1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo kết quả nghiên cứu ứng dụng sáng kiến vai trò của các hiện tượng thực tế trong giảng gạy hóa học ở cấp THPT

28 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 236 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy hóa học tôi nhận thấy rằng: Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa

Trang 1

Tên sáng kiến: VAI TRÒ CỦA CÁC HIỆN TƯỢNG

THỰC TẾ TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở

Trang 2

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt 3

A PHẦN MỞ ĐẦU 4

I LỜI GIỚI THIỆU 4

1 Tên sáng kiến 5

2 Tác giả 5

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 5

4 Thời gian áp dụng sáng kiến 5

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5

III ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1 Đối tượng nghiên cứu 6

2 Khách thể nghiên cứu 6

3 Phạm vi giới hạn đề tài nghiên cứu 6

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

B NỘI DUNG 6

I CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1 Cơ sở khoa học 7

2 Thực trạng giảng dạy môn Hóa học ở trường THPT 8

II NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI 9

1 Các giải pháp thực hiện 7

2 Các hình thức thực hiện 7

2.1 Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới 11

2.2 Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học 13

2.3 Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học 16

2.4 Liên hệ thực tế thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào trong suốt tiết học 19

2.5 Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hằng ngày 21

2.6 Kết hợp tổ chức hoạt động ngoại khóa cho HS 22

III HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 25

1 Kết quả nghiên cứu 25

1 Kết quả đối chứng 25

C ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 26

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 3

Danh mục chữ viết tắt

THPT : Trung học phổ thông

HS : Học sinh

GV : Giáo viên

Trang 4

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LỜI GIỚI THIỆU

Nhằm thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ

trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước những con người “vừa hồng vừa chuyên” Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy bộ môn Hóa học nhận thấy rằng: Hoá học là bộ môn khoa học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng Môn hoá học THPT cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên bộ môn Hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một

kỹ năng cơ bản, phổ thông, thói quen học tập và làm việc khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động Có những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ

mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa học, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình

và xã hội có thể hoà hợp với môi trường thiên nhiên, chuẩn bị cho học sinh học lên cao và đi vào cuộc sống lao động

Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh là hết sức khó

khăn Mặt khác, Hóa học là một môn học khô và khó đối với HS ở THPT, mà khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều Phần lớn các bài

gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó hiểu Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần quan tâm Khi HS có hứng thú, niềm say mê với môn Hóa sẽ giúp HS phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo Để từ đó nâng cao chất lượng bộ

môn nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung là vấn đề hếtsức quan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên Chính vì vậy, tôi nghĩ đổi mới phương pháp dạy học phải thể hiện được ba tính chất cơ bản sau:

Một là: Phát huy tính tích cực, năng lực tư duy, óc sáng tạo, khả năng tự học và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập

Hai là: Giảng dạy và học tập phải gắn liền với cuộc sống sản xuất, học đi đôi với hành

Ba là: Rèn luyện được kĩ năng sống cho học sinh

Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy hóa học tôi nhận thấy rằng: Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực

Trang 5

tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với cáchiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta.

Có những vấn đề Hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng

trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoahọc hóa học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất

phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học

Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải cóvốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh

Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáoviên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo

niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn

Chính vì vậy, tôi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm :“ Vai trò của các hiện

tượng thực tế trong giảng dạy Hóa học ở cấp THPT ”

1 Tên sáng kiến

VAI TRÒ CỦA CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ TRONG GIẢNG DẠY

HÓA HỌC Ở CẤP THPT

2 Tác giả sáng kiến

- Họ và tên : HOÀNG THỊ THÚY NGA

- Địa chỉ tác giả sáng kiến : Đồng Tĩnh – Tam Dương – Vĩnh Phúc

- Số điện thoại : 0328584898

- Email: hoangthithuynga.gvlienson@vinhphuc.edu.vn

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Lĩnh vực giáo dục.

