sinh giúp đỡ nhau trong học tập Học sinh yếu kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình hoàn thành các nhiệm
vụ được giao
- Giúp giáo viên thu nhận tức thời nhiều thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì
sự chú ý của học sinh; giúp kiểm soát hành vi của học sinh và quản lí lớp học
Ở đây, giáo viên giống như người tổ chức tìm tòi còn học sinh thì giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, sau khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá, vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức đi tới kiến thức
đó, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy Cuối cuộc đàm thoại, giáo viên cần biết vận dụng các ý kiến của học sinh để kết luận vấn đề đặt ra, có bổ sung và chỉnh lý khi cần thiết Làm được như vậy, học sinh càng hứng thú, tự tin vì thấy trong kết luận của giáo viên
có phần đóng góp ý kiến của mình
Trang 5Dẵn dắt theo phương pháp vấn đáp tìm tòi như trên rõ ràng mất nhiều thời gian hơn phương pháp thuyết trình giảng giải, nhưng kiến thức học sinh lĩnh hội được sẽ chắc chắn hơn nhiều.
* Hạn chế của phương pháp vấn đáp:
- Hạn chế lớn nhất của phương pháp vấn đáp là rất khó soạn thảo và sử dụng hệ thốngcâu hỏi gợi mở và vấn đáp cho học sinh theo một chủ đề nhất quán Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không, kiến thức mà học sinh thu nhận được qua trao đổi sẽ thiếu tính hệ thống, tản mạn
- Nếu giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà học sinh dễ dàng trả lời có hoặc không Hiện nay nhiều giáo viên thường gặp khó khăn khi xây dựng hệ thống câu hỏi do không nắm chắc trình độ của học sinh Vì vậy, ngay sau khi đặt câu hỏi thường là nêu ngay gợi ý câu trả lời khiến học sinh rơi vào trạng thái bị động, không thực sự làm việc, chỉ ỷ lại vào gợi ý của giáo viên
- Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờ trong câutrả lời, thậm chí câu hỏi từ phía người học, vì vậy giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán)
- Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời của học sinh
sẽ không giống nhau)
- Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp vấn đáp:
Để phát huy mặt mạnh và hạn chế mặt yếu của phương pháp vấn đáp thì cần phải đảm bảo những yêu cầu khi đề ra câu hỏi và việc vận dụng phương pháp đó Sở dĩ như vậy
là vì trong phương pháp vấn đáp, câu hỏi có ý nghĩa hết sức quan trọng Không biện pháp nào linh hoạt, uyển chuyển, dễ điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh bằng cách đề ra câu hỏi
- Phân loại câu hỏi: Tuỳ theo cơ sở phân loại mà có những loại câu hỏi sau:
+ Dựa theo nội dung, sự diễn đạt ngôn ngữ, sự nhấn giọng, người ta phân ra câu hỏi đơn giản, câu hỏi phức tạp
+ Dựa theo mục đích dạy học có thể phân ra câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi mở, câu hỏi nhắc nhở
+ Dựa theo chức năng có thể phân ra câu hỏi phân tích – tổng hợp, câu hỏi so sánh, đối chiếu, câu hỏi hệ thống hoá tri thức, câu hỏi đòi hỏi cụ thể hoá tri thức
+ Dựa theo mức độ tính chất hoạt dộng nhận thức của học sinh có thể phân ra câu hỏi đòi hỏi giải thích, minh hoạ, câu hỏi tái hiện, câu hỏi có tính vấn đề
Câu hỏi tái hiện là câu hỏi mà câu trả lời chỉ cần nhớ lại những tri thức đã được lĩnh hội trước đây
Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi tạo cho học sinh gặp phải một tình huống có vấn đề,nghĩa là gây nên trạng thái tâm lý giữa điều đã biết và điều chưa biết, nhưng muốn biết Câu trả lời trong câu hỏi có tính vấn đề chưa có trong câu trả lời trước đó của học sinh, mà đòi
Trang 6hỏi phải cần có tri thức mới Để có tri thức đó, cần phải có hành động trí tuệ, có một quá trình tư duy có chủ đích nhất định.
