1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở trường THPT sáng sơn

62 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 364,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Về tài liệu nước ngoài: Thông qua các tài liệu đã được dịch, chúng tôi thấy vấn đề xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản đã được nghiên cứu, nhấn mạnh ở từnggóc độ khác nhau, tiêu bi

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở trường phổthông là biện pháp quan trọng hàng đầu Bởi vì, chỉ khi xác định và giảng dạy tốtkiến thức cơ bản mới giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức - đồngthời bài học sẽ không khô khan, buồn tẻ, hay quá nặng nề, kích thích hứng thú họctập cho các em Kiến thức lịch sử rất nhiều, bao gồm nhiều thời kì, nước khác nhau,

Trang 3

ở mỗi nước lại có biết bao nhiêu sự kiện lớn, nhỏ, phức tạp Ở mỗi xã hội lại cóbiết bao nhiêu quan hệ chằng chéo Vì vậy giáo viên không thể dạy cho học sinhhọc hết tất cả, mà phải học cái gì thật cơ bản Kiến thức cơ bản không có nghĩa là

sự cắt xén, mà cần là sự lựa chọn, truyền thụ thích hợp, có nguyên tắc, có phươngpháp

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản, từthực tiễn dạy học hiện nay ở Trường THPT, tôi nhận thấy đây là một việc làm hếtsức cần thiết

1.2 Thực trạng của đề tài

1.2.1 Sơ lược lịch sử của đề tài Các luận điểm, các kết quả trước đó

Xác định và truyền thụ kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông làmột vấn đề quan trọng, đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâmnghiên cứu

* Về tài liệu nước ngoài: Thông qua các tài liệu đã được dịch, chúng tôi thấy vấn

đề xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản đã được nghiên cứu, nhấn mạnh ở từnggóc độ khác nhau, tiêu biểu trong một số công trình nghiên cứu sau:

Tiến sỹ Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nhấnmạnh: “Cần phải xác định kiến thức cơ bản trong dạy học qua việc sử dụng hợp lý

sơ đồ mối quan hệ giữa sách giáo khoa và nội dung bài giảng” Cũng trong tácphẩm này, tiến sỹ đã trình bày một số biện pháp, phương pháp dạy học “Cần phốihợp các biện pháp, phương pháp dạy một cách nhuần nhuyễn, thích hợp để truyềnthụ kiến thức cho học sinh” Như vậy, tiến sỹ Đairi đã dề cập đến tầm quan trọngcũng như một số yêu cầu, biện pháp để xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản chohọc sinh trong dạy học lịch sử

M.A.Đainilôp trong cuốn “lý luận dạy học ở trường phổ thông, một số vấn đề

lý luận dạy học hiện đại”, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạyhọc nói chung, dạy học lịch sử nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy học Từ đó

Trang 4

tác giả đã khẳng định: “Chỉ có trên cơ sở đổi mới phương pháp giảng dạy mới giúpcho học sinh nâng cao trình độ nhận thức nắm chắc hiểu sâu kiến thức cơ bản”

* Về tài liệu trong nước: Đến nay, đã có một số sách tài liệu nghiên cứu về các

khía cạnh khác nhau của việc xách định và truyền thụ kiến thức cơ bản Trong dạyhọc lịch sử cụ thể, trong giáo trình: “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản năm

1976, 1992 – 1999, 2002, đã đề cập đến những vấn đề có tính chất lý luận về kiếnthức cơ bản như: thế nào là kiến thức cơ bản, cách xác định kiến thức cơ bản, đồngthời đưa ra một số biện pháp, phương pháp dạy học sinh nhận thức tốt vấn đề lịch

sử, nắm chắc nội dung cơ bản

Cuốn: “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên– Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Thị Côi – Trần Vĩnh Tường (Đồng chủ biên), trongbài viết: “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử một yếu tố trực tiếp”, GS TS PhanNgọc Liên đã nói đến việc xác định nội dung kiến thức cơ bản cần cung cấp chohọc sinh Tác giả đã đặt ra một loạt câu hỏi: Kiến thức nào là kiến thức cơ bản củabài? Vì sao đó là kiến thức cơ bản? Những biện pháp sư phạm cần thiết để chuyềnthụ kiến thức cơ bản? Đó là những câu hỏi luôn luôn phải được đặt ra, luôn được sửdụng trong dạy học lịch sử

Ngoài ra, vấn đề còn được đề cập đến trong những tài liệu như: Các tài liệubồi dưỡng thường xuyên cho các giáo viên THCS năm 1993, PTS Nguyễn Thị Côi

đã đề xuất và trình bày khá cụ thể về vấn đề xác định kiến thức cơ bản; Tầm quantrọng của việc xác định, truyền thụ kiến thức cơ bản – một trong những biện pháphữu hiệu và cần thiết trong quá trình dạy học, nhằm giúp đỡ học sinh nắm chắc,hiểu sâu kiến thức cơ bản đồng thời phát triển toàn diện học sinh, đã được tác giảđặc biệt nhấn mạnh; Trong tài liệu hội thảo khoa học về: “Đổi mới dạy học, họclịch sử lấy học sinh làm trung tâm”, ĐHQG Hà Nội – Trường ĐHSP, 1996, đã tậphợp nhiều bài viết, công trình nghiên cứu có tâm huyết với việc đổi mới phươngpháp dạy học Trong đó, có nhiều bài có đề cập về vấn đề xác định và truyền thụkiến thức cơ bản ở các phương diện khác nhau Trong bài: “Phát huy tích cực và

Trang 5

chủ động, sáng tạo của học sinh qua giờ học lịch sử ở trường phổ thông”, củaNguyễn Tuyết Nhung (PTTH Trương Định – HN ), tác giả đã viết: “Qua nội dungcủa bài, cần xác định những kiến thức cơ bản, những ý chính, những vấn đề quantrọng nhất”.

Từ đó, dự kiến các phương pháp và biện pháp giảng dạy trên lớp để phù hợpvới loại đối tượng học sinh Hay trong bài: “Góp phần đổi mới phương pháp dạy sử

ở trường PTTH” của Phan Đình Bưởi (Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh) đã nêu lênmột trong những thao tác hàng đầu để dạy sử là: “Lựa chọn được sự kiện cơ bản,điển hình” và “ trọng tâm bài giảng là phần kiến thức cơ bản nhất trong giờ sử, giáoviên bằng tài nghệ của mình, mô tả tường thuật, phân tích giảng giải cho học sinhhiểu rộng, hiểu sâu kiến thức đó để hiểu cả bài và làm cơ sở cho bài sau”

Trong các tạp chí nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu giáo dục, nhiều nhà nghiêncứu đã đề cập đến vấn đề này như: Nguyên Thị Côi: “Mấy ý kiến về đổi mới biênsoạn và giảng dạy lịch sử Việt Nam” TCNCGD số 3 – 1993; Phan Ngọc Liên:

“Đổi mới phương pháp giảng dạy lịch sử”, NCLS số 12 – 1998; Trần Đá Đệ: “Một

số vấn đề nội dung và phương pháp dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12” (cải cáchgiáo dục trường ĐHSPHN)

Mỗi tác phẩm nghiên cứu đều khai thác một vấn đề cụ thể hoặc từng khía cạnhkhác nhau của vấn đề, song đều nêu lên ý kiến làm thế nào để giúp học sinh nắmvững, hiểu sâu kiến thức cơ bản, nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử

Như vậy, chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề xác định và truyền thụ kiếnthức cơ bản trong dạy học lịch sử cho học sinh đã được quan tâm, nghiên cứu vàthu được một số kết quả Nhưng nhìn chung, mỗi công trình chỉ đề cập và giảiquyết một hoặc một số khía cạnh khác nhau của vấn đề, đặc biệt, chưa có côngtrình nghiên cứu nào giải quyết sâu sắc các nguyên tắc xác định và truyền thụ kiếnthức cơ bản trong môn lịch sử ở trường THPT nói chung, cũng như cho từng khóatrình, từng chương, từng bài cụ thể Do đó, vấn đề này vẫn luôn đặt ra với các nhànghiên cứu, đặc biệt với giáo viên dạy lịch sử nói chung, giáo viên dạy lịch sử ở

Trang 6

THPT nói riêng, để góp phần hoàn thành nhiệm vụ của bộ môn lịch sử là cung cấpcho các em hệ thống tri thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, qua đó giáo dục tưtưởng, tình cảm đạo đức tốt đẹp và phát triển toàn diện học sinh Đó cũng chính lànhững vấn đề chúng tôi giải quyết trong đề tài này.