4 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2018 -2019

II Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống một số hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình Hóa học THPT

Vận dụng hệ thống các hiện tượng đã xây dựng để dạy học chương trình hóa THPT nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh

Trang 6

III ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU.

1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT

Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, kĩ năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn hóa học

2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh THPT

3 Phạm vi giới hạn đề tài nghiên cứu

Các bài dạy trong chương trình Hóa học THPT

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này nhằm giải quyết một số vấn đề sau:

- Những vấn đề lí luận về lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong

giảng dạy môn Hóa học THPT

- Thực trạng về trình độ và điều kiện học tập của học sinh

- Từ việc nghiên cứu vận dụng của đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng trong giảng dạy môn Hóa học tại trường THPT

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Một số phương pháp được sử dụng khi nghiên cứu đề tài :

- Nêu vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự học và thảo luận theonhóm học tập

- Giáo viên giải đáp thắc mắc, tổng kết

Trang 7

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Cơ sở khoa học

1.1 Hóa học với thực tiễn cuộc sống

a) Tác động của hóa học đến đời sống con người

Không có môn khoa học nào lại có nhiều ứng dụng như môn Hóa học :

- Trong tự nhiên, nhờ có hóa học mà chúng ta có thể khám phá thiên nhiên, nắm được tính chất, quy luật của thiên nhiên và con người ngày càng thành công

trong ngành khoa học khám phá vũ trụ, trái đất,…

- Trong đời sống, sản xuất : Hóa học được ứng dụng trong việc nghiên cứu

thành phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các quy trình sản xuất (sản xuất, chế biến các nguồn nguyên liệu thô thành các nguyên liệu có thể sử dụng trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nông sản, chế tạo ra các

đồ dùng, vật dụng hằng ngày)

b) Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học

- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơ bản

về hóa học

- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài Hóa học là ngành hóa học

thực nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm Chính việc tiến hành các thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và kĩ các kiến thức đã học, qua đó các em hiểu bài hơn

- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn của hóa học trong đời sống : kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự ham hỏi của học sinh

- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống hằng ngày một cách đúng đắn Các em sẽ nhận thức được những gì có ích, những gì

có hại để điều chỉnh hành vi của mình

1.2 Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy

a) Với người thầy :

- Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy Khi mở rộng kiến thứchóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy

- Mở rộng kiến thức hóa học thực tế rèn luyện một số kỹ năng dạy học :

+ Kỹ năng diễn đạt

+ Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học

+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm

+ Kỹ năng phân bố thời gian

+ Kỹ năng giao tiếp

Trang 8

- Kích thích lòng ham thích học tập của học sinh

- Tạo ra giờ học lý thú bổ ích Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế sẽ có rất nhiều câu hỏi đặt ra kích thích học sinh tư duy trả lời, bầu không khí của lớp sẽ trở nên sôi động, tạo điều kiện cho các học sinh còn nhút nhát tham gia vào bài giảng

- Gần gũi với học sinh Khi giáo viên thực hành các kỹ năng nhằm tăng hứng thúhọc tập cho học sinh, giáo viên sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp với học sinh Nhờ đó

mà sẽ tạo được ấn tượng tốt với học sinh

b) Với học sinh :

- Các em trở nên yêu thích môn hóa Khi học sinh được hiểu thấu đáo các vấn đềhóa học, được tham gia vào các hoạt động thực tế… Các em sẽ có hứng thú với môn học vì các em đã nắm được tầm quan trọng của môn học, từ đó nâng cao thành tích học tập

- Nắm được các kiến thức cơ bản của hóa học Các kiến thức hóa học thực tế lấynền tảng là các kiến thức hóa học mà học sinh đã học ở nhà trường, tác dụng củacác kiến thức này là giải thích các bản chất của sự vật, hiện tượng do đó các em

sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc các kiến thức hóa học, các em sẽ nắm rõ các kiến

thức hơn

- Hình thành kỹ năng tư duy, sử dụng sách… Các kiến thức mới luôn thúc đẩy học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức trong sách báo