Câu hỏi có tính vấn đề trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề thường gọi là vấn đề.Vậy với những điều kiện nào thì câu hỏi trở thành có tính vấn đề?
Đó là những điều kiện sau:
● Câu hỏi phải có mối liên hệ lôgic với những khái niệm đã lĩnh hội trước đây và những tri thức phải ở trong tình huống nhất định
● Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức; câu hỏi phải gây lên sự ngạc nhiên, điều nghịch lý khi đối chiếu điều đã biết từ trước với điều đang học và cảm thấy không thoả mãn với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trước đây và xuất hiện nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới
để giải quyết câu hỏi đang đặt ra
+ Nghệ thuật đặt câu hỏi: Việc sử dụng phương pháp vấn đáp phụ thuộc vào nghệ thuật đặt câu hỏi của giáo viên Biết đặt câu hỏi và tăng dần tính phức tạp, tính khó khăn củacâu trả lời là một ttrong những thói quen sư phạm quan trọng và cần thiết nhất
Nghệ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
● Trong tình huống học tập nhất định giáo viên phải đặt câu hỏi như thế nào đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá tài liệu đã lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức
đã học
● Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện tài liệu đã lĩnh hội mà phải vận dụng những tri thức đã nắm trước đây để giải quyết vấn đề mới Lẽ tất nhiên có những trường hợp câu hỏi đòi hỏi tái hiện trực tiếp tài liệu không chỉ đúng lúc mà là cần thiết
● Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt bản chất của những sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng cho họ
● Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi học sinh xem xét những sự kiện, hiện tượngtrong mối liên hệ với nhau, nhìn nhận hiện tượng, sự vật không chỉ theo những thành tố, theotừng bộ phận mà còn theo tính chỉnh thể toàn vẹn của chúng
● Câu hỏi đặt ra phải theo những quy tắc logic
● Việc biểu đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân, trinh
độ hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh Khối lượng những khái niệm trong những câu hỏi của giáo viên không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời đúng của học sinh
● Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất, không thể có hai câu trả lời đều đúng, về hình thức phải gọn gàng, sáng sủa
+ Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp vấn đáp:
● Cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời Khi một học sinh trả lời xong, cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung, sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinh thần phê phán Qua đó mà kích thích hoạt động chung của cả lớp
Trang 7● Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe Nếu cần thiết đặt thêm câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính.
● Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của họ khi không thật cần thiết Chú ý uốn nắn, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp họ hệ thống hoá lại những tri thức đã thu được trong quá trình vấn đáp
● Không chỉ chú ý kết quả câu trả lời của học sinh mà cả cách diễn đạt câu trả lời của
họ một cách chính xác, rõ ràng, hợp logic Đó là điều kiện quan trọng để phát triển tư duy logic của họ
● Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp nhằm thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc
và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống có vấn đề và thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó Qua đó có thể góp phần lấp lỗ hổng, chữa những sai lầm hoặc hiểu chưa chính xác những nội dung học tập của học sinh
e Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp vấn đáp
Khi soạn các câu hỏi, giáo viên cần lưu ý các yêu cầu sau đây:
- Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau
- Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng học sinh, nghĩa là phải có nhiều câu hỏi ở các mức độ khác nhau, không quá dễ và cũng không quá khó Giáo viên có kinh nghiệm thường tỏ ra cho học sinh thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng và độ khó như nhau (để học sinh yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức mà không có cảm giác tự tin rằng mình chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ và không quan trọng)
- Cùng một nội dung học tập, cùng một mục đích như nhau, giáo viên có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau
- Bên cạnh những câu hỏi chính, cần chuẩn bị những câu hỏi phụ (trên cơ sở dự kiến các câu trả lời của học sinh, trong đó có thể có những câu trả lời sai) để tùy tình hình thực tế
7.1.2 Các bước thực hiện giải pháp
a Sử dụng phương pháp vấn đáp vào kiểm tra bài cũ.