1.2.2 Tình hình dạy học bộ môn Lịch sử ở Trường THPT hiện nay

Trong những năm gần đây, nhờ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước,

ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục, trong ngành giáo dục đã đẩy mạnh việc đổi mớiphương pháp, nội dung nhằm nâng cao chất lượng dạy học Cho đến nay, cuộc cáchmạng giáo dục đã đem lại những kết quả nhất định, biểu hiện của chất lượng dạyhọc nói chung, chất lượng dạy học lịch sử nói riêng đã có nhiều tiến bộ hơn trước.Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì kết quả thu được vẫn còn khiêm tốn so vớiyêu cầu đặt ra Hơn nữa, những tiến bộ mới chỉ được đẩy mạnh ở những trườngtrung tâm tỉnh, huyện, còn ở nông thôn hay vùng sâu, vùng xa thì chất lượng dạyhọc nói chung, chất lượng dạy học lịch sử nói riêng vẫn còn thấp

Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến, trao đổi trực tiếpvới đồng nghiệp, cùng với thực tiễn giảng dạy, nổi lên một số vấn đề trong dạy họclịch sử đó là:

Về phía giáo viên: Đa số các thầy cô đã nhận thấy tầm quan trọng của việc xácđịnh và truyền thụ kiến thức cơ bản, song việc áp dụng chưa thường xuyên, hiệuquả Một số hạn chế có thể thấy là: việc vận dụng các phương pháp truyền thụ kiếnthức còn yếu; ngôn ngữ của giáo viên dàn đều, không nhấn mạnh, làm bài học tẻnhạt, kém hiệu quả; việc coi nhẹ hình thành khái niệm, khắc sâu bài học và qui luậtlịch sử là hiện tượng khá phổ biến; giáo viên chưa chú trọng đến việc tổng kết, ôntập để củng cố kiến thức cơ bản, hướng dẫn phương pháp học tập nghiên cứu chohọc sinh

Về phía học sinh: Hiện nay, giới trẻ đang có hiện tượng “mù” lịch sử dân tộc,nhưng lại rất giỏi lịch sử các nước khác (ví dụ như lịch sử Trung Quốc), hiện tượngnày ngày một gia tăng khi phim ảnh dã sử Trung Quốc ngày càng được trình chiếu

Trang 7

nhiều, rất hấp dẫn Thực tế này rất đáng để cho chúng ta, nhất là những giáo viênlịch sử phải suy nghĩ Một thực tế nữa hiện tượng học sinh học lệch, phần lớn chorằng lịch sử chỉ là môn phụ chỉ cần học thuộc lòng,…

Từ thực tiễn trên đây, tôi thấy rằng việc xác định và truyền thụ kiến thức cơbản cho học sinh trong dạy học lịch sử là rất cần thiết, và nó có vai trò to lớn, quyếtđịnh sự hoàn thành mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, tôi sẽ tập trung vào nghiên cứu, tìmhiểu các biện pháp xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh ở TrườngTHPT Sáng Sơn; đồng thời, bước đầu vận dụng các biện pháp đó vào bài lịch sử cụthể

2 Tên sáng kiến: Xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học Lịch sử ở

Trường THPT Sáng Sơn

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Phạm Thị Tuyết Nhung

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Sáng Sơn – Xã Đồng Thịnh – HuyệnSông Lô – Tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0974 425 689

- Email: phamthituyetnhung.gvsonglo@vinhphuc.edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Tuyết Nhung

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

- Lĩnh vực: Giáo dục và Đào tạo

- Vấn đề sáng kiến giải quyết: Trên cơ sở tìm hiểu lí luận về phương pháp dạy họcmôn lịch sử nói chung, việc xác định và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy họclịch sử nói riêng, sáng kiến này sẽ đi sâu tìm hiểu các nguyên tắc để xác định vàcác biện pháp để truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở trường THPTSáng Sơn

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 10 - 11 -2018.

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

Trang 8

PHẦN I NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Vai trò, ý nghĩa của bộ môn Lịch sử

Sử học là một bộ phận không thể thay thế của khoa học xã hội Môn lịch sửtrong nhà trường có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng góp phần phát triển toàn diện vềtrí tuệ, nhân cách cho học sinh Đặc biệt, xuất phát từ đặc trưng riêng của mìnhmôn lịch sử có vai trò rất lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ: Từ những hiểu biết vềquá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với những thành tựu dựngnước và giữ nước của tổ tiên để xác định nhiệm vụ hiện tại, có thái độ đúng đắn với

sự phát triển hợp quy luật của tương lai

Về vai trò của lịch sử, các nhà sử học cổ đại Hy Lạp đã khẳng định rằng:

“Lịch sử là cô giáo của cuộc đời”, “Lịch sử là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”.Các nhà tư tưởng thời trung đại xem lịch sử là: “triết lí của việc noi gương” Cónhững thời kì lịch sử trở thành “bà hoàng của các ngành khoa học”, nó có uy tíncao nhất dưới con mắt của xã hội loài người Bởi vì, người ta tìm thấy trong lịch sửcâu trả lời cho những vấn đề quan trọng nhất của đời sống xã hội và tinh thần Toàn

bộ nền văn hoá chờ đợi sự phán xét của sử học, và sử học bắt đầu đóng vai trò củanhà lãnh đạo và người khuyên dạy Là chủ nhân của những bí mật quá khứ, lịch sửgiống như người nghiên cứu gia hệ ở cung đình, đã mang lại cho nhân loại phầnthưởng về sự hào hiệp của mình, đã khôi phục lại bức tranh về cuộc diễu hànhthắng lợi của loài người Rõ ràng, vai trò của lịch sử trong đời sống xã hội là rấtlớn, vì xét đến cùng lịch sử là lịch sử của chủ thể hoá, là tấm gương vừa phản ánhvừa cải tạo xã hội

Bộ môn lịch sử trong nhà trường được coi là một công cụ của việc giảng dạy,không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ mà còn có ưu thế lớn trong giáo dục tìnhcảm, đạo đức nhằm phát triển toàn diện học sinh Nhà sử học N.A Ê-Rô-Phê-ép đãkhẳng định: trong đời sống xã hội, lịch sử đóng vai trò quan trọng, nó vừa là công

cụ của công tác sư phạm, lại có tác dụng giáo dục trí tuệ và tình cảm, tri thức lịch

Trang 9

sử là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền văn hoá chung của nhânloại, và không có bộ phận quan trọng này thì không thể coi việc giáo dục con người

ra bài học bổ ích cho hiện tại và tương lai Chúng ta thấy rằng, để đạt được mụcđích trong dạy học lịch sử, yêu cầu được đặt ra cho cả hai phía người dạy và ngườihọc: Dạy cái gì? Học để làm gì?

Trong thời đại ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ pháttriển như vũ bão, thì việc giảng dạy bộ môn lịch sử nói chung và ở Trường THPTnói riêng càng cần được nhấn mạnh và coi trọng hơn Bởi vì, nếu con người nắmvững được những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, họ sẽ hiểu được sâusắc nguồn gốc của mọi vấn đề: con người, lãnh thổ, chiến tranh, hoà bình, tiềmnăng… và giúp họ trở thành những con người có ý thức trên hành tinh chúng ta Từ

đó, họ ý thức, giữ gìn, phát huy những bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộcmình, có trách nhiệm đối với việc bảo vệ và xây dựng đất nước

Để môn lịch sử luôn được coi trọng, phát huy được vị trí, ý nghĩa của mình,phải không ngừng nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, mà yếu tố then chốt ở đây

là phải đổi mới phương pháp dạy học Như nhà sử học Nga Pasutô đã nói: “muốnđào tạo con người phù hợp với thời đại, chúng ta phải không ngừng cải tiến và nângcao chất lượng dạy học Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, sự hứng thú hấp dẫnngày càng tăng với hiện tại không hề làm giảm bớt sự chú ý của chúng ta đối với

Trang 10

việc dạy học lịch sử Chính lịch sử là bằng chứng hiển nhiên về sự toàn thắng củacuộc xây dựng, sáng tạo đối với sự tàn phá, chiến thắng của hoà bình đối với chiếntranh, sự gần gũi hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc về văn hoá, mặt khác khắc phụcđược tình trạng biệt lập”.