- Phát huy tính tích cực sáng tạo trong học tập

1.3 Liên hệ thực tế là một biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh

Cái mới luôn là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất Việc liên hệ thực tế

sẽ thúc đẩy học sinh tìm tòi khám phá trong học tập Hiểu và giải thích được cáchiện tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập Các kiến thức hóahọc sẽ thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ học và ham thích học hỏi, tìm kiếm sách vở, rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấy được những

lý thú của các kiến thức đã học, tăng thêm lòng yêu thích môn học

Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của học sinh Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt kết quả, giáo viên giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho học sinh thì chưa thành công Do đó đòi hỏi người giáo viên phải hội tụ kiếnthức và tất cả các yếu tố phục vụ cho công việc dạy học Kỹ năng tạo hứng thú

là kỹ năng quan trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, phải luôn cung cấp cho học sinh lượng kiến thức : ĐỦ, ĐÚNG, MỚI, THIẾT THỰC

Trang 9

Với giáo viên bộ môn Hóa học, kiến thức hóa học thực tế sẽ đáp ứng mặt thiết thực của kiến thức.

2 Thực trạng giảng dạy môn Hóa HHọc ở trường THPT

Thuận lợi :

- 100% giáo viên đã đạt chuẩn

- Trong quá trình giảng dạy môn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn

đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bài giảng…

- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thí nghiệm,

mô hình, tranh … và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học

- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thích một số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra

- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Khó khăn :

Hiện nay ở trường, một số học sinh chưa biết tác dụng của môn hóa học, do việcgiảng dạy ở trường còn mắc phải một số khuyết điểm :

- Còn thiên về lý thuyết thiếu thực tế

- Chưa cung cấp cho học sinh các kiến thức hóa học có ứng dụng nhiều trong thực tiễn

- Học sinh ít chọn thi THPT quốc gia ban khoa học tự nhiên nên cũng không chútâm đến môn học

- Do đầu vào thấp, cho nên khả năng vận dụng kiến thức để lý giải các tượng liên quan đến hóa học đối với học sinh còn khó khăn

* Do đó, để khắc phục các nhược điểm trên và để nâng cao khả năng vận dụng

lý thuyết vào thực tiễn, để tạo hứng thú trong việc học môn Hóa học thì việc liên

hệ thực tế trong quá trình giảng dạy là cần thiết

II NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 10

học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trìnhhọc tập.

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua cácphương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này có thể

sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bàihọc Giáo viên có thể giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh Mặc dù vấn

đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông quacác bài tập tính toán Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khilàm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích Vì muốn giải đượcbài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểuđược bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệvới nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Làm cho họcsinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theotính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễnhàng ngày

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đãkết thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào nhữngkiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặphiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua

những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ

thời gian nào trong suốt tiết học Hướng này có thể góp phần tạo không khí họctập thoải mái Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá

- Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanhđời sống ngày thường ở địa phương, gia đình … sau khi đã học bài giảng Cáchnêu vấn đề này có thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìmcách giải thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúc bắtgặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống Giúp học sinh phát huy khảnăng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn

- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệvới nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Làm cho họcsinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theotính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễnhàng ngày

- Có thể kết hợp với các buổi ngoại khóa để tăng hiệu quả của đề tài

2 Các hình thức thực hiện

Trang 11

2.1 Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới

Cách nêu vấn đề này cĩ thể tạo cho học sinh bất ngờ, cĩ thể là một câu hỏi rất khơi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập

Ví dụ 1:

Khi dạy về bài CLO (ở lớp 10), giáo viên cĩ thể mở bài như sau :

- GV : Mỗi khi mở vịi nước máy chúng ta thường ngửi thấy cĩ mùi xốc rất khĩ chịu Đĩ là vì tại nhà máy nước người ta đã sục vào đĩ một chất khí cĩ tác dụng diệt khuẩn Các em cĩ biết khí đĩ là khí gì khơng ?

