Để giải quyết một đềNgữ văn có liên quan đến tác phẩm truyện, ngoài kiến thức về tác phẩm họcsinh cần nắm chắc kiến thức về: tiếp nhận văn học, giai đoạn văn học, đặc trưngthể loại truyệ
Trang 1MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1
1 Lời giới thiệu 1
2 Tên sáng kiến 2
3 Tác giả sáng kiến 2
4 Chủ đầu tư: Nguyễn Thị Thơ 2
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 2
6 Ngày sáng kiến được áp dụng: 18/9/2017 3
7 Mô tả bản chất của sáng kiến 3
A.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
I Cơ sở lí luận 3
III Mô tả các giải pháp nghiên cứu: 8
B Tổ chức nghiên cứu: 9
I Hệ thống kiến thức cơ bản 9
II Các dạng đề và gợi ý lời giải 9
8 Những thông tin cần được bảo mật: 87
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 87
10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 88
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu 89
PHỤ LỤC 91
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Bộ sách giáo khoa Ngữ văn phân ban được thực hiện trên toàn quốc từnăm học 2006 - 2007 Với quan điểm tích hợp, bộ sách này được sắp xếp theotiêu chí giai đoạn, loại thể Phần truyện hiện đại Việt Nam được đưa vào giảngdạy ở học kì I lớp 11 và học kì II lớp 12
Đồng hành với việc thực thi sách giáo khoa mới, Bộ Giáo dục và Đào tạobồi dưỡng cho giáo viên Chuẩn kiến thức - kĩ năng, giới thiệu Cấu trúc đề thiTHPTQG môn Ngữ văn và hướng dẫn dạy học tích hợp, dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh kết hợp đổi mới kiểm tra đánh giá Đây làđịnh hướng cho mỗi giáo viên đứng lớp bám sát chương trình, từng bước thayđổi từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy
Để dạy học các tác phẩm truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong chươngtrình Ngữ văn 11, 12, sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức - kĩ năngcùng hàng loạt sách tham khảo khác đều hướng dẫn phương pháp dạy cho từngtruyện Có nhiều bài học trong chương trình cung cấp cho các em đặc điểm củatruyện và cách chiếm lĩnh tác phẩm tuyện như: Đọc truyện (Lớp 11 Nângcao), Phương pháp đọc truyện (Tự chọn nâng cao lớp 11); Nghị luận về một tácphẩm, một đoạn trích văn xuôi (Lớp 12) Song trên thực tế, để phân loại thísinh thi THPTQG đề Ngữ văn thường yêu cầu cao khả năng tổng hợp kiếnthức và sáng tạo nên những kiến thức đó chưa đủ giúp các em giải quyết linhhoạt những đề Ngữ văn yêu cầu cao về kiến thức, kĩ năng Để giải quyết một đềNgữ văn có liên quan đến tác phẩm truyện, ngoài kiến thức về tác phẩm họcsinh cần nắm chắc kiến thức về: tiếp nhận văn học, giai đoạn văn học, đặc trưngthể loại truyện và phong cách nghệ thuật của nhà văn Trong khi đó, các tài liệutrên chỉ có tính chất giới thiệu tản mạn, chưa tập trung vì thế cũng chưa giúphọc sinh có cái nhìn khái quát nhất để giải quyết tốt các đề văn có liên quan cácvấn đề cơ bản trên
Đây là lí do khiến tôi trăn trở và nghiên cứu đề tài “Những vấn cơ bản khi luyện thi THPT quốc gia phần truyện ngắn hiện đại Việt Nam”
Năm học 2017 – 2018, Bộ Giáo dục & Đào tạo tiếp tục đổi mới hướngtới sự hoàn thiện trong kì thi THPT Quốc gia Bám sát tình hình thực tiễn đó,
Sở Giáo dục Vĩnh Phúc đã tổ chức rất nhiều đợt tập huấn chuyên môn, các Hộithảo chuyên đề ôn thi THPT Quốc gia, thi khảo sát giáo viên, nhằm nâng caochất lượng cho đội ngũ nhà giáo.Và chỉ đạo cho các trường tiển khai thực hiệncông tác ôn thi THPT Quốc gia một cách hiệu quả
Trang 3Thực hiện nghiêm túc kế hoạch của Sở, BGH trường THPT Bến Tre đãxây dựng kế hoạch, giám sát thực hiện và luôn tạo điều kiện để các tổ chuyênmôn ứng dụng những sáng kiến kinh nghiệm, chuyên đề chuyên môn thiết thựctrong việc luyện thi THPT Quốc gia Từ đầu năm học đến nay, tổ Văn – Ngoạingữ đã phối hợp thực nghiệm giảng dạy một số chuyên đề luyện thi THPTQuốc gia như: Kĩ năng làm văn nghị luận xã, Kĩ năng làm bài Đọc - hiểu ;Những vấn đề cơ bản khi luyện thi THPT Quốc gia phần thơ Việt Nam 1945 -1975;…Chuyên đề này, chúng tôi xin được trình bày sự cần thiết của việc tíchhợp các kiến thức về đặc trưng thể loại truyện ngắn cách đọc - hiểu tác phẩmtruyện, giai đoạn văn học và phong cách nghệ thuật của nhà văn trong việc tìm
ra phương pháp phân tích, cảm thụ, khai thác các góc độ khác nhau trong phầncác tác phẩm truyện ngắn hiện đại Việt Nam lớp 11,12; gợi ý giải một số đề
cụ thể, thường gặp trong kì thi THPTQG hiện nay
Quá trình thực hiện và cải tiến chuyên đề, tổ chúng tôi nhận thấy: chuyên
đề đã góp phần không nhỏ thay đổi thực trạng dạy học môn Ngữ văn của nhàtrường Biết rằng kết quả bài thi là tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng chúng tôikhẳng định rằng: những kiến thức mà chúng tôi truyền đạt tới học sinh từchuyên đề này có vai trò không nhỏ trong việc nâng cao điểm số cũng như làmthay đổi ở các em những quan niệm chưa tích cực về môn Ngữ văn Đây chính
là lí do tôi xin mạo muội trình bày chuyên đề Những vấn đề cơ bản khi luyệnthi THPT quốc gia phần truyện hiện đại Việt Nam, với mong muốn sẽ góp thêmnhững kinh nghiệm luyện thi cho đồng nghiệp tỉnh nhà, giúp họ nâng cao hơnnữa chất lượng mỗi giờ dạy, trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết đểcác em tự tin bước vào kì thi THPTQG
2 Tên sáng kiến: "Những vấn đề cơ bản khi luyện thi THPT Quốc gia phần truyện ngắn hiện đại Việt Nam".
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thơ
- Địa chỉ: Trường THPT Bến Tre, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Trang 4- Vấn đề sáng kiến giải quyết: “Những vấn đề cơ bản khi luyện thiTHPT Quốc gia phần truyện ngắn hiện đại Việt Nam”
6 Ngày sáng kiến được áp dụng: 18/9/2017
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Nội dung sáng kiến.
A.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
I Cơ sở lí luận.
1 Khái niệm về truyện ngắn.
Là một tác phẩm văn xuôi tự sự, có khuôn khổ ngắn, ít nhân vật, ít sựkiện, nhà văn thường tập trung vào những tình huống đặc biệt để làm nên mộtlát cắt của cuộc sống, qua đó khám phá, phát hiện, giải mã cuộc sống
2 Đặc trưng của truyện ngắn.
a Truyện mang tính chất khách quan trong sự phản ánh.
- Con người, sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
- Nếu thơ in đậm dấu ấn chủ quan thì truyện in đậm dấu ấn khách quan
- Dù kể chuyện đời hay kể chuyện mình, truyện báo giờ cũng tôn trọng
sự thật Bởi trên cái nền sự thật ấy mới có thể hư cấu tạo nhân vật điển hình
b Cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật
Cốt truyện bao gồm nhân vật, sự kiện và mối quan hệ giữa các tình tiết
và sự kiện Tất cả tạo ra sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phầnkhắc họa tính cách nhân vật, số phận từng nhân vật Nhân vật được miêu tả đặttrong quan hệ với hoàn cảnh, với môi trường xung quanh Vì thế truyện không
bị hạn chế về không gian, thời gian
Trang 5khía cạnh khác nhau của tác phẩm Đối với một truyện ngắn, khi khai thác cần
chú ý những vấn đề cơ bản sau:
* Phong cách tác giả
- Phong cách là biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việcđem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ từng chưa có về cuộc đời thôngqua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhânngười sáng tạo
- Phong cách tác giả không phải qua một tác phẩm là có thể nhận thấy
ngay, vì thế phần tiểu dẫn cho một văn bản văn học trong sách giáo khoa bao
giờ cũng giới thiệu phong cách tác giả của nó Người học khi khai thác tácphẩm cần nắm được điều này để soi chiếu, đánh giá sâu nội dung, nghệ thuật,
vị trí của tác phẩm, nét độc đáo của nó so với những tác phẩm khác
* Bối cảnh truyện
- Bối cảnh truyện bao giờ cũng là yếu tố có tầm quan trọng bậc nhấttrong việc hiểu đúng tư tưởng tác phẩm
- Hiểu bối cảnh truyện, người tìm hiểu truyện dễ dàng phân tích các yếu
tố nội dung tác phẩm, tránh nhầm lẫn trước những vấn đề có nhiều cách hiểukhác nhau
- Bối cảnh truyện bao giờ cũng có yếu tố liên quan đến hoàn cảnh lịch sửcủa đất nước Hiểu được nó, ta sẽ đánh giá chính xác vai trò, vị trí, ý nghĩa củatác phẩm
* Các yếu tố nội dung tác phẩm
- Chủ đề: Vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản Ví dụ Chí Phèo –
Nam Cao: Sự mâu thuẫn giữa nông dân với cường hào
- Đề tài: Đối tượng để miêu tả, thể hiện trong tác phẩm Nói cách khác
nó là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá
và thể hiện trong văn bản Ví dụ Tắt đèn – Ngô Tất Tố: Cuộc sống bi thảm của
người dân Việt Nam trước CMT8/1945, trong những ngày sưu thuế
- Nội dung cảm hứng: Niềm hứng khởi của người nghệ sĩ trong sáng
tạo nghệ thuật, sự thôi thúc mạnh mẽ từ cả tâm hồn và trí óc khi hướng tới mộtđối tượng thẩm mỹ nào đó
- Giá trị tư tưởng: Tư tưởng là ý nghĩ và quan điểm chung của tác giả
với hiện thực khách quan Trong một tác phẩm truyện, giá trị tư tưởng bao giờcũng quy về tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân đạo
Trang 6* Các yếu tố nghệ thuật chính
Một truyện ngắn, để truyền tải tốt nội dung, người viết luôn phải quantâm đến các yếu tố nghệ thuật, nghệ thuật có sáng tạo, có độc đáo mới phát huyhết giá trị nội dung, mới làm bật lên tư tưởng tình cảm của người cầm bút.Người học bắt buộc phải nắm kĩ các yếu tố nghệ thuật của một tác phẩmtruyện Bao gồm các yếu tố chính sau:
- Nhan đề: Các nhà thơ, nhà văn khi tạo ra tác phẩm đều có ý thức cao
trong việc chọn tên gọi cho đứa con tinh thần của mình Nhan đề thường có vaitrò thâu tóm nội dung tư tưởng của tác phẩm, hơn thế nữa nhiều khi nó chính làmột yếu tố nghệ thuật làm nên thành công của tác phẩm
- Cách vào truyện (cách mở đầu)
+ Gây ấn tượng và cuốn hút người đọc đầu tiên phải là nhan đề, nhưngsau nữa phải kể đến là cách vào truyện (cách mở đầu)
+ Cách mở đầu của truyện ngắn thao túng toàn bộ định hướng phát triểncủa mạch truyện, nó chất chứa và châm ngòi cho cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.Khai mở cảm xúc, mạch truyện Một mở đầu hay phải ấn tượng, lạ, trở thànhđiểm tựa cho sự sáng tạo của nhà văn và tạo sức hấp dẫn với người đọc
- Cốt truyện: Là hệ thống sự kiện làm nòng cốt cho sự diễn biến các
mối quan hệ và sự phát triển của tính cách nhân vật trong tác phẩm
- Nhân vật: Là đối tượng được miêu tả (thường là con người) trong tác
phẩm Đây là yếu tố trung tâm, nơi người nghệ sĩ gửi gắm quan điểm, suy nghĩcủa mình về cuộc sống Qua nhân vật ta dễ dàng nhận ra phong cách, tài năngnghệ thuật của tác giả
- Tình huống truyện
+ Tình huống truyện là tình thế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong
đó sự việc diễn ra rất đậm đặc, là khoảnh khắc chứa đựng cả đời người Tìnhhuống truyện còn được hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhânvật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống Qua tình huống nhàvăn bộc lộ tâm trạng, tính cách, thân phận của nhân vật… Tình huống góp phầnthể hiện tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ một cách sâu sắc
+ Có ba loại tình huống:
Tình huống hành động: Đặt nhân vật vào tình huống đặc biệt mà chỉ cóthể giải quyết bằng hành động
Trang 7 Tình huống tâm trạng: Đặt nhân vật vào tình huống biểu lộ chủ yếu thếgới nội tâm, tạo nên cho truyện ngắn kiểu nhân vật con người tình cảm,làm nên tác phẩm truyện ngắn trữ tình giàu chất thơ.