Như vậy, ý nghĩa quan trọng của việc học tập lịch sử đối với học sinh là ở chỗ:học tập lịch sử không chỉ để biết quá khứ, mà trên cơ sở biết quá khứ hiểu sâu sắchiện tại, hành động tích cực trong hiện tại, tiên đoán sự phát triển của tương lai vàđấu tranh cho sự thắng lợi tất yếu của tương lai Dạy học lịch sử đạt được mục đíchnày chính là sự phát huy quan điểm đúng đắn của ông cha ta từ xưa: “Ân cố tritân”, tức là ôn những cái cũ để hiểu cái mới

Thông qua việc tìm hiểu vị trí, vai trò, ý nghĩa, mục đích của lịch sử và bộmôn lịch sử, chúng ta thấy vấn đề đặt ra là phải dạy lịch sử như thế nào? Và bằngphương pháp, biện pháp ra sao? Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Dạy sửphải dạy như thế nào? Nhất định phải cho học sinh hiểu biết những sự kiện lịch sử,những quy luật lịch sử qua các thời đại chứ không phải nói ba hoa về chính trị ởđây, cả lịch sử nước ta là một sự cổ vũ sâu sắc vô cùng Dạy sử tốt nhất định tạocho người thanh niên ta say mê với dân tộc, say mê và tự hào về dân tộc một cáchđúng mức, không hề tự kiêu, không hề nảy sinh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” Nhưvậy, để phát triển trí tuệ đồng thời giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho họcsinh, giáo viên nhất thiết phải xác định đúng và cung cấp đầy đủ cho học sinhnhững kiến thức cơ bản của lịch sử

2 Khái niệm kiến thức cơ bản

Bước sang thế kỉ XXI, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đangphát triển như vũ bão, cả thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức Những thôngtin về khoa học kĩ thuật tăng nhanh đến mức chóng mặt (nếu như mấy năm trướcđây cứ khoảng 10 năm kiến thức lại tăng gấp đôi thì hiện nay thời gian đó rút ngắnchỉ còn 4 đến 5 năm) Bối cảnh này làm nổi bật lên vấn đề có tính chất toàn cầu đốivới giáo dục Đó là giải quyết mâu thuẫn ngày càng tăng giữa: khối lượng kiến thức

Trang 11

vô hạn với thời gian học tập có hạn Để giải quyết mâu thuẫn trên, một trong nhữnggiải pháp hàng đầu là phải lựa chọn đúng đắn những vấn đề cơ bản của nội dunghọc tập cho phù hợp với giới hạn thời gian mà vẫn đảm bảo được yêu cầu, mụcđích của việc dạy học đạt tới sự phát triển toàn diện học sinh tốt nhất Trong dạyhọc lịch sử cũng vậy, giáo viên không thể truyền thụ cho học sinh hết những kiếnthức của khoa học lịch sử, mà phải tuỳ từng đối tượng học sinh, tuỳ từng nội dunghọc tập để lựa chọn cung cấp cho học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản củabài học.

Vậy thì, kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử là gì?

Trước hết, để hiểu “kiến thức cơ bản”, chúng ta phải hiểu “cơ bản” là gì? “Cơbản” không phải là một khái niệm chỉ sự vật mà là khái niệm về các mối quan hệgiữa các sự kiện - hiện tượng Nói đến cơ bản không chỉ tìm hiểu “Cơ bản là gì?”,

mà chủ yếu đi tìm hiểu “Cơ bản là cái gì?”, “Cơ bản đối với ai?”, “Đâu là cơ bản?”

Vì vậy, khi nói đến cơ bản thực chất là nói đến sự lựa chọn

Đây chính là những vấn đề cần được đặt ra và giải quyết khi giáo viên lựachọn kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử Kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sửtuỳ thuộc vào quan điểm và yêu cầu về khoa học lịch sử và khoa học giáo dục, cóthể thay đổi theo thời gian, không gian và đối tượng học tập Hay nói cách khác:kiến thức cơ bản không tuyệt đối, cứng nhắc Một đơn vị kiến thức là cơ bản ở giaiđoạn này, đối với khối lớp này, nhưng ở giai đoạn khác, đối với khối lớp khác nólại không là cơ bản nữa…Cơ bản là “sự lựa chọn” phụ thuộc vào chủ thể nhận thức

và mục đích nhận thức Tuy nhiên, cái cơ bản trong dạy học lịch sử bao giờ cũng cóhai mặt: một mặt nó là nội dung cốt lõi, thiết yếu của khoa học lịch sử, mà nhờ nóhọc sinh có thể hình dung được lịch sử đã xảy ra như thế nào; mặt khác, những nộidung đó phải có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách học sinh

Trước đây và cả hiện nay, trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nóiriêng, vẫn tồn tại nhiều quan điểm không đúng về kiến thức cơ bản Nhiều ngườicho rằng kiến thức cơ bản là sự tóm tắt lại những kiến thức trong sách giáo khoa -

Trang 12

sách dùng cho học sinh, giúp học sinh củng cố và nắm vững kiến thức trên cơ sởbài giảng mà giáo viên trình bày Vấn đề kến thức cơ bản trong môn lịch sử là nộidung của nhiều cuộc thảo luận, hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu lịch sử,các giáo viên lịch sử Đến nay, không phải vấn đề đã hoàn toàn được giải quyết,nhưng các nhà nghiên cứu cũng đi đến thống nhất một số điểm chủ yếu về kiếnthức cơ bản như sau :

“Kiến thức cơ bản là kiến thức tối ưu cần thiết cho việc hiểu biết của học sinh

về lịch sử (cả thế giới và dân tộc) Kiến thức cơ bản bao gồm nhiều yếu tố đó là: sựkiện lịch sử, các niên đại, địa danh lịch sử, tên nhân vật lịch sử, nguyên lí, phươngpháp học tập và vận dụng kiến thức”

Bàn về tiêu chuẩn xác định kiến thức cơ bản, tiến sỹ Đairi chuyên gia vềphương pháp dạy học lịch sử của Liên Xô cũ cho rằng: “Tất cả các yếu tố nào hợpthành tri thức lịch sử đều phải tham gia vào giải quyết biến cố lịch sử và quá trìnhphát triển của lịch sử, cái gì đã xảy ra ở đâu và vào lúc nào (xác định về thời gian

và không gian), ai hành động, như thế nào và vì sao? Đó là tiêu chuẩn quan trọng

để xác định một kiến thức lịch sử mà là kiến thức cơ bản”

Khi nói đến nội dung của kiến thức cơ bản, các tác giả cuốn “Phương phápdạy học lịch sử” nhấn mạnh: Kiến thức lịch sử cơ bản cung cấp cho học sinh,không chỉ mô tả bề ngoài của sự kiện mà phải giải thích, nêu lên bản chất củachúng Trên cơ sở những kiến thức lịch sử cụ thể, bộ môn lịch sử khái quát sự thựclịch sử để dần dần hình thành cho học sinh một hệ thống khái niệm lịch sử từ đơngiản đến phức tạp, từ tương đối cụ thể đến trừu tượng Như vậy, kiến thức cơ bảnkhông chỉ đơn giản là sự tóm tắt lại sách giáo khoa mà phải thông qua các sự kiệnlịch sử cụ thể, giáo viên giải thích để làm nổi bật bản chất của lịch sử, dần hìnhthành cho học sinh những khái niệm, hệ thống khái niệm từ đơn giản đến phức tạp.Nói đến lịch sử, trước hết là nói đến sự kiện lịch sử, mà mỗi sự kiện đó lạidiễn ra trong thời gian, không gian nhất định Trong mỗi tiết học, mỗi chương haymột khoá trình lịch sử chúng ta lại bắt gặp rất nhiều sự kiện lịch sử, và có sự kiện

Trang 13

cơ bản, có sự kiện không cơ bản Khi dạy lịch sử, người giáo viên phải biết lựachọn sự kiện cơ bản để khắc sâu cho học sinh Sự kiện cơ bản là sự phản ánh nhữngbiến cố, hiện tượng chi phối một phạm vi nhất định của quá trình xã hội Theo cáctác giả phương pháp dạy học lịch sử, thì kiến thức cơ bản chính là những sự kiệnlịch sử tiêu biểu có thể vẽ lên bức tranh quá khứ một cách chân thực nhất, và làmcho học sinh phân biệt được các thời kì lịch sử của các quốc gia khác nhau Đó lànhững khái niệm lịch sử cơ bản nhất, những quy luật, những nguyên lí, lí thuyết, tưtưởng nhất định, quan điểm chủ yếu giúp học sinh hiểu đúng đắn lịch sử và tự hìnhthành một cơ sở lí luận để tiếp tục học tập và nghiên cứu Đó là những phươngpháp cơ bản để lĩnh hội những kiến thức và đổi mới tri thức cũ, bước đầu biết vậndụng tri thức vào hoạt động thực tiễn.