Để phù hợp với hình thức thi trắc nghiệm, nhằm đạt kết quả cao khi thi trung học phổ thông quốc gia, khi tiến hành kiểm tra bài cũ của học sinh thay vì kiểm tra câu hỏi để các em trình bày từng mục một của các đơn vị kiến thức, theo dạng tập trung tôi tập trung
Trang 8vào các câu hỏi nhỏ, kiểm tra kiến thức ở tất cả các phần Với cách làm này, trong khoảng thời gian ngắn tôi có thể kiểm tra được kiến thức của các em nhiều hơn theo diện rộng hơn.
Ví dụ: trước đây để đáp ứng cho thi theo hình thức tự luận là chủ yếu, khi kiểm tra bài
cũ tôi thường đặt các câu hỏi kiểm tra như:
- Trình bày các đặc trưng của pháp luật?
Với dạng câu hỏi này đáp án trả lời như sau
Pháp luật bao gồm các đặc trưng sau:
- Tính qui phạm phổ biến vì:
+ Pháp luật có tính quy phạm phổ biến vì pháp luật là những qui tắc xử sự chung, áp dụng với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Đặc trưng này dùng để phân biệt pháp luật khác các qui phạm xã hội khác
+ Đặc trưng này tạo nên giá trị công bằng và bình đẳng của pháp luật
- Tính quyền lực, bắt buộc chung:
+ Pháp luật do nhà nước ban hành, bảo đảm thực hiện, bắt buộc mọi tổ chức, cá nhân,bất kì ai cũng phải thực hiện, bất kì ai vi phạm cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật
+ Đặc trưng này dùng để phân biệt pháp luật khác các qui phạm đạo đức
- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức vì:
+ Hình thức thể hiện của pháp luật là các văn bản qui phạm pháp luật
+ Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước được quy định trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản QPPL
+ Các văn bản quy phạm pháp luật nằm trong một hệ thống thống nhất: Văn bản do
cơ quan cấp dưới ban hành không được trái với văn bản của cơ quan cấp trên; nội dung của tất cả các văn bản đều phải phù hợp, không được trái Hiến pháp vì Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước
+ Đặc trưng này tạo nên tính thống nhất của pháp luật
- Nêu khái niệm và các dấu hiệu của vi phạm pháp luật?
Với câu hỏi này đáp án trả lời như sau:
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu sau:
Thứ nhất, là hành vi trái pháp luật :
+ Hành vi trái pháp luật có thể là hành động hoặc không hành động:
+ Hành vi đó có thể là hành động: cá nhân, tổ chức làm những việc không được làm theo quy định của pháp luật
+ Hành vi trái pháp luật có thể là không hành động: cá nhân, tổ chức không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật
Trang 9+ Hành vi trái pháp luật đó xâm phạm, gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Thứ hai, do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện
+ Năng lực trách nhiệm pháp lí của một người phụ thuộc vào độ tuổi và tình trạng sứckhỏe – tâm lý Người có năng lực trách nhiệm pháp lý phải là:
+ Người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật Ví dụ: Theo quy định của pháp luật, người đủ từ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm pháp lí hành chính và hình sự
+ Người có thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình, tự quyết định cách xử
sự của mình (không bị bệnh về tâm lí làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức về hành vi của mình)
Thứ ba, người vi phạm pháp luật phải có lỗi
Lỗi được hiểu là trạng thái tâm lí phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành
vi trái pháp luật của mình đối với hậu quả của hành vi đó
Lỗi được thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý
Khái niệm vi phạm pháp luật:
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật , có lỗi do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
- Nêu khái niệm của các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí?
Với câu hỏi này đáp án trả lời như sau:
Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí:
Căn cứ vào tính chất, đối tượng bị xâm hại và mức độ nguy hiểm của hành vi, người
ta chia vi phạm pháp luật thành 4 loại:
Trang 10thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); trục xuất.
+ Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cốý
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra
- Vi phạm dân sự:
+ Khái niệm: vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật , xâm phạm tới các quan
hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng…) và quan hệ nhân thân (liên quan đến các quyền nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác
+ Người có hành vi vi phạm dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia các giao dịch dân sự phải đượcngười đại diện theo pháp luật
Hiện nay, khi tiến hành kiểm tra bài cũ tôi thường đặt các câu hỏi như:
Với nội dung câu hỏi “các đặc trưng của pháp luật?” tôi có thể hỏi nhỏ thành các câu hỏi sau:
- Tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện như thế nào?