Tình huống nhận thức: Là những sự kiện đời sống mà ở đó nhân vậtđược đẩy tới một tình thế bất ngờ, đối mặt với bài học nhận thức để làmbật lên vấn đề nhân sinh, nhận thức cần phải vỡ lẽ, giác ngộ
- Cách kết thúc truyện: Kết thúc còn gọi là mở nút Một trong những
thành phần của cốt truyện, thường tiếp theo ngay sau đỉnh điểm, đảm nhiệmchức năng thể hiện tình trạng cuối cùng của xung đột được miêu tả trong tác
phẩm Một kết thúc truyện hay là vừa làm nhiệm vụ kết luận, vừa giải quyết
vấn đề mâu thuẫn đường dây, vừa là hình ảnh cuối cùng đọng lại trong tâm tríngười đọc, vừa phải gây được ấn tượng sâu sắc Cho nên, nếu tác giả cài đượcmột ý triết lý tích cực rút ra từ nội dung câu chuyện, truyện sẽ được nâng lênbất ngờ
- Cách sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của tác phẩm
văn học Ngôn ngữ trong văn học giống như màu sắc trong hội họa, âm thanhtrong âm nhạc Trong sự lao động của nhà văn có sự lao động về ngôn ngữ,trong sự giày vò của sáng tạo nghệ thuật có sự giày vò về ngôn từ Thành côngcủa tác phẩm một phần lớn là nhờ khả năng ngôn ngữ của tác giả
b Phương pháp Đọc – hiểu tác phẩm truyện
- Chúng ta biết rằng một tác phẩm truyện là công trình nghệ thuật mà nhàvăn mất bao công sức, bao trải nghiệm để sáng tạo nên Nó thật sự có giá trịkhi mang ý nghĩa đời sống, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư tình cảm, nhận thứccủa con người Khi đọc hiểu tác phẩm truyện, chúng ta cần tiến hành theo cácbước sau đây:
+ Tìm hiểu xuất xứ: Đó là bối cảnh xã hội , hoàn cảnh sáng tác màtruyện ra đời để có cơ sở cảm nhận các tầng nghĩa của tác phẩm
+ Phân tích diễn biến của cốt truyện
+ Phân tích nhân vật
+ Giá trị của tác phẩm: về các phương diện nhận thức, giáo dục, thẩm
mĩ Tác phẩm văn học có giá trị bao giờ cũng khảng định những tư tưởng sâusắc, mới mẻ về cuộc sống qua sức mạnh tryền cảm về nghệ thuật
- Giá trị và sức sống của tác phẩm truyện phụ thuộc rất nhiều vào khảnăng cảm thụ của người tiếp nhận Chính bạn đọc sẽ tạo nên giá trị cho tácphẩm Vì thế, mỗi học sinh phải thấy được vai trò quan trọng của mình – trong
tư cách người tiếp nhận tác phẩm truyện Trong dạy học tác phẩm văn học nói
Trang 8chung cũng như tác phẩm truyện ngắn nói riêng, quá trình tiếp nhận tác phẩmtrở thành quá trình "đồng sáng tạo".
4 Cần nhìn nhận các tác phẩm truyện ngắn hiện đại được tìm hiểu trong chuyên đề trong sự gắn bó với các đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam:
a Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945:
- Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa
- Văn học hình thành hai bộ phận phân hóa thành nhiều dòng vừa đấutranh vừa bổ sung cho nhau cùng phát triển
- Văn học phát triển với nhịp độ hết sức nhanh chóng
b Văn học Việt nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến 1975
- Nền văn học vận động chủ yếu theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâusắc với vận mệnh chung của đất nước
- Nền văn học hướng về đại chúng
- Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãngmạn
c Văn học Việt Nam 1975 – hết thế kỉ XX
Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân vănsâu săc, có tính hướng nội, quan tâm nhiều hơn đến số phận của cá nhân trongnhững hoàn cảnh phức tạp, đời thường, đồng thời có nhiều đổi mới, tìm tòi vềnghệ thuật
II Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
- Gợi ý hướng dẫn giảng dạy theo thể loại từng bài của sách giáo viên
- Kinh nghiệm giảng dạy và lòng yêu nghề của giáo viên
- Học sinh phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tìm hiểu,khám phá tác giả, tác phẩm văn học
2 Khó khăn:
Trang 9- Phương pháp này khó đạt hiệu quả cao nếu học sinh không tích cực chủđộng, chuẩn bị bài trước khi lên lớp (Tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động,quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuônnhững gì giáo viên đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìmhiểu, khám phá bài học Điều này đã thủ tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của ngườihọc, biến học sinh thành những người quen suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vaymượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệcủa sách vở Người học chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ,tình cảm của cá nhân trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinh gặp rấtnhiều khó khăn).
- Năng lực đọc – hiểu của học sinh còn hạn chế, văn hóa đọc chưa tự giác
- Xu thế xã hội, tâm lí học sinh chú trọng các môn khoa học tự nhiên hơn
là các môn khoa học xã hội
- Tiếp cận và khai thác tác phẩm dựa vào đặc trưng thể loại mà kiến thức
lí luận của học sinh còn hạn chế
III Mô tả các giải pháp nghiên cứu:
- Tổ chức ôn luyện hệ thống kiến thức cơ bản cần sử dụng trong chuyên đề
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản, khám phá tác phẩm đi
từ kiến thức cơ bản đến kiến thức nâng cao
- Hệ thống hóa các mức độ kiến thức kiểm tra, hệ thống câu hỏi, đề kiểmtra (bám sát cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo) về tác phẩm truyệnngắn hiện đại Việt Nam
- Hướng dẫn giải các đề cụ thể
- Phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại: Trong giờ học chuyên đề, giáoviên cho học sinh tự giải quyết vấn đề qua thảo luận nhóm Cuối cùng, giáo viênnhận xét và kết luận Như thế, học sinh sẽ phải tư duy và chủ động trong việcchiếm lĩnh tri thức
- Phương pháp thực hành: Giáo viên cần phải cho học sinh viết bài chuyên
đề như cấu trúc đề thi THPTQG theo định kì (có báo trước) và không theo định
kì (bất chợt), chấm chữa bài và uốn nắn những chỗ còn chưa đạt trong bài viếtcủa học sinh Khuyến khích nêu gương những học sinh có bài viết tốt, khen ngợikịp thời những học sinh có biểu hiện tiến bộ từ đó thổi bùng lên ở mỗi em ngọnlửa đam mê, tình yêu văn chương
Trang 10- Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ nhận thứccủa học sinh từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợpvới tình hình thực tế.
- Giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
II Các dạng đề và gợi ý lời giải
- Thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập theohướng đánh giá năng lực học sinh ở các mức độ: thông hiểu, vận dụng thấp,vận dụng cao Cụ thể là tập trung vào đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năngđọc - hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản của học sinh
- Mỗi một văn bản truyện trong chương trình Ngữ văn lớp 11, lớp 12( theo giới hạn chương trình của bộ GD & ĐT) đều có thể có mặt trong cấu trúc
đề thi THPT Quốc gia
+ Dạng câu hỏi kiểm tra phần đọc hiểu ( 3 điểm)
+ Dạng câu hỏi kiểm tra kĩ năng viết văn bản nghị luận văn học( 5 điểm) Như vậy, mỗi một văn bản có thể rơi vào một trong hai dạng câu hỏi của
đề thi hoặc cả hai dạng
- Nắm vững kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, đặc trưng thể loại
kiến thức lí luận, thành thạo các kĩ năng: đọc - hiểu văn bản, kĩ năng làm vănnghị luận học sinh hoàn toàn có thể làm bài thi đạt kết quả tốt
1 Dạng câu hỏi đọc - hiểu ( 3 điểm ).
a Cách thức ôn tập, kiểm tra
Trang 11- Ở phần đọc hiểu về kiến thức lí thuyết chủ yếu là kiến thức tiếng Việt:
Từ ngữ, câu, văn bản (các biện pháp tu từ, ý nghĩa của từ ngữ, câu thơ,hìnhảnh; phương thức biểu đạt, các phép liên kết, thao tác lập luận, phong cáchngôn ngữ; thể thơ,… trong một đoạn văn/thơ cho sẵn)
- Để làm tốt phần Đọc - hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững cáckiến thức lí thuyết trên và xây dựng các loại câu hỏi tập trung vào một số khíacạnh sau:
+ Nhận diện thể loại/ phương thức biểu đạt/ phong cách ngôn ngữ vb ?+ Chỉ ra chi tiết/ hình ảnh/ biện pháp tu từ/ thông tin nổi bật trong văn bản.+ Chỉ ra cách thức liên kết của văn bản/ các thao tác lập luận,
+ Khái quát chủ đề/ nội dung chính/ vấn đề chính mà văn bản đề cập.+ Nêu cách hiểu về một hoặc một số câu trong văn bản
+ Hiểu được quan điểm,/ tư tưởng của tác giả
+ Nhận xét về một giá trị nội dung/ nghệ thuật của đoạn văn
+ Rút ra bài học về tư tưởng/ nhận thức
+ Rút ra thông điệp cho bản thân
b Luyện đề
Đề 1: Đọc đoạn văn và trả lời các câu hỏi sau:
“Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang
ra để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánhhồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trênnền trời”
(“Hai đứa trẻ” – Thạch Lam, SGK Ngữ văn 11, tập 1, NXB GD 2013)
a Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn
b Nội dung chủ yếu của đoạn văn là gì?
c Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ chính sử dụng trong đoạn văn
Đáp án:
a Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn là: tự sự, miêu tả
b Nội dung chính của đoạn văn là: tả khung cảnh thiên nhiên phố huyện lúcchiều tàn
Trang 12c Thủ pháp nghệ thuật: so sánh “phương tây đỏ rực như lửa cháy”; “nhữngđám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” Tác dụng nhằm làm nổi bật nét đặctrưng riêng biệt của khung cảnh thiên nhiên: cảnh rực rỡ, sinh động, …
Đề 2: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chắng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất
cả làng Vũ Đại nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “ Chắc nó chừa mình ra!” không ai lên tiếng cả Tức thật! ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất!