Như vậy, trong dạy học lịch sử phải biết xác định đúng kiến thức cơ bản mớiđảm bảo và nâng cao được chất lượng học tập Kiến thức cơ bản ngoài các sự kiện,các khái niệm, còn bao hàm các yếu tố ấy để làm sáng tỏ: “tính hệ thống, tính toàndiện, tính hiện đại của sự kiện lịch sử”

- Tính hệ thống thể hiện ở việc nắm các sự kiện trong mối liên hệ biện chứng, tácđộng qua lại, nguyên nhân và kết quả của nhau

- Tính toàn diện thể hiện ở việc hiểu biết lịch sử một cách đầy đủ trên mọi mặt củađời sống xã hội: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá …

- Tính hiện đại thể hiện ở các mặt sau:

+ Học lịch sử đến ngày nay, những sự kiện vừa xảy ra

+ Cung cấp những kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất

+ Dựa trên những cơ sở của quan điểm và tư tưởng cách mạng khoa học nhất đểnhận thức lịch sử

Chỉ khi nào giáo viên lịch sử nhận thức đúng các nhân tố trên đây thì mới xácđịnh và truyền thụ tốt kiến thức cơ bản cho học sinh; mới có thể khôi phục lại bứctranh quá khứ một cách chân thật, giúp học sinh phân biệt được lịch sử cụ thể củacác thời kì, các quốc gia khác nhau, phản ánh được quy luật phát triển xã hội

Trang 14

Nói tóm lại, chúng ta có thể hiểu về nội dung kiến thức cơ bản trong dạy họclịch sử một cách khái quát như sau: Kiến thức cơ bản là kiến thức không thể thiếuđược để hiểu biết về sự kiện, hiện tượng xã hội - tự nhiên, phù hợp với yêu cầutrình độ nhận thức của học sinh Kiến thức cơ bản gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch

sử, các niên đại, biểu tượng, khái niệm lịch sử, các qui luật, nguyên lí, phương pháphọc tập và vận dụng kiến thức Đó là những kiến thức tối ưu, cần thiết cho việchiểu lịch sử của học sinh

Ngoài ra, để hiểu sâu về kiến thức cơ bản, chúng ta phải phân biệt nó với kiếnthức không cơ bản và kiến thức chủ yếu Thực chất, chúng ta phải giải quyết mốiquạn hệ giữa nội dung sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên, giữa sách giáokhoa với việc tự học của học sinh Để giải quyết mối quan hệ này, chúng ta vậndụng vào sơ đồ Đairi

Bài giảng trên lớp:

Kiến thức ô số 1 là phần không có trong sách giáo khoa, giáo viên và học sinhphải tự tìm hiểu những tài liệu bên ngoài để bổ sung cho bài học thêm phong phú.Khối kiến thức ô số 2 là nội dung vừa có trong sách giáo khoa vừa có trongbài giảng của giáo viên Đó là vấn đề cơ bản nhất mà giáo viên phải hướng dẫn họcsinh tiếp thu

Kiến thức ở số 3 là nội dung có trong sách giáo khoa, nhưng không có trongbài giảng, học sinh tự nghiên cứu vì không có thời gian trên lớp, không khó, không

cơ bản trong bài học

Vậy, kiến thức không cơ bản trong một bài giảng là những kiến thức có trongsách giáo khoa, nhưng là phần tài liệu ít có ý nghĩa (mặc dù đôi khi cũng quantrọng) nhưng không có đủ thời gian để trình bày trên lớp Kiến thức không cơ bản

có thể được trình bày gọn trong mục nhỏ của bài, hoặc từng mục, khi giảng giáoviên có thể lướt qua một số đoạn, một số ý trong sách giáo khoa

Trang 15

Kiến thức chủ yếu là kiến thức vẫn phải được cung cấp, để giúp học sinh cócái nhìn đúng về lịch sử Kiến thức đó có trong sách giáo khoa, nhưng đôi khi cầnphải được giáo viên cung cấp thêm những thông tin, những sự kiện, lí lẽ, hìnhảnh… Hay nói cách khác, kiến thức cơ bản nằm ở ô số 2, thì kiến thức chủ yếu có ở

cả hai ô số 2 và số 3

Trên cơ sở tìm hiểu thế nào là “kiến thức cơ bản”, và sự cần thiết phải xácđịnh kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử, chúng ta phải tuân thủ những nguyêntắc nào khi xác định?

3 Một số nguyên tắc xác định kiến thức cơ bản

Xác định kiến thức cơ bản là nhiệm vụ hàng đầu trong giảng dạy lịch sử, làmnền tảng thực hiện chức năng, nhiệm vụ bộ môn Nhất là trong thực tiễn hiện nay,xác định kiến thức cơ bản là một trong những biện pháp tích cực và quan trọng đểnâng cao chất lượng dạy học bộ môn Để xác định đúng kiến thức cơ bản trong dạyhọc lịch sử, chúng ta cần tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất: xác định kiến thức cơ bản phải giúp học sinh nắm vững, hiểu rõ sự

kiện để phân biệt được sự kiện này với sự kiện khác

Thứ hai: xác định kiến thức cơ bản phải căn cứ vào mục đích yêu cầu đối với

mỗi học sinh ở mỗi khoá học, mỗi lớp cụ thể Nói cách khác là đối với từng đốitượng nhận thức khác nhau mà đòi hỏi kiến thức cơ bản được truyền thụ khác nhau

Thứ ba: xác định kiến thức cơ bản tuỳ theo nhiệm vụ cụ thể của cách mạng

nước ta ở mỗi giai đoạn, có những kiến thức trong giai đoạn này là cơ bản, song ởgiai đoạn khác lại không phải cơ bản, không cần nhấn mạnh nữa

Thứ tư: xác định kiến thức cơ bản phải chú ý tới ý nghĩa giáo dục của các sự

kiện, bởi vì bộ môn lịch sử có nhiều ưu thế trong giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạođức, thẩm mĩ Những con người và những việc thực của quá khứ có sức thuyếtphục, có sự suy cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ Khả năng giáo dục của các sự kiệnlịch sử được thể hiện ở nhiều mặt, có tính đa dạng, phong phú của bộ môn Trong

đó chủ yếu tập trung giáo dục: xây dựng niềm tin vững chắc vào lí tưởng cách

Trang 16

mạng trên cơ sở nhận thức đúng sự phát triển khách quan, hợp qui luật của xã hộiloài người; Giáo dục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trongquá trình dựng nước và giữ nước; Bồi dưỡng những phẩm chất của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động…

Ngoài ra, khi lựa chọn kiến thức cơ bản, giáo viên cần phải chú ý tới tính vừasức tiếp thu của học sinh với các sự kiện, phải được kết hợp lại thành một hệ thống

có tác dụng phát triển tư duy học sinh

Trong dạy học lịch sử, nếu nới chỉ xác định được kiến thức cơ bản thôi thì chưa

đủ, mà điều quan trọng tiếp theo là hướng dẫn học sinh nắm kiến thức cơ bản, tức

là phải giảng dạy kiến thức cơ bản đó như thế nào?

4 Yêu cầu về lí luận dạy học đối với việc truyền thụ kiến thức cơ bản

Chất lượng dạy học nói chung, bài học lịch sử nói riêng phụ thuộc phần lớnvào trình độ và nghệ thuật của người thầy giáo, mà cụ thể ở đây là phụ thuộc vàoviệc chuẩn bị bài học (soạn giáo án, đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo, tổ chứcđiều khiển giờ học) Trong đó, việc truyền thụ kiến thức cơ bản là một hoạt độngchủ yếu của dạy học lịch sử, ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định đến chấtlượng dạy học Để truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh một cách tốt nhất, cầnphải thực hiện những yêu cầu sau đây:

Thứ nhất: Vận dụng hệ thống phương pháp khi truyền thụ kiến thức cơ bản,

phải tuỳ theo từng nội dung cụ thể, mà giáo viên phải vận dụng nhuần nhuyễn, hợp

lí hệ thống phương pháp nhận thức lịch sử, phương pháp tìm tòi nghiên cứu Việc

sử dụng các phương pháp này phải được kết hợp chặt chẽ với các phương pháptruyền thống như dùng lời, trực quan, sử dụng tài liệu Chỉ có sử dụng hệ thống cácphương pháp dạy học lịch sử, giáo viên mới có thể dựng lại trước mặt học sinh biểutượng chân thực, chính xác các sự kiện trong quá khứ, tìm ra bản chất, nắm bắt kháiniệm, rút ra qui luật và nêu bài học lịch sử

Thứ hai: truyền thụ kiến thức cơ bản sao cho sinh động, dễ hiểu Trong học

tập lịch sử, học sinh không thể trực tiếp quan sát được Xuất phát từ đặc trưng của

Trang 17

môn lịch sử là không lặp lại, và nếu có lặp lại thì là “Sự lặp lại trên cơ sở không lặplại ”, vì vậy, dạy học lịch sử không thể tái hiện lại, không thể làm thí nghiệm đểdựng lại hiện thực lịch sử quá khứ khách quan Cho nên, nhận thức lịch sử bao giờcũng phức tạp theo con đường riêng, bởi con người là một bộ phận không thể táchrời được của đối tượng nghiên cứu Khi truyền thụ kiến thức cơ bản, giáo viên dựatrên các kiến thức cụ thể, chính xác từ các sự kiện lịch sử để truyền đạt sao cho cóhình ảnh, có hồn, tránh tình trạng “hiện đại hoá lịch sử” Phải bắt đầu từ việc xácđịnh kiến thức cơ bản cho học sinh, giáo viên mới có cơ sở để nâng cao trình độcủa các em lên những hiểu biết khái quát, lí luận nhất định Mức độ hình thành kháiniệm lịch sử cho học sinh ở cấp THPT phải giúp các em nắm bắt được bản chất, nộihàm khái niệm Đồng thời, nâng cao dần nhận thức của học sinh từ lĩnh hội tái tạođến lĩnh hội sáng tạo Hiểu rõ đặc điểm nhận thức của học sinh, giáo viên sẽ lựachọn được những phương pháp truyền thụ thích hợp để đảm bảo và nâng cao hiệuquả bài học.