Đáp án: Pháp luật có tính quy phạm phổ biến vì pháp luật là những qui tắc xử sự chung, áp dụng với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
- Đặc trưng nào của pháp luật dùng để phân biệt pháp luật khác với các quy phạm xã hội khác?
Đáp án: tính quy phạm phổ biến
- Đặc trưng nào tạo nên giá trị công bằng và bình đẳng của pháp luật?
Đáp án: tính quy phạm phổ biến
- Đặc trưng nào để phân biệt pháp luật khác với các quy phạm đạo đức?
Đáp án: tính quyền lực bắt buộc chung
- Vì sao pháp luật có tính quyền lực bắt buộc chung?
Đáp án: vì pháp luật do nhà nước ban hành, có tính chất bắt buộc đối với tất cả mọi cánhân, tổ chức, ai cũng phải xử sự theo pháp luật
- Vì sao pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức?
Trang 11Đáp án: hình thức của các văn bản luật đều được quy định chặt chẽ trong hiến pháp
và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Đặc trưng nào tạo nên tính thống nhất của các văn bản luật?
Đáp án: tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
- Đặc trưng nào yêu cầu ngôn ngữ trong các văn bản luật phải chính xác, rõ nghĩa, bất
kì ai đọc cũng hiểu được?
Đáp án: tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
- Văn bản pháp luật nào có giá trị pháp lí cao nhất?
Đáp án: hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất
- Cơ quan nào có quyền ban hành các văn bản pháp luật?
Đáp án: quốc hội là cơ quan có quyền ban hành pháp luật
- Việc pháp luật quy định văn bản pháp luật do cơ quan cấp dưới ban hành không được trái với văn bản pháp luật do cơ quan cấp trên ban hành nhằm đảm bảo đặc trưng nào của pháp luật?
- Vi phạm pháp luật gồm các dấu hiệu nào?
Đáp án: vi phạm pháp luật có 3 dấu hiệu
+ Hành vi trái pháp luật ( hành vi hành động và không hành động)
+ Do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện ( là người đạt độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng nhận thức và điều chỉnh được hành vi của mình)
+ Hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi ( lỗi bao gồm 2 loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý)
- Thế nào là hành vi vi phạm pháp luật hành động? Thế nào là hành vi vi phạm pháp luật không hành động?
Trang 12- Người được coi là có năng lực trách nhiệm pháp lí là người cần có các điều kiện?Đáp án: người có năng lực trách nhiệm pháp lí là:
+ Người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật Ví dụ: Theo quy định của pháp luật, người đủ từ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm pháp lí hành chính và hình sự
+ Người có thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình, tự quyết định cách xử
sự của mình (không bị bệnh về tâm lí làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức về hành vi của mình)
- Lỗi bao gồm mấy loại? Thế nào là lỗi cố ý? Thế nào là lỗi vô ý?
Đáp án:
+ Lỗi được thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý
+ Lỗi cố ý: thể hiện thái độ của người biết hành vi của mình là sai, trái pháp luật có thể gây ra hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý hoặc vô tình để mặc cho sự việc xảy ra
+ Lỗi vô ý:
Do nhận thức: Không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật
Do chủ quan: do quá tự tin vào bản thân nên tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
Do cẩu thả: Người vi phạm không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
- Người mắc bệnh tâm thần khi vi phạm pháp luật có bị xử lý hay không? Vì sao?Đáp án: Người mắc bệnh tâm thần khi vi phạm pháp luật không bị xử lý vì người mắcbệnh tâm thần không có khả năng nhận thức và điều chỉnh được hành vi của mình
Với nội dung câu hỏi “Nêu khái niệm của các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí?” tôi có thể hỏi nhỏ thành các câu hỏi sau:
- Căn cứ vào đâu mà người ta chia vi phạm pháp luật thành 4 loại?
Đáp án: Căn cứ vào đối tượng bị xâm hại, tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi
Đáp án: vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho
xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước Nhau giữa vi phạm pháp luật hình
- Vi phạm dân sự là gì?