Đã thế hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn nhưng cũng không ai ra điều Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này?
A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết…
Gợi ý
1 Nêu xuất xứ và nội dung cơ bản của đoạn trích?
- Đây là đoạn mở đầu truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao
- Đoạn trích miêu tả cảnh Chí Phèo uống rượu say và vừa đi vừa chửigiữa sự thờ ơ của tất cả mọi người
2 Chỉ rõ những tính chất tiếng chửi của Chí Phèo? Những tiếng chửi ấy cho thấy bi kịch gì của Chí Phèo?
- Những tiếng chửi của Chí Phèo vu vơ, uất ức, hắn chửi từ trời đến đời,
từ làng Vũ Đại đến những người không chửi nhau với hắn…hắn chửi tất cả màchẳng chúng vào ai Bởi Chí Phèo không biết ai làm hắn khổ, còn cả làng VũĐại ai cũng nghĩ mình vô can trong bi kịch của Chí
- Những tiếng chửi vu vơ, phấn uất ấy cho thấy Chí mơ hồ cảm nhận bikịch đau khổ của một kẻ lạc loài, một kẻ hoàn toàn bị gạt bỏ ra bên lề cuộcsống bình dị của dân làng, hòan toàn đứng ngoài xã hội bằng phẳng, thân thiệncủa những người lương thiện Hình như dưới đáy cùng của cơn say triền miên
u tối chí vẫn thèm nghe người ta nói với mình, cũng tức là công nhận sự tồn tạicủa mình trong cộng đồng loài người, dẫu sự công nhận chỉ bằng tiếng chửi,nhưng cả làng Vũ Đại, cả xã hội lòai người kiên quyết từ bỏ, tẩy chay Chí
3 Anh/ chị có thể giải thích để trả lời giúp Chí Phèo câu hỏi:
Ai đẻ ra Chí Phèo ?
Trang 13- Người mẹ khốn khổ bất hạnh nào đó chỉ đẻ ra một hài nhi bị bỏ rơitrong lò gạch cũ; những người dân làng Vũ Đại nhân hậu đã cưu mang, nuôilớn và tạo ra một anh Chí nghèo khổ nhưng lương thiện.
- Nhà văn đã cho thấy, chính xã hội thực dân nửa phong kiến trước 1945
đã đẻ ra Chí Phèo khi hủy hoại phần thiên lương, tước đoạt vĩnh viễn quyềnlàm người của Chí Cụ thể, nhà tù thực dân cùng những thủ đoạn áp bức tànbạo của bọn cường hào, ác bá ở nông thôn Việt nam trước Cách mạng đã đẩynhững người nông dân lương thiện như Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo,…vàocon đường tha hóa lưu manh, đó chính là những kẻ đã đẻ ra Chí Phèo, đã hủyhoại nhân hình để Chí trở thành một con vật lại, hủy hoại nhân tính để Chí trởthành con quỉ dữ
Đề 3: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới.
Trong rừng ít có loài cây sinh sôi nảy nở khỏe như vây Cạnh một cây xà
nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Cũng có ít loại cây hâm ánh sáng mặt trời đến thế.nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thú ánh nắng trong rừng rọi
từ trên cao xuống từng luồng thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng Có những cây non vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt làm đôi Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã Cứ thế hai, ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…
(Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)
Gợi ý
1 Nội dung của đoạn văn trên nói về vấn đề gì? Đặt tên cho đoạn văn
- Nội dung văn bản trên nói về đặc tính của cây xà nu:
+ Là loài cây ham ánh sáng mặt trời, sinh sôi nảy nở rất nhanh và khỏe…+ Khi bị đạn đại bác bắn, cây xà nu bị chặt đứt ngâng thân, đổ ào ào nhưtrận bão, cây chết Nhưng một số cây khác vết thương chóng lành, vượt lêntrên, cạnh một cây ngã gục, có bốn, năm cây con mọc lên…
- Đặt tên cho văn bản: Sức sống mãnh liệt của cây xà nu
2 Chỉ ra các biện pháp tu từ trong đoạn văn trên và tác dụng của chúng.
Trang 14Đề 4: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi cho dưới:
Tnú không cứu được vợ con Tối đó Mai chết Còn đứa con thì đã chết
rồi.Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu được vợ mày Còn mày thì bị chúng nó bắt mày trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng Tau không nhảy ra cứu mày Tau cũng chỉ có hai bàn tay không Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác Nghe
rõ chưa, các con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tau chết rôì, bay còn sống phải nói cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!
(Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)
Gợi ý
a Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn.
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
b Câu nói “ chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” có ý nghĩa gì ?
- Câu nói của già làng Mết là câu nói được rút ra từ cuộc đời bi tráng của
Tnú và thực tế đấu tranh của đồng bào Xô man nói riêng và dân tộc tây nguyênnói chung Giặc đã dùng vũ khí để đàn áp nhân dân ta thì ta phải dùng vũ khí đểđáp trả chúng
- Thực tế, khi chưa cầm vũ khí đánh giặc, dân làng Xô Man chịu nhiềumất mát: anh Xút bị treo cổ, bà Nhan bị chặt đầu, mẹ con Mai bị giết bằng trậnmưa roi sắt, Tnú bị đốt mười đầu ngón tay…Bởi vậy con đường cầm vũ khí đểđáp trả kẻ thù là tất yếu
2 Dạng đề nghị luận văn học ( 5,0 điểm )
Để làm tốt các bài văn nghị luận văn học, học sinh cần biết vận dụngnhững kiến thức, kĩ năng đã học để tạo lập văn bản văn học theo hướng mở
Trang 15(đánh giá năng lực học sinh ) và tích hợp trong môn và liên môn, trong đề thiTHPT quốc gia hiện nay , cần tập trung vào một số khía cạnh sau:
- Kiến thức: nắm vững các kiến thức văn học phần truyện ngắn hiện đại ViệtNam( tác giả, tác phẩm, ); kiến thức về lí thuyết làm văn nghị luận văn học
- Kĩ năng: biết cách làm văn nghị luận văn học:
+ Nghị luận về một vấn đề nội dung/nghệ thuật của tác phẩm truyện
+ Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
+ Nghị luận về một (hoặc hai) ý kiến bàn về văn học ( truyện ngắn)
+ Nghị luận liên hệ, so sánh ,
2.1 Giá trị nội dung của tác phẩm.
2.1.1 Giá trị hiện thực của tác phẩm.
Đề 1: Giá trị hiện thực trong truyện ngắn "Chí Phèo"của Nam Cao và
"Hai đứa trẻ"của Thạch Lam.
- Hiện thực cuộc sống con người giai đoạn 1930 - 1945 đã được khắchọa với những nét tiêu biểu và chân thực trong hai tác phẩm của Thạch Lam vàNam Cao
2 Giá trị hiện thực trong truyện ngắn "Chí Phèo" và "Hai đứa trẻ"
a Giống nhau: Đều phản ánh hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến giai
đoạn 1930-1945
- Hiện thực của những con người nghèo khổ:
+ Chí Phèo: không có miếng ăn, không tấc đất cắm dùi
+ Hai đứa trẻ: cảnh chợ tàn với cuộc sống cơ cực của con người
- Hiện thực cuộc sống quẩn quanh không lối thoát
- Chí Phèo:
+ Bị đẩy đến bước đường cùng
+ Hình ảnh chiếc lò gạch cũ bỏ hoang (ở đầu và cuối tác phẩm)
Trang 16- Hai đứa trẻ:
+ Không gian phố huyện chiều tàn
+ Nhịp sống của con người nhàm tẻ, quẩn quanh
- Hiện thực về những con người với những phẩm chất tốt đẹp
+ Giàu tình yêu thương
+ Khát vọng sống mãnh liệt
b Khác nhau.
- Chí Phèo:
+ Xã hội nông thôn nổi bật lên với mâu thuẫn giai cấp
+ Con người bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa
- Hiện thực phản ánh sinh động, chân thực, mang tính khái quát
- Nghệ thuật khắc họa nhân vật: mang đặc điểm nhân vật của chủ nghĩahiện thực và nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn
Đề 2: Giá trị hiện thực của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.
+ Do hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ nên giá trị hiện thực cũngbiểu hiện vô cùng phong phú Để tìm hiểu giá trị hiện thực cần trả lời các câu
Trang 17hỏi: Hiện thực đó ở xã hội nào? Ở đâu? Được phản ánh thế nào? Hiện thực vềnhững con người nào? Được phản ánh ra sao?
- Về tác giả Tô Hoài: Là một trong những cây đại thụ của văn xuôi hiệnđại Việt Nam, là người mở đường cho văn học viết về đề tài miền núi Đâycũng là sở trường của nhà văn
- Về tác phẩm: Là kết quả của chuyến đi thực tế lên vùng núi Tây Bắccủa nhà văn, ghi lại hiện thực cuộc sống của người dân Tây Bắc thời kì thựcdân phong kiến (Tóm tắt sơ qua tác phẩm)
2 Giá trị hiện thực trong truyện ngắn Vợ chồng APhủ.
- “Vợ chồng A Phủ” là bức tranh chân thực về hiện thực cuộc sống, xãhội phong kiến miền núi:
+ Mâu thuẫn giữa nông dân và giai cấp thống trị, trong đó người nôngdân bị áp bức bóc lột nặng nề, bọn thống trị tàn ác có quyền có tiền do bóc lột:cho vay nặng lãi, phạt vạ, bắt đánh trói người vô lối, coi con người không bằngcon vật…
+ Hiện thực về miền quê Hồng Ngài ở vùng núi cao Tây Bắc:
+ Phong cảnh thiên nhiên: mùa xuân, đêm đông
+ Phong tục: đón Tết, tiền cưới cheo, chơi xuân, tìm bạn tình, cúng trìnhma…
- “Vợ chồng A Phủ” phản ánh chân thực cuộc sống của người nông dânmiền núi trước Cách mạng tháng Tám:
+ Cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề, thân phận trâu ngựa … + Phẩm chất tốt đẹp: Giàu lòng tự trọng, khát vọng sống mãnh liệt…
3 Đánh giá chung.
- Tác phẩm giúp ta hiểu rõ hơn về xã hội miền núi Việt Nam trước Cáchmạng, góp phần làm phong phú hơn bức tranh hiện thực của xã hội Việt Namđương thời, là thành công của nhà văn về một đề tài mới
- Bài học cho người sáng tạo và tiếp nhận
Đề 3: Phân tích gái trị hiện thực trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.
Gợi ý
1 Vài nét về tác giả, tác phẩm
Trang 18- Kim Lân là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn Thế giới nghệthuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân.