Do tính hoàn diện của việc học lịch sử, nên đòi hỏi dạy học lịch sử phải kếthợp với việc nắm kiến thức cơ bản khác của quá trình truyền thụ cho học sinh.Lịch sử là một quá trình phát triển toàn diện, đồng bộ các sự kiện lịch sử: “Sựkiện phản ánh những biến cố, hiện tượng và quá trình của lịch sử phát triển kinh tếcủa đời sống vật chất, của con người Sự kiện lịch sử chính trị phản ánh những biến

cố hiện tượng và quá trình phát triển chính trị, đấu tranh giai cấp, sự hưng thịnh vàsuy vong của quốc gia Sự kiện lịch sử quân sự giới thiệu về các cuộc chiến tranh,cách mạng Sự kiện văn hóa, tư tưởng bao gồm các hiện tượng lịch sử về đời sốngtinh thần, sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội, lịch sử tâm lý xã hội, ý thức

hệ, hoạt động tinh thần của con người hành trình về khoa học, văn hóa nghệ thuật”.Trong đó, có thể lựa chọn những sự kiện cơ bản giúp ta hình thành được nền tảngkiến thức để từ đó có thể lựa chọn những kiến thức khác Có hiểu biết toàn diệnlịch sử, giáo viên mới chọn những kiến thức cơ bản và có đầy đủ trình độ để truyềnthụ cho học sinh hiểu được kiến thức cơ bản đó

Trang 18

Như vậy, nếu như việc xác định kiến thức cơ bản là yếu tố quan trọng đối vớichất lượng dạy học thì việc truyền thụ kiến thức cơ bản lại là yếu tố quyết định đếnchất lượng dạy học Hai yếu tố này trong quá trình dạy học có quan hệ mật thiết vàluôn đi liền với nhau Trong dạy học, chỉ khi nào giáo viên xác định đúng kiến thức

cơ bản thì mới có phương pháp truyền thụ tốt kiến thức lịch sử cho học sinh

Trên đây là những vấn đề về lí luận cần phải được áp dụng trong việc xácđịnh và truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở Trường THPT Tuynhiên, để vận dụng tốt lí luận nhất thiết phải tìm hiểu thực tiễn, xuất phát từ thựctiễn về tình hình dạy học bộ môn lịch sử hiện nay Người giáo viên lịch sử muốnđổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học tài cần phải nắm chắc lí luậnđồng thời nhận thức đúng thực tiễn

CHƯƠNG II MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ TRUYỀN THỤ KIẾN THỨC CƠ BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở

TRƯỜNG THPT

1 Một số biện pháp xác định kiến thức cơ bản cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT Sáng Sơn

1.1 Biện pháp 1: Vận dụng sơ đồ Đairi

Trong quá trình chuẩn bị bài giảng, bước đầu tiên là phải xác định được mụctiêu của bài – xác định được kiến thức trọng tâm cơ bản cần truyền thụ cho họcsinh Nếu vận dụng sơ đồ Đairi, giáo viên sẽ dễ dàng làm được điều đó Cụ thể,giáo viên căn cứ vào các ô 1, 2, 3 trong sơ đồ để xác định được đâu là kiến thức cơbản, đâu là kiến thức không cơ bản và đâu là kiến thức chủ yếu Từ đó, giáo viênmới quyết định lựa chọn những đơn vị kiến thức cơ bản cần phải truyền thụ chohọc sinh

Ví dụ: Khi dạy bài 14: “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt nam”

(chương trình lịch sử 10 cơ bản), áp dụng sơ đồ Đairi, giáo viên xác định đượcnhững kiến thức cơ bản cần truyền thụ cho học sinh là: Những nét đại cương về banhà nước cổ đại trên đất nước Việt Nam, đó là sự hình thành, cơ cấu tổ chức nhà

Trang 19

nước, đời sống văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia Đây là nội dung kiến thức nằmtrong ô số (2) - là kiến thức cơ bản mà giáo viên cần phải xác định Để bổ sung làm

rõ kiến thức ô số (2), giáo viên cần phải tìm thêm tài liệu về văn hoá Đông Sơn,nhà nước Âu Lạc, văn hoá Óc Eo, sử dụng lược đồ Giao Châu và Chăm-pa thế kỉVI-X,…nhằm tạo cho học sinh biểu tượng cụ thể để nắm vững kiến thức cơ bản

Đó chính là kiến thức ô số (1) Kiến thức ô số (3) ở bài 14 là các kênh hình về lưỡicày đồng, ấm đất nung, tranh ảnh thành Cổ Loa, thánh địa Mĩ Sơn, giáo viên hướngdẫn học sinh tìm hiểu, suy nghĩ thêm Khi giáo viên xác định được kiến thức rõràng như vậy sẽ tạo cơ sở để truyền thụ tốt kiến thức cơ bản cho học sinh

1.2 Biện pháp 2: Khai thác hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa

Hệ thống câu hỏi trong SGK lịch sử là một nguồn kiến thức, đồng thời là cơ

sở, gợi ý để giáo viên xác định kiến thức cơ bản và giúp học sinh nắm vững hiểusâu kiến thức cơ bản của bài học Trong một bài học lịch sử, một chương, một phầnhay một khoá trình bao giờ cũng có hệ thống câu hỏi đưa ra Về câu hỏi có nhiềuloại, nhiều mức độ khác nhau tuỳ theo nội dung chương trình và đối tượng giảngdạy Người giáo viên phải biết căn cứ vào đó để xác định được kiến thức cơ bảnthông qua các câu hỏi

Ví dụ: Khi dạy bài 16: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập

dân tộc” (chương trình lịch sử 10 nâng cao), giáo viên căn cứ vào hệ thống câu hỏi

trong sách giáo khoa :

Câu 1 Em có nhận xét gì về các cuộc đấu tranh của nhân dân ta thời Bắc thuộc?Câu 2 Hãy nêu những nét chính về một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu?

Câu 3 Việc thành lập nhà nước Vạn Xuân có ý nghĩa gì?

Câu 4 Trình bày nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa của chiến thắng Bạch Đằngnăm 938?

Câu 5 Nêu những sự kiện chứng tỏ tính liên tục và rộng lớn của phong trào đấutranh giành độc lập của nhân dân ta thời Bắc thuộc?

Trang 20

Câu 6 Hãy nêu những đóng góp của Hai Bà Trưng, Lí Bí, Triệu Quang phục, KhúcThừa Dụ và Ngô Quyền trong cuộc đấu tranh giành độc lập thới Bắc thuộc?

Thông qua hệ thống câu hỏi trên đây, giáo vên xác định được trọng tâm bàihọc, những kiến thức cơ bản cần xác định để truyền thụ cho học sinh là: Tính liêntục, rộng lớn, quyết liệt trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta thờiBắc thuộc (từ thế kỉ I đến thế kỉ X), nắm được những nét đại cương về các cuộckhởi nghĩa tiêu biểu (khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lí Bí, Khúc Thừa Dụ và chiếnthắng Bạch Đằng của Ngô Quyền) Thông qua đó, giáo viên giáo dục cho học sinhlòng căm thù quân xâm lược và đô hộ đất nước, lòng biết ơn tổ tiên và truyền thốngđánh giặc ngoại xâm của dân tộc

1.3 Biện pháp 3: Khai thác hệ thống kênh hình

Kênh hình hay đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là một nguồn kiếnthức quan trọng Đây là phương tiện thể hiện kiến thức cơ bản rất hiệu quả Do vậy,trong dạy học lịch sử, giáo viên cần căn cứ vào đó để xác định kiến thức cơ bản,đồng thời cũng dùng như một biện pháp truyền thụ kiến thức nâng cao hiệu quả dạyhọc

Ví dụ: Khi dạy bài 17: Trung Quốc (chương trình lịch sử 11 nâng cao), giáo

viên thông qua việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa: Hình 50 Các nước

đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt” Trung Quốc; Hình 51 Lược đồ phong trào NghĩaHoà Đoàn; Hình 52 Tôn Trung Sơn; Hình 53 Lược đồ cách mạng Tân Hợi, để xácđịnh kiến thức cơ bản của bài: Thái độ nhu nhược của triều đình Mãn Thanh đãkhiến Trung Quốc trở thành miếng mồi béo bở - cái bánh ngọt để các nước đế quốcxâu xé và biến thành nước thuộc địa nửa phong kiến Phong trào đấu tranh củanhân dân Trung Quốc đã liên tục nổ ra, tiêu biểu nhất là cuộc Cách mạng Tân Hợi(1911) dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn và Trung Quốc Đồng minh hội

Ngoài những biện pháp trên đây còn nhiều biện pháp khác để xác định đúngkiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử

Trang 21

2 Một số biện pháp truyền thụ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở trường THPT Sáng Sơn

2.1 Trình bày miệng sinh động, hình ảnh

Trình bày miệng trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng có ýnghĩa rất quan trọng, vì lời nói có vai trò chủ đạo đối với việc giảng dạy của giáoviên và học tập của học sinh Trình bày miệng không chỉ để thực hiện phương phápthông tin – tái hiện nhằm khôi phục hình ảnh quá khứ mà còn giúp học sinh nhậnthức sâu sắc sự kiện, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết trong nghiên cứu, tìm tòi.Nói cách khác, trình bày miệng có ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển họcsinh Lời nói sinh động được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau trong dạyhọc lịch sử (trình bày tài liệu của thầy và trò, trao đổi, thảo luận, kiểm tra miệng,

…) được tiến hành bằng nhiều biện pháp cụ thể: tường thuật, miêu tả, nêu đặcđiểm, giải thích, kể chuyện lịch sử…

Ví dụ: Khi dạy bài 9: Các nước tư bản chuyến sang giai đoạn để quốc chủ

nghĩa (chương trình lịch sử 11 nâng cao), để tạo biểu tượng cho học sinh về sự lũng

đoạn của các tổ chức độc quyền ở Mĩ, giáo viên sẽ miêu tả bức tranh hình 30 nhưsau: Đây là tranh đương thời nói về quyền lực của các tổ chức độc quyền ở Mĩ.Trong tranh chúng ta thấy con mãng xà khổng lồ, hung dữ là hình ảnh tượng trưngcho các công ty độc quyền ở Mĩ Đuôi của mãng xà cuốn nhiều vòng quanh NhàTrắng - biểu tượng quyền lực chính trị của nước Mĩ Các công ty độc quyền khôngchỉ chi phổi Nhà trắng, mà còn xuất phát từ Nhà trắng chi phối đến các mặt khácnhau về kinh tế, chính trị,… của nước Mĩ Người phụ nữ biểu hiện của đời sốngdân chủ tự do của nhân dân cũng bị các tổ chức độc quyền đe doạ nuốt chửng Cáchình thức độc quyền của Mĩ là các Tơ-rớt được coi như con mãng xà khổng lồchiếm phần lớn trong bức tranh, lũng đoạn toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xãhội Thông qua việc miêu tả như trên, giáo viên sẽ giúp học sinh dễ dàng thấy đượcsức mạnh, bản chất của các công ty độc quyền ở Mĩ nói riêng và của chủ nghĩa đếquốc nói chung

Trang 22

2.2 Truyền thụ kiến thức cơ bản bằng cách khai thác hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa

Về con đường nhận thức thế giới Mác đã khẳng định rằng: Quá trình nhậnthức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn Đối với quá trình nhận thức lịch sử thì việc xuất phát từ

“Trực quan sinh động” - từ hiện thực lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Do đặcđiểm của việc học tập, nhận thức lịch sử là không thể trực tiếp quan sát được, nênphương pháp trực quan là không thể xem nhẹ Đồ dùng trực quan có nhiều loạikhác nhau, và hiện nay việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử khôngchỉ dừng lại ở việc sử dụng bản đồ, tranh ảnh mô hình, mà còn có các loại phươngtiện kỹ thuật hiện đại Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật, không hạ thấp vai tròcủa thầy giáo mà vẫn tăng hiệu quả bài học ở các mặt: Thu nhận thông tin, tư duy,ghi nhớ và vận dụng kiến thức Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, đặc biệt là

hệ thống kênh hình trong SGK là một nguồn kiến thức rất quan trọng, nhất là vớicác hiện tượng, sự kiện lịch sử từ xa xưa Nó được xem như “Chiếc cầu nối” giữaquá khứ với hiện tại Vai trò của nó trong quá trình dạy học lịch sử là không thểthay thế được Sử dụng đồ dùng trực quan có ý nghĩa to lớn về giáo dưỡng, giáodục và kĩ năng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, gây hứng thú học tậpcho học sinh Sử dụng đồ dùng trực quan là biện pháp góp phần phát huy tính độclập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập lịch sử ở học sinh

Ví dụ: khi dạy bài 31: Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) - chương

trình lịch sử 11 nâng cao, để truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản vềdiễn biến trên mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương (1941 - 1945), giáo viên cần sửdụng Lược đồ chiến trường Châu Á – Thái Bình Dương (hình 92) như một nguồnkiến thức quan trọng Cụ thể, khi trình bày diễn biến giáo viên dùng lược đồ đểtường thuật như sau: Ở giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh Châu Á – Thái BìnhDương từ cuối năm 1941 đến tháng 5- 1942, Anh, Mĩ bị đánh bật ra khỏi vùng TháiBình Dương, Nhật chiếm hầu hết các thuộc địa ở Đông Nam Á và Nam Thái Bình

Trang 23

Dương Mũi tên đen trên lược đồ chỉ các cuộc tấn công chiếm thuộc địa ở xi-a, Miến Điện (nay là Mi-an-ma), Phi-lip-pin, Hồng Kông, các quần đảo Gu-am,Uâycơ, Xa-lô-mông…Từ Miến Điện quân Nhật tiến đánh Vân Nam, một vùng rộng3.8 triệu km2 với 150 triệu dân.

Từ tháng 5-1942, quân Mĩ, Anh bắt đầu phản công với mũi tên màu xanh.Nhật lại chuẩn bị tấn công Liên Xô, vì vậy các mũi tấn công của Nhật ở Châu Á –Thái Bình Dương vào thời gian này chững lại Tại vùng biển San hô đã diễn ra trậnđánh lớn giữa hải quân Mĩ và Nhật

Trong hai năm 1942-1943, các trận đánh ở Châu Á – Thái Bình Dương diễn

ra rất hạn chế

Ở giai đoạn thứ hai (1943-1945), Mĩ chuyển sang tấn công chiếm lại hầu hếtcác đảo và quần đảo Trên lục địa quân Đồng minh tiến vào Bắc Miến Điện (xuân1944); ngày 2-5-1945 giải phóng Ran-gun, sau đó quét sạch quân Nhật ra khỏiMiến Điện Những trận đánh cuối cùng ở Châu Á – Thái Bình Dương là chiếm lạiđảo Ivôgima, đảo Ô-ki-na-oa

Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (mũi tiến công viền đensọc xanh trên lược đồ)

Ngày 6-8-1945, Mĩ thả quả bom Nguyên tử xuông Hi-rô-si-ma, ngày

9-8-1945 thả quả bom nguyên tử thứ hai xuống Na-ga-xa-ki, gây hậu quả nghiêm trọng

Ngày 9-8-1945, Hồng quân Liên Xô với 1,5 triệu quân, 5500 xe tăng, 3900máy bay, 2600 pháo và hạm đội Thái Bình Dương tấn công đội quân Quan Đôngcủa Nhật (gồm 70 vạn quân chủ lực Nhật, 30 vạn quân Nguỵ), quân Nhật bị đánhtan, cả vùng Đông Bắc Á được giải phóng

Ngày 14-8-1945 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện Chiếntranh thế giới thứ hai kết thúc

Việc giáo viên sử dụng lược đồ trình bày như trên giúp học sinh dễ dànghình dung được diễn biến, thu hút sự chú ý, gây hứng thú học tập cho các em

2.3 Sử dụng bài viết sách giáo khoa kết hợp với tài liệu tham khảo

Trang 24

Sách giáo khoa trong dạy học lịch sử có vai trò đặc biệt quan trọng Nó đượcxem là tài liệu quan trọng nhất được dùng trong việc học tập ở lớp, ở nhà của họcsinh, đồng thời được sử dụng trong quá trình chuẩn bị bài và tiến hành dạy học củagiáo viên Đối với giáo viên SGK là chỗ dựa quan trọng, đáng tin cậy trong giảngdạy Tuy nhiên, SGK thường “tĩnh” hơn sự phát triển nhanh chóng của khoa họclịch sử Vì vậy, giáo viên không bao giờ thoả mãn với việc chỉ nắm được nội dụngSGK, mà phải luôn luôn nghiên cứu, học tập thêm các tài liệu mới để nâng caotrình độ khoa học của mình, nhằm làm cho bài học phong phú, sâu sắc, phản ánhkịp thời tính hiện đại của kiến thức lịch sử cần truyền thụ cho học sinh