- Vợ nhặt (in trong tập Con chó xấu xí) là tác phẩm đặc sắc viết về nạnđói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945), được coi là một trong những tác phẩmthành công nhất của Kim Lân Bên cạnh giá trị nhân đạo sâu sắc, Vợ nhặt còngiàu giá trị hiện thực
2 Phân tích gái trị hiện thực trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.
- Giá trị hiện thực là một tiêu chí để đánh giá thành công của tác phẩm
Là nhà văn của nông thôn, Kim Lân rất hiểu người nông dân, lại là người trongcuộc của nạn đói nên ông dựng lên trong Vợ nhặt một bức tranh hiện thực, côđúc mà dầy đủ, khái quát mà cụ thể, khắc thành ấn tượng rõ nét
- Bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945:
+ Cảnh người đói từ Nam Định, Thái Bình bồng bế, dắt díu nhau đi kiếmsống khi nạn đói tràn đến Tất cả đều xanh xám như những bóng ma nằm ngổnngang khắp lều chợ
+ Cái đói tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào từng gia đình, bủa vây, đe dọa sốphận từng con người, những âm thanh, mùi vị, màu sắc gợi lên sự ảm đạm, thêlương của một cuộc sống đang cận kề cái chết Bức tranh xóm ngụ cư là hìnhảnh thu nhỏ của hàng vạn xóm làng Việt Nam từ Bắc Kỳ đến Quảng Trị năm1945
- Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói:+ Xóm ngụ cư: những khuân mặt hốc hác, u tối trong cuộc sống đói khát(lũ trẻ con ngồi ủ rũ không buồn nhúc nhích )
+ Số phận của Tràng: Nghèo hèn, lại là dân ngụ cư, làm thuê nuôi sốnggia đình Lấy vợ trong lúc mình chưa nuôi nổi mình Đêm tân hôn của anh đầytiếng khóc hờ và mùi hắc của đống rấm khét lẹt
+ Số phận của người vợ nhặt: Là người nhưng đến cái tên riêng cũngkhông có nữa Thân hình tiều tụy Vì cái đói mà quên cả nhân phẩm, chỉ nghĩđến cái ăn, sao cho khỏi chết
- Có một hiện thực tuy chưa rõ netrs nhưng hiện ra ở cuối truyện, trong ýnghĩ của Tràng: cảnh những người đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằngtrước có lá cờ đỏ to lắm Đây là hiện thực nhưng cũng là niềm mơ ước củanhững người như Tràng
3 Đánh giá chung:
Trang 19- Nạn đói khủng khiếp, số phận bi thảm của những người đói và lá cờcách mạng là những mặt chủ yếu của hiện thực lúc bấy giờ được Kim Lân phảnánh bằng những nét bản chất đã làm nên giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm.
Nó như một chứng tích văn học về một dự kiện lịch sử không thể nào quên
- Gía trị hiện thực ấy có sức tố cáo bọn thực dân phát xít Cùng với giá trịnhân đạo, giá trị hiện thực làm nên sức sống cho tác phẩm
2.1.2 Giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Đề 1: Phân tích giá trị nhân đạo của Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) qua cuộc đời của Mị và A Phủ
Gợi ý
1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
2 Khái quát chung về giá trị nhân đạo.
3 Phân tích những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm
a Xót thương sâu sắc cho số phận trâu ngựa của người dân miền núi Tây Bắc:
- Cô Mị xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói “Khổ từ trongtrứng” Bố mẹ nghèo , cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thống lí Nợchưa trả hết, người mẹ đã qua đời Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mị,Thống lí Pá Tra muốn Mị làm con dâu “gạt nợ” Mà quan trên đã muốn, kẻdưới làm sao thoát được! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, chocướp Mị về Thế là không có cưới hỏi, không cần tình yêu mà vẫn hoàn toànhợp lẽ Cô Mị, tiếng là con dâu nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người takhông phải là mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ Mị ở nhà chồng như ởgiữa địa ngục Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có nhữngông chủ độc ác, thô bạo và những nô lệ âm thầm, tăm tối Dần dần rồi Mị cũngquên luôn mình là con người nữa Suốt ngày “Mị lầm lũi như con rùa nuôitrong xó cửa”, lúc nào cũng cúi mặt, thế giới của Mị thu hẹp trong một cái ôcửa sổ” mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” Kết quả của hoàncảnh sống thật chua xót: “Ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”, cô nhẫn nhục, camchịu đến thành tê liệt ý thức: “Là con trâu, con ngựa phải đổi từ cái tàu ngựanhà này sang tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết làm màthôi” Ai có thể ngờ cô gái trẻ trung, yêu đời ngày nào thổi sáo hồi hộp chờ đợingười yêu, đã từng hái lá ngón định ăn để khỏi chịu nhục, giờ đây lại chai lì, u
mê đến thế Quả thật hoàn cảnh quyết định tính cách Nguyên tắc biện chứngcủa chủ nghĩa hiện thực đã được nhà văn tuân thủ nghiêm ngặt Sự yếu đuốicủa kẻ nô lệ, sự vùi dập tàn bạo của bọn bốc lột tất sẽ dẫn đến cảnh ngộ bi đát
Trang 20ấy Nỗi khổ nhục của cô gái Mèo này thật đã có thể so sánh với nỗi nhục củaChí Phèo khi “Đánh mất cả nhân tính lẫn nhân hình” (Thật ra, Chí Phèo còn cólúc nghênh ngang, còn dọa nạt được người khác)
b Bản cáo trạng đanh thép lên án tội ác của bọn quan lại niềm núi dưới chế độ cũ:
- Vợ chồng A Phủ quả là bản cáo trạng hùng hồn về nỗi thống khổ củangười phụ nữ miền núi, vừa chịu gánh nặng của chế độ phong kiến, vừa bị tróichặt trong xiềng xích của thần quyền Tâm lý nơm nớp sợ “Con ma nhà ThốngLý” đã nhận mặt mình từ buổi bị bắt về”Cúng trình ma” là một ám ảnh ghêgớm đè nặng suốt cuộc đời Mị (ngay cả đến khi cô đã trốn thoát khỏi HồngNgài) Xem thế đủ thấy bọn thống trị cao tay đến nhường nào trong nghệ thuật
“ ngu dân” để dễ trị
- Có thể nói, nhà văn đã không hà tiện cung cấp cho người đọc những chitiết có giá trị bóc trần bản chất xã hội vô nhân đạo, ở đó thân phận người dânnghèo mới mong manh bất ổn làm sao! Ta sững sờ trước cảnh cô Mị lặng lẽngồi lơ lững trong những đêm đông buốt giá, thằng chồng thì đi chơi về khuyangứa tay đánh Mị ngã dúi xuống đất Lại còn có cái hình ảnh nhức nhối phũphàng: người con gái bị trói đứng vào cột trong buồng tối, bị trói chỉ vì muốn đichơi tết như bạn bè Sự bất lực của Mị tràn theo dòng nước mắt chua chát trên
má môi mà không có cách gì lau đi được
- Những chi tiết như vậy làm cho bức tranh hiện thực nới rộng thêm dunglượng và linh động thêm Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ tạo thêm tìnhhuống để hoàn chỉnh bức tranh đó Cuộc đời nô lệ của A Phủ thật ra là sự lặp lạivới ít nhiều biến thái chính cuộc đời Mị Lý do mà Thống Lí Pá Tra buộc A Phủphải thành người ở công không, không phải vì cuộc ấu đả thường tình của đámtrai làng Vấn đề là ở chỗ pháp luật trong tay ai? Khi kẻ phát đơn kiện cũngđồng thời là kẻ ngồi ghế quan toà thì còn nói gì tới công lý nữa! Vậy nên mới
có cảnh xử kiện quái gỡ nhất trên đời mà chúng ta được chứng kiến tại nhàThống Lí Kết quả là người con trai khỏe mạnh phóng khoáng vì lẽ công bằng
mà phải đem cuộc đời mình trả nợ nhà quan Cảnh ngộ của hai nhân vật Mị và
A Phủ ít nhiều gợi đến những Chí Phèo, chị Dậu, những chú AQ và những thímTường Lâm… Đó là những hình tượng nghệ thuật được cô đúc từ chính cuộcđời đau khổ trong xã hội cũ
c Sự phát hiện, khảng định sức sống tiềm tàng trong tâm hồn người dân miền núi bị áp bức.
- Tô Hoài trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tấtyếu mà các nhân vật của ông đi tới Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ
Trang 21chồng chất mà bọn thống trị gây ra tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sựchống trả và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến được thắng lợi Lấyviệc miêu tả tâm lí làm điểm tựa vững chắc, Tô Hoài đã tìm ra được sự pháttriển logic của tính cách Tô Hoài đã chỉ ra sự hợp lí của quá trình tha hóa nhâncách của cô Mị thời kì đầu Mị làm việc nhiều quá, bị đày đọa khổ ải quá, mãirồi Mị phải “quen”, phải cam chịu Lúc trước Mị không được quyền tự tử vì sợliên luỵ với bố; giờ bố chết, nhưng Mị không còn muốn tự tử nữa Mị như mộtcái máy, không có ý thức, không cảm xúc ước ao ? Kỳ diệu thay và cũng đơngiản thay Là tiếng sáo Mị tình cờ nghe được giữa một ngày mùa xuân đầyhương sắc Tất cả chợt sống dậy, Mị thấy lòng “thiết tha bồi hồi”và lập tức nhớlại cả quãng đời thiếu niên tươi đẹp Nó thức dậy trong sâu thẳm trong lòng côkhát vọng tình yêu thương và hạnh phúc
- Như vậy tiếng sáo lại động chính cái sức mạnh bền vững, bất diệt nhấtcủa tuổi trẻ, Mị nhớ lại rành rõ “mình vẫn còn trẻ lắm”, rằng “bao nhiêu người
có chồng vẫn đi chơi xuân” Và bên tai Mị cứ “lững lờ” Tiếng sáo sự bừng tỉnh
từ sâu xa trong tâm hồn ấy biểu hiện bên ngoài bằng hành động mới nhìn rất lạ:
“Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy”
Có ngọn lửa nào đang cần phải khơi lên hay cần phải dập tắt đi bằng hơi menvậy? Chỉ biết rằng cô gái đã quyết thay váy áo đi chơi, điều mà bao năm rồi côkhông nhớ đến Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lí nhưng là kết quảhợp lí toàn bộ quá trình tác động qua lại giữa hoàn cảnh với tính cách nhân vật
Sự “vượt rào” của Mị tuy bị đàn áp ngay (A Sử đã tắt đèn, trói đứng cô vàocột); nhưng ý thức về quyền sống, khát vọng về hạnh phúc đã trở lại Mị lại biếtkhóc, lại muốn tự tử
- Và những giọt nước mắt trong cái ngày tàn nhẫn này sẽ lưu giữ tronglòng Mị như một vết bỏng rát để đến khi bắt gặp những dòng nước mắt chảy
“lấp lánh” trên gò má hốc hác của A Phủ, nó đã biến thành sự đồng cảm sâu sắcgiữa những người cùng khổ Toàn bộ ý thức phản kháng của Mị hiện hình quamột câu hỏi sáng rõ: “người kia việc gì phải chết?” Mị quyết định trong khoảnhkhắc: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ Và tất nhiên, Mị cũng bỏ trốn, tự giảithoát chính mình Hai kẻ trốn chạy chịu ơn nhau, cảm thông nhau, dựa vàonhau để tạo lập hạnh phúc
- Bằng sự am hiểu cuộc sống và khả năng phân tích những vấn đề sắcbén, nhất là bằng ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, Tô Hoài đã tái hiện chân thật
và sinh động cuộc hành trình từ đau khổ, tối tăm ra phía ánh sáng cách mạngcủa những người dân lao động với chế độ cũ Tác phẩm đem lại cho bạn đọcnhận thức đúng đắn về con đường cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta Cùngmột số phận, một cảnh ngộ, những diễn biến tâm lí của Mị rất khác A Phủ A
Trang 22Phủ mạnh mẽ, bộc trực, dứt khoát Mị dường như chính chắn hơn nhưng lại yếuđuối hơn
- “Vợ chồng A Phủ” đã để lộ cái nhìn nhân đạo, ưu ái của Tô Hoài Khi
cô đúc nỗi cùng khốn vào hai thân phận nô lệ với ý thức làm một bản cáo trạng
về xã hội cũ, Tô Hoài đã gợi lên trong chúng ta sự căm phẫn, sự đau xót, sựcảm thông khi miêu tả buổi lễ ăn thề giữa A Châu và A Phủ như là cuộc nhânduyên giữa quần chúng và cách mạng, ông đem lại niềm tin về một tương laisáng sủa cho những người bị áp bức
- Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của lòng côvẫn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khao khát thương yêu Nếu nhàvăn chỉ tuân theo một thứ hiện thực khách quan, lạnh lùng thì làm sao ông cóthể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thếcủa cô gái Không trước sau ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghệt đếnmấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn tòan nhân tính Mị đã sống lại bằng tuổi trẻ,bằng nỗi day dứt về thân phận của mình Chính cái khát vọng sống mãnh liệtkhông thể chết được ở Mị, làm cho Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và điđến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi cái chốn địangục để làm lại cuộc đời, để sống như một con người
3 Đánh giá chung
Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mị và A Phủ Cái nhìncủa ông về hai nhân vật này là một cái nhìn nhân đạo tích cực Ông cảm thôngnỗi đau của Mị và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức nhân phẩm, khát vọnggiải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đaukhổ này Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị của tác phẩm