Chúng ta biết rằng bài đọc (bài viết) là nội dung của sách giáo khoa đượcbiên soạn hết sức công phu Vì vậy, việc truyền thụ những kiến thức cần thiết, cơbản của sách giáo khoa giúp học sinh nắm vững bài học là nhiệm vụ của giáo viên.Khi sử dụng sách giáo khoa, giáo viên phải biết được điều gì sách giáo khoa chưanói rõ, chỗ nào có thể lướt qua, chỗ nào cần nhấn mạnh đi sâu Vấn đề này không

hề đơn giản, mà nó cần có sự suy nghĩ, tìm tòi lớn về mặt sư phạm, nó đòi hỏi sựlao động khoa học và sáng tạo của mỗi giáo viên, trong đó có cả nghệ thuật sưphạm

Để sử dụng sách giáo khoa, phương pháp tốt nhất là sử dụng sơ đồ Đairi (sơ

đồ mà tôi đã trình bày ở trên) để giải quyết mối tương quan giữa nội dung bài giảngcủa giáo viên và nội dung sách giáo khoa trong dạy học nói chung và dạy học lịch

sử nói riêng

Ví dụ: khi dạy bài 31: Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) - chương

trình lịch sử 11 nâng cao, để truyền thụ cho học sinh kiến thức cơ bản về việc Mĩném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, giáo viên cần sử dụng tài liệu, kể chuyện đểkhắc hoạ cho học sinh về hậu quả của chiến tranh và giáo dục lòng căm thù chiếntranh, yêu chuộng hoà bình Cụ thể: kết quả của hai quả bom nguyên tử đã giết chết247.000 người ở Hirôsima và khoảng 200.000 người ở Nagaxaki Vì ảnh hưởngcủa phóng xạ, đến năm 1951 ở Hirôsima lại có thêm gần 100.000 người bị chết Ở

Trang 25

Hirôsima, trong công viên Hoà Bình, có một tượng đài kỉ niệm đặc biệt để tưởngnhớ những nạn nhân bị sát hại bởi bom nguên tử Trên đỉnh tượng đài cao 9m làtượng hình một cô gái đang giơ cao hai bàn tay nâng đỡ con sếu Tại sao lại có hìnhtượng này? Một cô gái Nhật, tên là Xadacô Xaxaki, khi quả bom nguyên tử rơixuống thành phố Hirôsima, cô mới hai tuổi, đã may mắn thoát nạn Nhưng mườinăm sau, vào tháng 2-1955, cô phải vào nằm viện vì bị nhiễm phóng xạ nguyên tử.

Cô tin vào một truyền thuyết Nhật Bản là nếu gấp được một nghìn con sếu bằnggiấy treo chung quanh phòng thì sẽ khỏi bệnh tật Nhưng cô chỉ gấp được 644 consếu thì đã chết Xúc động trước cái chết của cô gái, các bạn học sinh trong toànthành phố đã quyên góp tiền để xây dựng tượng đài trên Bên dưới tượng đài khắcdòng chữ “Chúng tôi mong muốn: Hãy để cho hoà bình vĩnh viễn trên thế giớinày!” Chúng ta có đồng ý với thông điệp này không?

Việc sử dụng tài liệu như trên không những giúp học sinh dễ dàng tiếp thukiến thức cơ bản, mà còn gây được xúc cảm mạnh mẽ trong các em, làm bài họcđạt hiệu quả cao

2.4 Sử dụng dạy học nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề là một nguyên tắc tổ chức dạy học, là con đường pháttriển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử Đây là biện pháp dạy học được đặc biệttrú trọng trong dạy học và dạy học lịch sử Nó góp phần hữu hiệu giúp học sinhphát triển các năng lực nhận thức, tìm tòi, nghiên cứu lịch sử một cách độc lập,sáng tạo Dạy học nêu vấn đề gồm 3 yếu tố: Trình bày nêu vấn đề; tình huống cóvấn đề; bài tập nhận thức (câu hỏi nêu vấn đề, bài tập tư duy) Vận dụng lý luận vềdạy học nêu vấn đề vào cấu trúc của bài học nêu vấn đề giúp nâng cao hiệu quả bàihọc lịch sử Cấu trúc bài học nêu vấn đề gồm 4 bước:

- Bước 1: Đặt mục đích học tập ở đầu giờ, để tạo ra tình huống có vấn đề và nêu

lên bài tập nhận thức

- Bước 2: Tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề.

- Bước 3: Kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh.

Trang 26

- Bước 4: Giao bài tập về nhà.

Ví dụ : Áp dụng dạy học nêu vấn đề vào bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối

thế kỉ XVIII, ở mục I Nước Pháp trước cách mạng

- Bước 1 Sau khi dẫn dắt học sinh vào bài mới, giáo viên nêu câu hỏi nhận thức

của mục: Để chứng minh cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII là cuộc cách mạng tưsản điển hình, trước hết chúng ta phải trả lời được câu hỏi: “Những tiền đề của cáchmạng là gì?”

- Bước 2 Để tổ chức học sinh giải quyết câu hỏi trên giáo viên cần hướng dẫn, đưa

ra những câu hỏi gợi mở:

Câu 1 Hãy đọc sách giáo khoa để nêu những nét chính về tình hình kinh tế của Pháp trước cách mạng? Sau khi học sinh nêu, giáo viên hướng dẫn các em quan sát

tranh hình 56 để thấy thực trạng nông nghiệp của Pháp Giáo viên phân tích để thấy

rõ mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu với nền kinh tế tư bản chủ

nghĩa đang phát triển Từ đó, giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi gợi mở: Câu 2 Để mở

đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhiệm vụ đặt ra cho nước Pháp là gì? Qua câu hỏi học sinh dễ dàng nhận thấy lúc này nước Pháp cần xoá bỏ quan hệ

sản xuất phong kiến lạc hậu để mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.Khi học sinh đã hiểu rõ tiền đề kinh tế, giáo viên sử dụng sơ đồ ba đẳng cấp (treo

lên bảng) và hỏi: “Quan sát sơ đồ để nhận xét về mối quan hệ giữa ba đẳng cấp

trong xã hội Pháp?” Sau khi học sinh trả lời, giáo viên phân tích sơ đồ kết hợp giải

thích rõ khái niệm “đẳng cấp”, miêu tả hình 56- Tình cảnh nông dân Pháp trướccách mạng…để học sinh thấy rõ mâu thuẫn sâu sắc giữa hai đẳng cấp trên với đẳngcấp thứ ba chính là tiền đề xã hội làm bùng nổ cách mạng Sau khi học sinh hiểuđược tiền đề kinh tế, xã hội giáo viên nêu tiền đề về tư tưởng giúp học sinh hiểu Sự

xuất hiện của trào lưu “Triết học Ánh sáng” đã dọn đường cho cách mạng Pháp

bùng nổ

- Bước 3 kết thúc mục I, giáo viên có thể đặt câu hỏi để kiểm tra hoạt động nhận

thức của học sinh luôn: “vậy những tiền đề nào làm cách mạng Pháp bùng nổ?”.

Trang 27

- Bước 4 kết thúc bài học giáo viên ra bài tập:“Phân tích những tiền đề của cách

mạng Pháp?” Bài tập này sẽ giúp học sinh tự củng cố để hiểu sâu và nhớ lâu kiến

thức đã học

Thông qua việc áp dụng dạy học nêu vấn đề như trên sẽ thu hút được sự chú ý,gây hứng thú, giúp học sinh chủ động tham gia vào bài và bồi dưỡng khả năng tựhọc cho các em

2.5 Tổ chức việc tự học cho học sinh

Nói đến phương pháp dạy học là bao gồm cả phương pháp dạy của thầy vàphương pháp học tập của học sinh Phương pháp tự học của học sinh có vai trò rấtlớn, quyết định một phần đến việc nâng cao hiệu quả dạy học Bởi vì chỉ có côngtác tự lực của học sinh mới tạo điều kiện cho việc thông hiểu kiến thức cơ bản mộtcách sâu sắc Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Chính phương pháp này(phương pháp tự học) đã khêu gợi, kích thích, đòi hỏi con người phải suy nghĩ, tìmtòi và phát huy đến mức cao nhất, moi móc trong con người mình, thậm chí trongtiềm thức của mình cái gì có thể giải quyết ược vấn đề đặt ra” Giáo viên hướngdẫn việc tự học cho học sinh là biện pháp nhằm thực hiện hệ thống phương phápdạy học với học sinh

Trong dạy học lịch sử, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tự học dướinhiều hình thức như: sử dụng sách giáo khoa trên lớp, ghi bài giảng trên lớp, hướngdẫn việc tự học ở nhà, chuẩn bị bài mới, thảo luận nhóm…

2.6 Tổ chức ôn tập và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Ôn tập kiểm tra đánh giá kết quả học tập thực chất là quá trình ôn luyện, thuthập và xử lý các thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạođức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Ôn tập kiểm tra và đánh giá giúpgiáo viên hiểu rõ về việc học tập của học sinh, đồng thời giúp giáo viên tự đánh giákết quả công tác giảng dạy của mình, thấy được những thành công và vấn đề cầngiúp kinh nghiệm để cải tiến đổi mới phương pháp giảng dạy Nó còn giúp học sinhhình thành lòng tin ý trí quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập, lòng trung thực,

Trang 28

tinh thần tập thể Ngoài ra nó còn giúp góp phần phát triển những năng lực nhậnthức của học sinh (ghi nhớ, hình dung, tưởng tưởng, phân tích, so sánh, tổnghợp ); Góp phần hình thành những thói quen kỹ năng học tập, biết vận dụngnhững kiến thức đã học để tiếp thu những kiến thức mới vào hoạt động thực tiễn.