Đề 2: Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Gợi ý
1 Giới thiệu chung.
- Về giá trị nhân đạo: là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn họcchân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của conngười; sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòngtin vào khả năng vươn dậy của nó
- Về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn hay nhất của
Kim Lân và của văn học Việt Nam sau 1945 Truyện được in trong tập “Conchó xấu xí” (1962) Tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.Thông qua tình huống truyện độc đáo, tác giả cho ta thấy cuộc sống tối tăm
Trang 23cũng như khát vọng sống mãnh liệt, ý thức về nhân phẩm rất cao của nhữngngười lao động trong nạn đói năm 1945.
2 Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt”của Kim Lân
- Tác phẩm bộc lộ niềm xót xa, thương cảm với cuộc sống bi đát củangười dân nghèo trong nạn đói Qua đó tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân,phát xít đối với nhân dân ta (phân tích dẫn chứng để chứng minh)
+ Tác phẩm đi sâu khám phá và nâng niu trân trọng khát vọng hạnhphúc, khát vọng sống của con người:
+ Những khao khát hạnh phúc ở Tràng: cái tặc lưỡi có phần liều lĩnh,cảm giác mới mẻ “mơn man khắp da thịt”, êm ái lửng lơ sau đêm tân hôn…
+ Ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật vợ nhặt: chấp nhậntheo không Tràng, bỏ qua ý thức về danh dự
+ Ý thức vun đắp cuộc sống của các nhân vật: mẹ chồng nàng dâu quétdọn nhà cửa, bà cụ Tứ bàn về việc đan phên, nuôi gà…
+ Niềm hi vọng đổi đời của các nhân vật: hình ảnh lá cờ và đoàn ngườiđói đi phá kho thóc của Nhật…
- Tác phẩm thể hiện lòng tin sâu sắc vào phẩm giá, lòng nhân hậu củacon người:
+ Tràng: Sự thông cảm, lòng thương người, sự hào phóng, chu đáo, tìnhnghĩa, thái độ, trách nhiệm
+ Sự biến đổi của người vợ nhặt sau khi theo Tràng về nhà: Vẻ chao chát,chỏng lỏn, đanh đá đã biến mất Thay vào đó là sự hiền hậu, đúng mực, ý tứ,đảm đang, hiếu thảo
+ Tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ: Thương con, cảm thông với tìnhcảnh của nàng dâu, trăn trở về bổn phận làm mẹ, cố tạo niềm vui trong gia đìnhgiữa cảnh sống thê thảm
Trang 241 Giới thiệu chung.
- Về giá trị nhân đạo:
- Về tác phẩm:
+ Chiếc thuyền ngoài xa là sang tác tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu
thời kì đổi mới sau năm 1975 Truyện ngắn này cũng tiêu biểu cho hướng tiếpcận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sang tác thứ hai
+ Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa chứa nội dung nhân đạo và triết lý
- Nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng nghèo cực, tối tăm của con người(cảnh đói nghèo, cơ cực, tình trạng bất ổn, bất trắc trong cuộc sống … lànguyên nhân sâu xa của sự bạo hành và sự nhịn nhục, chịu đựng)
- Niềm trặn trở trước cuộc sống của thế hệ tương lại (qua cách nhìn củanhà văn với cậu bé Phác)
- Khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của con người, niềm tin vào con người+ Ca ngợi tình mẫu tử (những đau khổ, tủi nhục đến cùng cực, nhữngniềm vui nhỏ nhoi tội nghiệp của người mẹ đều xuất phát từ đứa con
+ Trong hoàn cảnh đói nghèo, tăm tối vẫn ngời lên vẻ đẹp của tình yêuthương, của đức hi sinh thầm lặng
- Ngoài ra, có thể trình bày tư tưởng nhân đạo mang màu sắc triết lí củatác phẩm: Con người muốn thoát khỏi tăm tối, man rợ cần đến những giải phápthiết thực, chứ không phải chỉ là thiệ chí hoặc các lý thuyết đẹp đẽ nhưng xa rờithực tiễn; cần rút ngắn khoảng cách vữa văn chương và hiện thực đời sống
3 Đánh giá chung
- Khẳng định tác phẩm có giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc
- Qua đó, thấy được những đóng góp mới mẻ của nhà văn (những đổimới của văn học sau 1975) trong cách nhìn hiện thực, cuộc sống, con người vànghệ thuật
- Bài học cho người nghệ sĩ
Trang 25Giữa cuộc đời cũng như trong nghệ thuật, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ có
lí tưởng thẩm mĩ và phong cách độc đáo Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà vănNguyễn Minh Châu đã từng nói : Nguyễn là “một định nghĩa về người nghệ sĩ”
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với “Vang bóng một thời”
– tập truyện được xuất bản năm 1940, viết về những vẻ đẹp của “một thời” đã
qua nay chỉ còn “vang bóng” Trong tập truyện này, Chữ người tử tù được xem
là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, kết tinh phong cách sáng tác và tàinăng nghệ thuật của nhà văn Trong thiên truyện “gần đạt đến sự toàn thiện, toànmĩ” này, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao,với sự kết hợp nhuần nhuyễn của tài hoa, khí phách và thiên lương
2 Thân bài:
a Nguyên mẫu của hình tượng nhân vật Huấn Cao
Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyênmẫu là Cao Bá Quát (1808-1855) Trong lịch sử nước ta, Cao Bá Quát không chỉnổi danh là “văn hay chữ tốt” như đương thời truyền tụng “Thần Siêu, thánhQuát”mà còn nổi tiếng là người cương trực, quý trọng tài năng, có bản lĩnh, sống
có lý tưởng và dám đương đầu với cường quyền
Tuy nhiên, Cao Bá Quát chỉ là một điểm tựa, một “chất liệu văn học” đểNguyễn Tuân xây dựng nên nhân vật của mình Phần hư cấu, sáng tạo của nhàvăn vẫn là chủ yếu bởi Huấn Cao đã xuất hiện trong tác phẩm theo đúng lýtưởng thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật của tác giả
b Huấn Cao trước hết là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp, người kết tinh vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc và tấm lòng yêu nước mang màu sắc riêng của nhà văn
Trong truyện Chữ người tử tù, Huấn Cao nổi lên là một nghệ sĩ tài hoa
hiếm có trong nghệ thuật thư pháp
- Ngay từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, thông qua một đối thoại ngắn giữaquản ngục và thầy thơ lại, nhà văn đã “gieo” trên trang văn một lời giới thiệu
không thể thuyết phục hơn về tài năng của con người này Đó là “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” Đây không
Trang 26phải là lời ngợi khen của một người mà là lời của người dân cả một tỉnh, tức làtài năng của ông Huấn từ lâu đã được công chúng rộng rãi thừa nhận
- Tuy nhiên, với riêng ngục quan, tên tuổi và tài nghệ của “người đứngđầu bọn phản nghịch” ấy còn nhiều hơn thế Không biết từ nguồn nào và từ bao
giờ, viên quan coi ngục này đã biết “cái tài viết chữ tốt” của Huấn Cao: “Chữ của ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm” Và cũng đã từ rất lâu rồi, nhưng chưa bao giờ có dịp được nói ra, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết… Có được chữ của ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”
- Về phía chủ quan, mong muốn ấy của quản ngục xuất phát từ thú chơichữ của ông ta Nhưng về phía khách quan, chữ của Huấn Cao phải đẹp lắm,
quý lắm, phải là “báu vật” hiếm có trên đời mới có thể khiến viên quan coi ngục lần đầu tiên có cái nhìn “hiền lành” và tỏ rõ thái độ “kiêng nể” với sáu người tù
mà thực chất chỉ là Huấn Cao Đặc biệt, quản ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn
– điều mà cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành động phạm pháp, thậmchí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm Với tội danh này, nặng thì bị xử tửgiống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia bại sản Điều
ấy, một người đại diện cho pháp luật như quản ngục không thể không hiểu.Nhưng cái gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sựnghiệp, thậm chí cả tính mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điềucốt lõi, ấy là chữ của Huấn Cao – một “vật báu trên đời” và vì thế với nhữngngười có thú chơi chữ như quản ngục thì được treo chữ của ông Huấn là mộttrong những sự mãn nguyện lớn nhất trong cuộc đời
=> Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân đã thành công khi miêu tả tài viết chữ của
Huấn Cao Cái giỏi của nhà văn là không có một từ nào miêu tả cụ thể về nhữngchữ mà Huấn Cao đã viết, kể cả ở cảnh cho chữ cuối cùng, thế mà ấn tượng vềtài năng của Huấn Cao, về người tử tù có phẩm chất nghệ sĩ, có tài nghệ hơnngười vẫn đậm sâu trong lòng bạn đọc Giống như thủ pháp “vẽ mây nảy trăng”thường thấy trong thơ, phương thức miêu tả gián tiếp của nhà văn đã có đượchiệu quả nghệ thuật rõ nét trong trường hợp này
- Với những gì đã viết về Huấn Cao, nhất là qua thái độ, lời nói của nhânvật quản ngục, thơ lại, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm thái độ say mê, cảmphục của mình đối với những người như ông Huấn Đó là người “kết tinh” và tỏasáng một trong những vẻ đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc Vẻ đẹp ấy, ở thờiđại Nguyễn Tuân, lại đang có nguy cơ mai một, rất dễ thuộc về “một thời” đã quanay chỉ còn “vang bóng” Do đó, sáng tạo hình tượng Huấn Cao có thể xem làmột phương thức nghệ thuật đắc dụng để nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêumến, trân trọng của mình đối với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất nước
Trang 27Đây chính là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước mang nét đặc trưng riêng của nhàvăn Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh – chuyêngia nghiên cứu về Nguyễn Tuân đã từng đánh giá khái quát : “Nguyễn Tuân làmột trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của ông cómàu sắc riêng : gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc”.
c Huấn Cao còn là người nghệ sĩ có cái “thiên lương” trong sáng, có cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa
- Trong cuộc sống và nhất là trong nghệ thuật, tài năng không phải là thứ
mà tạo hóa hay xã hội muốn có hoặc có thể ban phát cho tất thảy mọi người.Người có tài năng, năng khiếu nghệ thuật vốn đã không nhiều trong cuộc sốngthì người vừa có tài vừa có tâm lại càng hiếm nữa Mấy trăm năm trước, thi hào
Nguyễn Du đã viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Chính cái “tâm” sẽ làm cho cái tài được cất cánh cao hơn nữa, tỏa sáng hơn nữa Trong Chữ người tử tù,
Huấn Cao đâu chỉ có tài viết chữ mà còn có đạo đức và văn hóa của một ngườinghệ sĩ thư pháp, một nhân cách cao thượng trong đời sống
- Đạo đức của Huấn Cao thể hiện trước tiên ở lòng tự trọng, ở chỗ biết
giữ lấy cái tài, biết trân trọng tài năng đích thực của mình và biết dùng nó đúng
lúc đúng chỗ Con người ấy “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” Cả đời Huấn Cao cho đến trước khi cho chữ viên quản ngục mới chỉ “viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường” cho “ba người bạn thân” Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Huấn Cao cũng giữ trọn “thiên
lương” của mình Khi chưa hiểu con người của quản ngục, Huấn Cao không hề
tỏ ra sợ hãi, càng không vì cái “uy vũ” đó để phải quỳ xuống viết chữ Ông cũngkhông tỏ ra mềm lòng, thỏa hiệp, nhún mình viết câu đối trước sự “biệt đãi” củangục quan Ngay cả khi đã hiểu rõ con người của quản ngục và đã cho chữ viên
quan này thì điều mà Huấn Cao khuyên bảo, mong muốn ở ngục quan là “giữ thiên lương cho lành vững”, đừng để “nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”.
Đó đích thực là một tâm hồn trong sáng, cao đẹp, một biểu tượng của “thiênlương” lành vững mà thời đại nào cũng cần
- Cái tâm của Huấn Cao không chỉ hiện ra ở đạo đức của người nghệ sĩ
mà còn bộc lộ ở cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa
- Đọc tác phẩm, ai cũng thấy Huấn Cao đã phản ứng dữ dội như thế nàotrước hành động muốn “biệt đãi” ông của quản ngục Nhưng đấy là khi ông chưathực sự hiểu được bản chất của con người này
- Đến khi đã hiểu được con người bên trong của ngục quan, khi đã “cảm” được “cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quan coi ngục thì Huấn Cao đã
nhanh chóng bỏ qua những nghi kị trước đó, vui vẻ tự nguyện cho chữ Lời của
Trang 28Huấn Cao: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” đã bộc lộ lẽ
sống của ông : sống là phải xứng đáng với những tấm lòng tri kỉ, phụ tấm lòngcao đẹp của người khác là không thể tha thứ Rõ ràng, đối với những người biếtquý trọng cái tài, cái đẹp trên đời, Huấn Cao đâu có nề hà, đã không biết thì thôichứ biết thì nhất định không “phụ tấm lòng trong thiên hạ” Đấy chính là lẽ sốngcao đẹp, là cách xử thể tràn đầy tinh thần văn hóa ở Huấn Cao, cũng là bài học
về đạo lý, lẽ sống cho mỗi người trên đời Xem ra, chuyện xin chữ - cho chữ ởđây không còn là thú chơi nữa mà là chuyện của lẽ sống và đạo đức của conngười trong cuộc sống
d Huấn Cao là người anh hùng dũng liệt, có bản lĩnh, lý tưởng, có khí phách hiên ngang, bất khuất
- Không giống như nhiều nhân vật tài hoa, tài tử khác trong Vang bóng một thời, Huấn Cao có hai con người trong một con người : con người tài hoa
nghệ sĩ với cái tâm trong sáng và con nguời anh hùng dũng liệt, có khí pháchhiên ngang Đấy là một người dám chống lại triều đình mục ruỗng mà ông cămghét Thái độ này không thay đổi kể cả khi ông nhận được thông báo sẽ bị giảivào Kinh để chịu án tử hình Là kẻ chiến bại nhưng Huấn Cao không hề đánhmất khí phách của mình
- Ngay từ đầu tác phẩm, điều đó đã được thể hiện qua hành động “rỗ
gông” Huấn Cao đã bất chấp lời doạ dẫm của tên lính áp giải, “lạnh lùng chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái” Cũng chính con người ấy đã “thản nhiên nhận rượu thịt” coi như “việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”, thậm chí còn “cố ý làm ra khinh bạc đến điều” đối với viên quản ngục mà không hề sợ “một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục” Ngay cả khi được
tin “ngày mai, tinh mơ” sẽ “về kinh chịu án tử hình”, Huấn Cao cũng chỉ “lặngnghĩ một lát rồi mỉm cười” Rõ ràng, Huấn Cao có phong độ của một trang anhhùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang của kẻ “chọc trời quấy nước” trên đầu
“chẳng còn biết có ai nữa” (như chính quản ngục đã phải thừa nhận), có cái khíkhái của đấng nam nhi coi cái chết “nhẹ tựa hồng mao”
e Hình tượng Huấn Cao tỏa sáng trong cảnh cho chữ
- Huấn Cao đúng là một nhân vật đặc biệt của Nguyễn Tuân Ở con người
này có sự hội tụ của ba phẩm chất, cũng là ba vẻ đẹp đáng trân trọng của conngười : “tài” – “tâm” – “dũng” Ba vẻ đẹp ấy hòa quyện với nhau và tỏa sángrực rỡ trong cái đêm Huấn Cao cho chữ quản ngục
- Điểm hội tụ của tài năng nghệ sĩ và khí phách nghĩa sĩ của Huấn Cao
trước hết là ở tư thế Tuy “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng Huấn Cao
Trang 29vẫn có cái tư thế của một người nghệ sĩ thư pháp Con người ấy đang dồn tinh
lực để viết nên những “dòng chữ cuối cùng” cho đời – những dòng chữ “nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người” Tương phản với hình ảnh
Huấn Cao là hình ảnh của ngục quan và thơ lại - những kẻ đại diện cho uyquyền, pháp luật đương thời, nắm trong tay quyền sinh, quyền sát nhưng lạiđang “khúm núm”, “run run” trước từng nét chữ của Huấn Cao Chính sự tươngphản này đã gián tiếp khắc họa cái hiên ngang, khí phách của người tử tù Đồngthời cho thấy trong khoảnh khắc này, tại chính gian nhà ngục này không phải cái
ác, cái xấu đang làm chủ mà chính là cái đẹp, cái tài của người nghệ sĩ đang tỏasáng, hùng tâm, tráng chí của người anh hùng đang được tôn vinh
=> Như mọi dòng sông đều chảy về biển, ở Huấn Cao, nơi hội lưu của thiên
lương trong sáng và nhân cách con người viết hoa – CON NGƯỜI dừng lại ở một
lời khuyên chí tình dành cho quản ngục : “Ở đây lẫn lộn Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê
mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ.
Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi” Lời khuyên này giống như một di huấn – di huấn của người nghệ
sĩ truyền lại cho đời và hậu thế : muốn chơi chữ thì trước hết phải giữ lấy “thiênlương” Chữ nghĩa và “thiên lương” không thể chung sống với cái ác, cái xấu,đừng để những cái cao quý ấy bị hoen ố, bị mất đi ở chốn ngục tù đen tối tàn bạo
là chỗ nhà văn gửi gắm lí tưởng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật của mình
- Đọc truyện Chữ người tử tù, có thể thấy Nguyễn Tuân đã sử dụng bút
pháp lãng mạn, lí tưởng hóa để miêu tả hình tượng Huấn Cao Đó là người có vẻđẹp toàn diện : vẻ đẹp của tài năng – vẻ đẹp của tâm hồn – vẻ đẹp của khíphách Vẻ đẹp ấy hiện lên lồng lộng trên nền tăm tối của ngục tù và trong sựkính nể, tôn vinh của những kẻ đại diện cho luật pháp đương thời Hình ảnhHuấn Cao gắn liền với cái đẹp, với ánh sáng và cái thiện Những cái đó cũng bậtnổi trong ưu thế và sự lấn át cái xấu, bóng tối và cái ác Đó là những biểu hiệnkhác nhau của thủ pháp tương phản – thủ pháp đã được sử dụng rất hiệu quảtrong tác phẩm
Trang 30- Cũng như nhiều sáng tác khác, ngôn ngữ miêu tả của Nguyễn Tuân trong
Chữ người tử tù rất đậm chất “điện ảnh” Nhiều đoạn như những thước phim
quay chậm, sắc nét, chậm rãi, hiển hiện từng nét cảnh vật, từng hành động củanhân vật Ngôn ngữ miêu tả nhân vật Huấn Cao cũng thế Những đoạn tả ôngHuấn như đoạn “rỗ gông”, đoạn “cho chữ”… đều có thể coi là những “thướcphim ngắn” về nhân vật này Từng hành động, điệu bộ, cử chỉ của Huấn Cao cứdần dần, chậm rãi hiện ra qua lớp ngôn từ vừa cổ kính vừa hiện đại của nhà văn
3 Kết luận
Tóm lại, Huấn Cao là một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất của
nhà văn Nguyễn Tuân Hình tượng này thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mĩ của
nhà văn : cái Đẹp phải là sự kết hợp giữa cái tâm và cái tài Gốc của cái đẹpcũng như cái gốc của chữ nghĩa chính là “thiên lương” Cái đẹp, dù trong hoàncảnh nào, cũng sẽ luôn vươn lên và tỏa sáng Nó không chấp nhận sống chungvới cái ác, cái xấu Cái đẹp chân chính có sức mạnh cảm hóa con người Qua tưtưởng nghệ thuật về cái Đẹp, nhà văn thiết tha gửi đến bạn đọc thông điệp : dùtrong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải sống đẹp, phải giữ gìn “thiên lương” cholành vững Mà sống đẹp không thể không gắn liền với cách ứng xử văn hóa, mộttrong những cách ứng xử ấy là thái độ tôn trọng tài năng và phẩm giá của conngười Biết “biệt nhỡn liên tài” cũng chính là biết sống một cách nhân văn vàđầy tinh thần văn hóa
Đề 2: Phân tích Mị để thấy được “Tô Hoài đã xây dựng nhân vật theo quá trình phát triển cách mạng”
Gợi ý
1 Giới thiệu chung
- Là truyện ngắn xuất sắc rút từ tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.