Ví dụ : Khi học xong bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo

viên hướng dẫn học sinh tự ôn tập ở nhà bằng một số câu hỏi và hệ thống bài tậpsau:

Câu hỏi tự luận:

1 Phân tích nguyên nhân dẫn đến bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứhai Quân phiệt Nhật Bản thất bại ở châu Á - Thái Bình Dương như thế nào?

2 Thế nào là chiến tranh thế giới? Bằng những chiến thắng của Hồng quânLiên Xô trong cuộc đấu tranh chống phát xít, hãy chứng minh vai trò của Liên

Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)

3 Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc dẫn đến những thay đổi căn bản trong tìnhhình thế giới như thế nào?

ĐÁP ÁN Câu 1 Phân tích nguyên nhân dẫn đến bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới lần

thứ hai Quân phiệt Nhật Bản thất bại ở châu Á - Thái Bình Dương như thếnào?

a Nguyên nhân dẫn đến bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai

+ Nguyên nhân sâu xa: Quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc nhất

là về thị trường và thuộc địa , mâu thuẫn đế quốc ngày sâu sắc Trật tự thế giớithiết lập sau chiến tranh thế giới thứ nhất không giải quyết được các mâu thuẫn màtrái lại càng tăng thêm mâu thuẫn các nước đế quốc…

+ Nguyên nhân trực tiếp: Khủng hoảng kinh tế đưa đến chủ nghĩa phát xít ra

đời ở Đức - Italia - Nhật Bản, các nước chuẩn bị chiến tranh đòi chia lại thếgiới…Hình thành hai khối đế quốc đối lập…

Trang 29

- Thái độ dung dưỡng, thoả hiệp chủ nghĩa phát xít của Mĩ, Anh, Pháp khi các nướcphát xít có hành động gây các cuộc chiến tranh ở các khu vực đưa đến chiến tranhbùng nổ.

b Quân phiệt Nhật Bản thất bại ở châu Á - Thái Bình Dương như thế nào?

- Từ tháng 8/1942 đến tháng 1/1943, quân đội Mĩ phản công Nhật ở đảo ca-na và các đảo trên biển Thái Bình Dương, quân Nhật bị thiệt hại nặng, buộc phảirút lui Mĩ đã chuyển sang phản công và lần lượt đánh chiếm các đảo ở Thái BìnhDương

Gua-đan Tháng 10/1944, liên quân Anh Gua-đan Mĩ phản công Nhật Bản tại Miến Điện giảiphóng Miến điện

- Tháng 6/1945, Mĩ tiêu diệt 30 vạn quân Nhật phòng thủ ở Phi-líp-pin và chiếm lạinước này Cuối năm 1944, Mĩ ồ ạt ném bom xuống Nhật Bản

- Hai ngày 6/8/1945 và 9/8/1945, Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki của Nhật Bản Ngày 8/8/1945 Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với quân Nhật Bản và tấn công đạo quân Quan Đônggồm 70 vạn quân Nhật ở Mãn Châu Ngày 15/8/1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

Câu 2 Thế nào là chiến tranh thế giới? Bằng những chiến thắng của Hồng

quân Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống phát xít, hãy chứng minh vai trò củaLiên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)

a Khái niệm chiến tranh thế giới: là cuộc chiến tranh có quy mô toàn thế giới,với sự tham gia của nhiều nước, nhiều khu vực, nhiều châu lục trong thời kì đếquốc chủ nghĩa, căn bản do mâu thuẫn giữa các nước đế quốc Chiến tranh thếgiới thường mang tính chất phi nghĩa, gây những hậu quả nặng nề cho nhânloại

b Bằng những chiến thắng….chứng minh vai trò của Liên Xô…

- Trước chiến tranh: Liên Xô đã đề nghị hợp tác với phe Đồng minh thành lậpMặt trận nhân dân chống phát xít, chống chiến tranh, nhưng bị cự tuyệt…Mĩ

Trang 30

theo “chủ nghĩa biệt lập” Anh, Pháp không liên kết chặt chẽ với Liên Xô màcòn thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít để đổi lấy hoà bình.

- Trong chiến tranh:

+ Ngày 22/6/1941, khi Đức tấn công vào lãnh thổ Liên Xô, Hồng quân và nhândân Liên Xô đã phản công… làm nên chiến thắng Matxcơva Chiến thắng nàykhông chỉ bảo vệ Nga mà còn đập tan tư tưởng cho là vô địch của Đức, làmthất bại kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng…

- Chiến thắng Xtalingrát (11/1942 – 2/1943), tiêu diệt đạo quân 33 vạn tên củathống chế Paolút, là trận đánh lớn, tiêu biểu về nghệ thuật quân sự…đánh dấubước ngoặt căn bản của tiến trình chiến tranh thế giới: ưu thế chuyển từ pheTrục sang phe Đồng minh…

- Chiến thắng vang dội ở vòng cung Cuôc-xcơ ( từ 5/7- 23/8/1943), Hồng quân

đã bẻ gãy cuộc tấn công của địch và chuyển sang phản công tiêu diệt…

- Cuối năm 1944, giải phóng toàn bộ lãnh thổ Liên Xô, Hồng quân Liên Xôtiến qua Đông Âu, phối hợp giải phóng các nước Đông Âu… Từ giữa tháng4/1945 công phá Béclin …, ngày 9/5/1945, phát xít Đức kí văn kiện đầu hàngkhông điều kiện chiến tranh kết thúc ở châu Âu

- Ngày 8/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và tấn công đạo quân QuanĐông của Nhật ở Mãn châu- Trung Quốc…, 15/8/1945, Nhật Bản tuyên bố đầuhàng không điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

- Như vậy, Liên Xô giữ vai trò là lực lượng đi đầu, lực lượng chủ chốt, góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít…

Câu 3 Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc dẫn đến những thay đổi căn bản trong

tình hình thế giới như thế nào?

- Nhờ thắng lợi của Liên Xô trong chiến tranh, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa

đã ra đời ở Đông Âu và châu Á

Trang 31

- Chiến tranh đã làm thay đổi thế và lực trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa:phát xít Đức, Nhật bị tiêu diệt; Anh và Pháp suy yếu; Mĩ thêm lớn mạnh trở thànhsiêu cường quốc đứng đầu hệ thống này.

- Chiến tranh đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển, làm sụp

đổ hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc châu Âu, lập nên các quốc gia độc lậpmới ở châu Á và châu Phi

- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, một trật tự thế giới mới được thiết lập…

Bài tập trắc nghiệm: Hãy chọn đáp án đúng.

Câu 1 Mục tiêu đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của HitLe là:

A Đưa nước Đức thoát khỏi khủng hoảng B Chống Quốc tế Cộng sản

C Thành lập một nước “Đại Đức” D Chiếm đất đai của Anh, Pháp

Câu 2 Nước theo “chủ nghĩa biệt lập” là:

Câu 3 Nước thi hành chính sách nhượng bộ phát xít để đổi lấy hòa bình là:

Câu 4 Chủ trương đoàn kết các lực lượng dân chủ để chống phát xít và nguy cơ

chiến tranh là:

A Anh B Ba Lan C Tiệp khắc D Liên Xô

Câu 5 Nước đầu tiên bị HítLe sát nhập vào Đức là:

Câu 6 Sự kiện làm cho tình hình thế giới căng thẳng trước khi bùng nổ chiến tranh

là:

A Quân Đức chiếm thủ đô Viên C Hội nghị Muy Ních

B Vụ Xuy Đét D Hít Le thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc

Câu 7 Ở một trận phía tây, Đức không thực hiện được kế hoạch đổ bộ lên nước

Câu 8 Phe trục thống trị phần lớn Châu Âu từ:

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w