- Đây là truyện có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành cong vềphương diện nghệ thuật Giá trị tư tưởng và nghệ thuật bộc lộ tập trung tronghình tượng nhâ vật Mị
2 Phân tích nhân vật Mị:
a Cách giới thiệu nhân vật
- Mị xuất hiện ngay ở những dòng đầu tiên của tp: Ai ớ xa về rườirượi Một cô gái â thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri vô giác.Hình ảnh m hoàn toàn tương phản với cái gđ mà M đang ở Sự tương phản ấybáo hiệu một số phận nhiều ẩn ức của M
b Mị khi chưa về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra:
Trang 31- Là cô gái Mèo trẻ, đẹp
- Khao khát sống tự do, khao khát tình yêu và cô được trai làng theo đuổi
- Lao động giỏi
- Là đứa con hiếu thảo
=> Tóm lại: Mị có những phẩm chất rất đáng tôn trọng và rất xứng đáng đượchưởng hạnh phúc
c Mị từ khi về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí:
* Cuộc đời con dâu gạt nợ:
- Vì cha mẹ không trả nổi nợ vay thống lí làm đám cưới lúc trẻ nên Mịphải làm dâu trả nợ
- Mị thành một nô lệ bị đoạ đày, bị hành hạ, bị tước hết mọi quyền sốngnên không còn ý thức, sống như cái xác không hồn (cô ngồi bên tảng đá trơlạnh, buồng Mị ở gần tàu ngựa, mặt Mị luôn cúi xuống buồn rười rượi…)
- Cô không còn ý niệm về thời gian Thế giới mà cô nhận thức được quacác ô cửa vuông bằng bàn tay “mờ mờ trăng trắng” “không biết là sương hay lànắng” Ý niệm về thời gian bị tiêu diệt thì ý nghĩa của cuộc sống cũng bị thủtiêu
* Sức sống tiềm tàng mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân
- Cầm nắm lá ngón định quyên sinh vì không chịu sống tủi nhục
- Vì thương bố Mị “quen trong cái khổ” an phận làm trâu ngựa và luôn
bị ám ảnh bởi thần quyền: “Ta về trình ma nhà nó rồi chỉ biết đợi ngày rũxương ở đây”
- Tiếng sáo và “những đêm tình mùa xuân” đánh thức sức sống tiềm tàngmãnh liệt, cái giấc mộng lứa đôi, một thời Mị khao khát Cô nhớ quá khứ, sốngtrong quá khứ, cô quên đi thực tại phũ phàng và con người tự do, ham sốngngày nào hành động để đáp ứng nó (Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi, Mịquấn lại tóc, Mị với tay”… Câu văn rành rẽ các hành động gấp gáp như lòngkhát khao được tung cánh bầu trời tự do)
- Nhưng A Sử (chồng Mị) đã lạnh lùng không nói, nó coi Mị như mộtcon trâu, con ngựa đã đứt dây buộc Nó cũng rành rẽ các hành động để tróiđứng Mị vào cột từ hai tay rồi sau đó là từ “bắp chân” trở lên, cả mái tóc cũngđược “quấn lên cột” Mị bị trói rồi mà cô vẫn không tin được đó là sự thật Cáilòng ham sống bị đánh thức của đêm xuân này vẫn còn một thế năng để cho
Trang 32“tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”… Để rồi sau đó chua chát hơnnhận thấy mình “không bằng con ngựa”
- Nếu không có A Phủ đánh A Sử để người ta cởi trói cho Mị đi kiếm láthuốc cho chồng thì có lẽ Mị cũng phải chịu chết như một người đàn bà kháctrong nhà này Đúng là “chúng nó thật độc ác” “bắt trói người ta đến chết”
* Sức phản kháng táo bạo của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ:
- Những đêm khuya, Mị ra thổi lửa để sưởi, Mị đã thấy A Phủ bị trói, Mị
bị A Sử đánh vì ngứa chân ngứa tay nhưng cô vẫn cứ ra sưởi “Nếu A Phủ là cáixác chết đứng đấy cũng thế thôi” Mị đã sống vô ý thức, tâm hồn đã vô cảm,chai sần
- Đêm nay nhìn thấy nước mắt A Phủ, Mị nhớ lại đêm năm trước bị A Sửtrói, khi “sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mị ngã gục xuống” Đêm ấy
Mị đã khóc, còn bây giờ đây Mị dường như không còn biết khóc nữa Chínhdòng nước mắt nhân tình khổ đau đã thành dòng nham thạch nung chảy tâmhồn đã đóng băng của Mị Thì ra đôi mắt “trừng trừng”, những cái đấm đá vàbao nhiêu hành động phi nhân mà Mị phải chịu đã trở thành cuộc đời thườngcủa cô Cho nên dòng nước mắt chính là sự kiện bất bình thường gợi khơi cônhớ lại quá khứ Vừa thương mình, vừa căm phẩn lũ người tàn ác vừa bị ámảnh bởi cái chết, ám ảnh bởi con ma nhà thống lí, vừa nhớ tới một người đàn bàcùng thân cùng phận như mình đã chết trong quá khứ vừa nghĩ tới số phận phảichết vô lí của A Phủ… Tâm hồn Mị nổi sóng bấn loạn Vậy là dòng nước mắtcủa A Phủ đã làm mị nhớ tới nước mắt của mình, Mị nhớ tới cái chết nhãn tiềncủa A Phủ Từ số kiếp A Phủ, Mị lại nghĩ tới mình đã về “trình ma nhà nó rồi”không phương thoát khỏi nhưng A Phủ không lí gì phải chết…
- Những ý nghĩ ấy thực ra nó thúc đẩy bắt buộc phải có hành động đápứng Mị cởi trói cho A Phủ và đặt mình phải lựa chọn con đường chạy theo APhủ hay là được trói đứng như ngày nào cho đến chết Thời điểm hệ trọng này
“con ma” cũng không đủ sức giữ chân Mị lại, Mị cứu A Phủ là tự cứu mình mà
cô đã không biết Chẳng cưới xin, họ đã trở thành vợ chồng từ cái đêm đầy ýnghĩa ấy, cái đêm vì nghĩa trước lúc vì tình”
d Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
Đây là đoạn văn bản lề khép mở hai cuộc đời Đóng lại một kiếp khổnhục, nô lệ để đi vào một cuộc đời chồng vợ chủ động xây dựng cuộc sốngmới Tô Hoài đã làm cho mạch truyện chuyển biến hợp lí, khiến cho tác phẩmkhông có những vết cắt, và những chỗ ghép giả tạo Cũng cần lưu ý giọng văn
Trang 33ở đoạn này rất đa dạng Giọng kể, giọng bán trực tiếp của nhân vật của vàgiọng nhân vật, Những giọng này góp phần mổ xẻ tâm trạng, Mị khá thànhcông, khá sinh động và có sức thuyết phục người đọc khá cao
3 Đánh giá chung:
Tô Hoài đã xây dựng thành công nhân vật Mi Mị tiêu biểu cho kiếpsống khốn khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của pk, thực dân Mị
là điển hình cho sức sống tiềm ẩn của người dân TB
Đề 3: Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Gợi ý
1 Giới thiệu chung
- Tác giả: Kim Lân (1920 - 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở BắcNinh Ông là nhà văn sống gắn bó và rất am hiểu về nông thôn và người nôngdân Không phải là nhà văn nổi tiếng về số lượng tác phẩm song nhiều truyệnngắn của Kim Lân được đánh giá là những tác phẩm xuất sắc nhất của văn xuôiViệt Nam hiện đại
- Vợ nhặt là một tác phẩm như vậy “Vợ nhặt” thực ra là một chương trong tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám
thành công nhưng dang dở và mất bản thảo Sau khi hòa bình lập lại, Kim Lân
dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này “Vợ nhặt” in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).
- Tràng, nhân vật chính của tác phẩm đánh dấu thành công trong nghệthuật xây dựng nhân vật của nhà văn
2 Nhân vật Tràng.
- Hoàn cảnh, lai lịch: Là dân ngụ cư – nhóm dân cư bị khinh rẻ, bị đènén, áp bức trong làng Tràng lại nghèo, chỉ có căn nhà lụp xụp trong xóm ngụ
cư Anh sống với người mẹ già, mưu sinh bằng nghề kéo xe bò thuê
- Ngoại hình: Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch: “hai con mắt nhỏ
tí, gà gà đắm vào bóng chiều, quai hàm bạnh ra rung rung làm cái bộ mắt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lí thú, vừa dữ tợn”.
Cái đầu cạo trọc, tấm lưng to rộng như lưng gấu, điệu cười hềnh hệch Đúng
như cái tên của mình, Tràng là một “sản phẩm quá thô vụng của hóa công”.
- Tính cách:
Trang 34+ Tràng là một người đàn ông khỏe mạnh, sống vô tư, hồn nhiên, chất
phác: thích chơi đùa với lũ trẻ con trong xóm, “nhặt vợ” rất tình cờ và vu vơ
chỉ sau một câu đùa và một chầu bánh đúc
+ Tràng là một người nhân hậu, cũng có những khát khao hạnh phúc:
Hành động “chiêu đãi” người phụ nữ đang đói gieo đói giắt kia một chầu bánh
đúc thể hiện tấm lòng nhân hậu, thương người của anh Việc anh quyết định
“lấy vợ” giữa thời buổi trời đất đang “tối sầm lại vì đói” thể hiện mong ước có
được một gia đình, khao khát được hạnh phúc như bất cứ người nào khác.Tràng rất trân trọng người vợ mới (dù cưới hỏi chẳng có lễ lạt, nghi thức) và
cuộc hôn nhân của mình Biểu hiện sinh động nhất là việc anh “mạnh tay” bỏ
tiền mua dầu đèn thắp sáng trong đêm tân hôn; anh cũng tự hào và sung sướng
gọi người vợ mới là “nhà tôi” Trong lòng anh lâng lâng cảm giác sung sướng,
hạnh phúc Phát hiện được những khao khát hạnh phúc ẩn sâu trong con ngườitưởng như vô tâm, nông cạn, xấu xí, Kim Lân đã tỏ ra là một nhà văn có tưtưởng nhân đạo sâu sắc
+ Tràng là người có trách nhiệm: Sau đêm tân hôn, Tràng ý thức rõ hơn
về vai trò của mình với bản thân, với gia đình, nghĩ đến tương lai Anh “xăm xăm chạy ra giữa sân, muốn làm một việc gì để tu sửa lại căn nhà”
3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
Nghệ thuật miêu tả nhân vật: đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, tính cách vàđặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật Qua hình ảnh nhân vật, nhà vănmuốn thể hiện sự trân trọng những khao khát hạnh phúc của con người, dùtrong hoàn cảnh đói khát, họ vẫn vươn lên mong sống một cuộc sống xứngđáng của một con người Đó là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
2.2 Giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Trang 35- Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in năm 1938, sau đó được in lại trong tập Vang bóng một thời (1940) và đổi tên thành Chữ người tử tù
- Khái quát những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
2 Những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Chữ người tử tù:
- Nghệ thuật tạo tình huống truyện độc đáo: đó là cuộc gặp gỡ giữa HuấnCao và viên quản ngục trong chốn lao tù, Xét trên bình diễn xã hội, họ là kẻ thù,nhưng trên bình diện nghệ thuật họ là tri âm, tri kỉ Thông qua tình huống truyện,tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét và chủ đề tác phẩm được tô đậm
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được nhìn nhận từ phươngdiện tài hoa nghệ sĩ, được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, quản ngục vàHuấn Cao được đặt trong mối quan hệ tương phản, soi sáng lẫn nhau, các miêu
tả gián tiếp…
- Nghệ thuật tạo dựng cảnh cho chữ: “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Trong cảnh này, thủ pháp nghệ thuật đối lập được sử dụng một cách
triệt để, góp phần khắc họa đậm nét tính cách nhận vật
- Nghệ thuật tạo không khí cổ kính bằng những chi tiết chọn lọc, câu văn
có nhịp điệu thong thả, đĩnh đạc, ngôn ngữ sử dụng nhiều từ Hán Việt…
3 Đánh giá chung:
Khẳng định thành công của truyện ngắn Chữ người tử tù và tài năng của
nhà văn Nguyễn Tuân
2.2.2 Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.
Đề 1: Cảm nhận về chi tiết đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn "Rừng
xà nu"của Nguyễn Trung Thành.
Gợi ý
1 Giới thiệu chung
- Vài nét về tác giả , tác phẩm
- Về chi tiết nghệ thuật: Là tình tiết gói ghém tư tưởng, thể hiện tài năng,
sự tinh tế của tác giả, làm nổi bật tính cách, số phận nhân vật "Chi tiết nhỏ làmnên nhà văn lớn"( M.Gorki)
- Chi tiết bàn tay Tnú: tình huống xuất hiện, số lần được nhắc đến trongtruyện,
2 Chi tiết đôi bàn tay Tnú.
Trang 36a Bàn tay là chứng tích cho những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra.
- Thằng Dục tẩm dầu xà nu đốt 10 đầu ngòn tay Tnú
- Nỗi đau của riêng Tnú
- Nỗi đau chung của nhân dân
b Bàn tay thể hiện những phẩm chất cao đẹp.
- Sự gan góc, bộc trực, thẳng thắn khi còn nhỏ:
+ Bàn tay lấy đá từ núi Ngọc Linh về làm phấn để học viết
+ Bàn tay đập bể bảng nứa, lấy đá đệp bể đầu
+ Bàn tay cùng Mai chăm chỉ chặt củi, xách nước, giấu gạo đi nuôi cán bộ.+ Dũng cảm làm liên lạc cho cách mạng bàn tay đưa thư vượt suối,băng rừng
- Sự trung thành với cách mạng, lòng căm thù giặc sâu sắc:
+ Khi bị bắt, nuốt lấy thư, lấy tay chỉ vào bụng và nói cộng sản ở đây.+ Bị giặc tra tấn, không kêu van, chỉ im lặng: lòng căm thù ngùn ngụtkhơi nguồn cho ngọn lửa đấu tranh, tinh thần quật khởi của dân làng Xô Man
- Ý chí kiên cường, bất khuất, sức sống mãnh liệt:
+ Bàn tay chỉ còn hai đốt vẫn cầm súng chiến đấu, vượt lên trên đauthương
- Bàn tay của tình yêu thương, nhân hậu:
+ Cảm thương, xót xa với nỗi đau của Tnú
+ Tố cáo tội các của kẻ thù
+ Khâm phục, ngợi ca phẩm chất Tnú
2.2.3 Tình huống truyện.
Đề 2: Tình huống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
Gợi ý:
Trang 371 Giới thiệu chung.
- Vài nét về tác giả Kim Lân và tác phẩm “Vợ nhặt”
- Giới thiệu tình huống: Tràng – một thanh niên ngụ cư có ngoại hìnhxoàng xĩnh “nhặt” được vợ một cách dễ dàng giữa nạn đói khủng khiếp năm
1945 Đây là tình huống hiếm gặp trong văn chương, được đánh giá là độc đáo,
éo le và cảm động
2 Tình huống nhặt vợ:
- Tình huống và vai trò của tình huống trong truyện : Tình huống là tìnhthế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự việc diễn ra rất đậm đặc, làkhoảnh khắc chứa đựng cả đời người.Tình huống truyện còn được hiểu là mốiquan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàncảnh và môi trường sống Qua tình huống nhà văn bộc lộ tâm trạng, tính cách,thân phận của nhân vật…Tình huống góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm củangười nghệ sĩ một cách sâu sắc
- Tình huống Vợ nhặt của Kim Lân:
+ Éo le: Tràng “nhặt” được vợ đúng vào thời điểm cái đói hầu như đã baophủ bóng đen chết chóc lên tất cả - thời điểm chẳng ai nghĩ đến chuyện lấy vợ lấychồng, nhưng trớ trêu là, nếu không “nhờ” nạn đói, Tràng lại không thể lấy nổivợ…
+ Độc đáo, bất ngờ: việc Tràng nhặt được vợ khiến cho những ngườidân ở xóm ngụ cư ngạc nhiên, gây bất ngờ cho bà cụ Tứ - mẹ Tràng Ngay cảchính Tràng cũng “ngờ ngợ” như là “không phải thế”…
3 Ý nghĩa của tình huống nhặt vợ
Tình huống nhặt vợ thể hiện sâu sắc giá trị tư tưởng của tác phẩm:
- Làm bật lên giá trị hiện thực:
+ Phản ánh và khắc sâu được tội ác của giặc Pháp, Nhật và bè lũ tay sai(nhà văn không trực tiếp đưa ra hình ảnh bọn thống trị, nhưng qua cái đói màchúng gây ra, vẫn phản ánh và khắc sâu được tội ác của chúng)
+ Phản ánh thân phận bi đát của con người trong nạn đói (cái đói khiếncho người chết như ngả rạ; khiến thân phận con người trở nên rẻ rung; ngườiđàn bà thay đổi cả hình hài, trở nên liều lĩnh, trơ trẽn, phải thành vợ nhặt; bà cụ
Tứ buồn tủi, lo lắng cho tương lai các con; cả nhà Tràng phải ăn cám sống quangày…)
- Làm bật lên giá trị nhân đạo:
Trang 38Tình huống thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo: sự cưumang đùm bọc nhau trong lúc khốn cùng, cùng khao khát hạnh phúc gia đình
và hướng tới tương lai tươi sáng…
Đề 2: Tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
Gợi ý:
1 Giới thiệu chung.
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời chống
Mĩ, cũng là người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học từ sau năm
1975 Ở giai đoạn trước,ngòi bút của ông theo khuynh hướng sử thi,thời kì sauchuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh
- Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu
trong thời kì sau Tác phẩm kể về chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh,qua đó thể hiện cách nhìn sâu sắc của tác giả về cuộc sống và sự băn khoăn vềthân phận con người
2 Tình huống truyện
- Tình huống và vai trò của tình huống trong truyện : Tình huống là tìnhthế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự việc diễn ra rất đậm đặc, làkhoảnh khắc chứa đựng cả đời người.Tình huống truyện còn được hiểu là mốiquan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàncảnh và môi trường sống Qua tình huống nhà văn bộc lộ tâm trạng, tính cách,thân phận của nhân vật…Tình huống góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm củangười nghệ sĩ một cách sâu sắc
- Tình huống trong truyện Chiếc thtuyền ngoài xa: Đó là tình huống
nhận thức trước một hiện tượng đầy nghịch lí của cuộc sống Nghệ sĩ Phùngđến vùng biển miền Trung chụp ảnh làm lịch và tiếp cận được cảnh chiếcthuyền ngoài xa trong sương sớm hết sức thơ mộng Ngay sau đó, tại bãi biển,anh chứng kiến nghịch cảnh của cuộc sống - đó là cảnh bạo hành trong gia đìnhhàng chài sống trên chiếc thuyền kia
- Khía cạnh nghịch lí của tình huống:
+ Cảnh thiên nhiên toàn bích nhưng cảnh đời thì đen tối, người có thiệnchí giúp đỡ nạn nhân lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt
+ Người vợ tốt lại bị chồng ngược đãi,vợ bị bạo hành nhưng vẫn camchịu,quyết không bỏ chồng,lại còn bênh vực kẻ vũ phu đó,người chồng vẫn gắn
bó nhưng vẫn cứ hành hạ vợ,con đánh bố
Trang 39- Khía cạnh nhận thức của tình huống: Thể hiện qua những phát hiện vềđời sống của hai nhân vật Phùng và Đẩu.
- Nhận thức về nghệ thuật và cuộc sống của người nghệ sĩ:
+ Cái đẹp ngoại cảnh có khi che khuất cái xấu của đời sống (ban đầu Phùngngây ngất trước cái đẹp bề ngoài của hình ảnh con thuyền, về sau anh nhận ra vẻđẹp ngoại cảnh đó đã che lấp cuộc sống nhức nhối bên trong con thuyền)
+ Cái xấu cũng có thể làm cái đẹp bị khuất lấp (tìm hiểu sâu gia đìnhhàng chài, Phùng lại thấy cuộc sống nhức nhối ấy làm khuất lấp nhiều nét đẹpcủa không ít thành viên trong gia đình)
+ Từ sự phức tạp ấy, Phùng nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sốngkhông thể nhìn đơn giản, người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn
- Nhận thức về con người và xã hội của người cán bộ (qua nhân vậtĐẩu):
+ Đằng sau cái vô lí là cái có lí (việc người đàn bà bị hành hạ là vô lí,nhưng người đàn bà ấy không muốn rời bỏ chồng lại có lí riêng), đằng sau cáitưởng chừng đơn giản lại chứa chất nhiều phức tạp (ban đầu, Đẩu tưởng li hôn
là cách giải quyết dứt điểm được sự việc, sau anh nhận ra quan hệ của họ cónhiều ràng buộc phức tạp hơn nhiều)
+ Muốn giải quyết những vấn đề của cuộc sống, không chỉ dựa vào thiệnchí, pháp luật hoặc lí thuyết sách, vở, mà còn phải thấu hiểu cuộc sống và cần
có giải pháp thiết thực
3 Ý nghĩa tình huống truyện:
- Tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống và bộc lộđược cái nhìn nhân đạo của tác giả (mâu thuẫn giữa nghệ thuật giản đơn vàcuộc đời phức tạp, mâu thuẫn nằm ngay trong đời sống, thân phận, và bản chấtcủa con người )
- Nhờ tình huống truyện độc đáo, tác phẩm có sức hấp dẫn (kịch tínhtrong hành động và diễn biến mạch truyện, chiều sâu tâm lí )
2.3 Dạng đề so sánh
2.3.1 So sánh nhân vật.
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
Gợi ý
Trang 401 Giới thiệu chung.
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm
2 Nhân vật người vợ nhặt.
- Đây là nhân vật mang trong mình vẻ đẹp khuất lấp, qua nhân vật tác giảgửi gắm thông điệp của cuộc sống Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưngngười vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm Nhân vậtnày được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, banđầu và về sau Để rồi vẻ đẹp đó dần lộ ra, hấp dẫn người đọc như xem một bộphim chứa chan tình cảm: tình người, tình mẫu tử, khát vọng vươn lên cuộcsống bèo bọt
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt
Vì sự sống mà Thị bỏ hết tự trọng theo không Tràng mà không cần cưới hỏi,tạo lập một gia đình trong nạn đói
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ Lễphép với bà cụ Tứ, e dè khi đối diện với mẹ, cùng bà vun đắp cho tổ ấm giađình
+ Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu,đúng mực, biết lo toan Sau đêm tân hôn Thị trở về dịu dàng đảm đang, tìnhyêu chân chính, khát vọng hạnh phúc gia đình khiến con người ta thay đổi
- Thị cùng với các nhân vật khác là nhân vật phát ngôn cho tư tưởng của
Kim Lân: trong cái đói họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống
2 Nhân vật người đàn bà hàng chài.
- Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng củatác phẩm Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối tương phản giữa bềngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất Qua đó giúp người đọc thấyđược hạt ngọc ẩn chứa trong tâm hồn người lao động mà nhà văn NguyễnMinh Châu suốt đời đi tìm
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha,
độ lượng, giàu đức hi sinh Đó là lòng bao dung, thấu hiểu với lão chồng vũphu, đó là tình mẫu tử cao đẹp, sẵn sàng hi sinh vì hạnh phúc của con cái