- HS cĩ thể biết sẽ trả lời đĩ là khí clo

- GV : Đây cũng là tên bài học của chúng ta hơm nay

* Cách giới thiệu này sẽ tạo cho học sinh chú ý hơn để tìm hiểu tại sao clolại cĩ tính chất như vậy Và trong quá trình học về tính chất của khí Clo các em

sẽ giải thích được như sau:

Khi sục vào nước một lượng nhỏ clo, nước cĩ tác dụng sát trùng do clo tan một phần trong nước và một phần khơng tan gây mùi:

- HS suy nghĩ trả lời:

- GV: Thành phần làm nên bánh bao là bột nở (NH4)2CO3 Khi nhiệt phân tạo ra

CO2 và một chất khí cĩ mùi khai Khí cĩ mùi khai đĩ là khí gì ? Khí mùi khai đĩ

cĩ tính chất gì? Nĩ cĩ độc khơng, ăn bánh bao cĩ nguy hiểm hay khơng ? Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu thơng qua bài: Amoniac và muối amoni

* Trong quá trình học về tính chất của muối amoni, học sinh sẽ hiểu được hiện tượng trên là do :

(NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc hấp

bánh thì (NH4)2CO3 sẽ bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt :

(NH4)2CO3

o t

  2NH3  + CO2  + H2O

Trang 12

Như vậy, khi hấp bánh bao khí CO2, NH3 thoát ra để lại vô số lỗ nhỏ trong bánh bao làm cho bánh bao vừa to lại vừa xốp và có mùi khai là mùi đặc trưng của amoniac.

Ví dụ 3:

Khi dạy về bài PHOTPHO (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực tế khi mở bàinhư sau :

- GV: Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, thi hào Nguyễn Du đã viết :

“Lập lòe ngọn lửa ma trơiTiếng oan văng vẳng tối trời còn thương”

Thế “ma trơi” là cái gì vậy ? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng ? Không phải, “ma trơi” quả là có thật Nếu các em có dịp đi qua các nghĩa trang vào ban đêm thì các em sẽ thấy tại một số ngôi mộ tỏa ra những ngọn lửa màu xanh lãng đãng lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma trơi” Bài học ngày hôm nay sẽ giúpcác em hiểu được hiện tượng này Đó là bài PHOT PHO

* Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện tượngtrên là do :

Trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng photpho khi chết phân hủy tạo một phần thành khí PH3 (photphin), khi có lẫn một chút khí P2H4

(điphotphin), khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí (lửa “ma trơi”)bay trong không khí Bất kể ngày hay đêm đều có PH3

bay ra ở các nghĩa trang, chỉ có điều là ban ngày ánh sáng mặt trời quá mạnh nên ta không thấy được ma trơi

2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2OĐiều trùng lặp ngẫu nhiên là : Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa trang càng tăng thêm sự mê tính dị đoan

Ví dụ 4:

Khi học bài OZON (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :

- GV : Sau mỗi trận mưa, các em cảm thấy bầu trời, khí hậu như thế nào ?

- HS : Bầu trời quang đãng hơn, khí hậu mát mẻ hơn

- GV : Thật vậy, sau cơn mưa to sấm nổ đùng đùng, khi mưa tạnh, nắng lên, mọingười thường cảm thấy như căn phòng, đường xá, khu phố… thậm chí cả bầu trời xanh kia mát mẻ trong lành hẳn lên Hít thở cũng thật dễ chịu Đó là nguyên nhân gì nhỉ ? Để hiểu được điều này, hôm nay chúng ta sẽ học bài : OXI –

OZON

* Trong khi học về phần Ozon, học sinh sẽ hiểu được hiện tượng trên là do : Khi

có những tia chớp điện thì một phần oxi trong không khí sẽ biến thành ozon :

3O2 → 2O3

Trang 13

Ozon khi rất loãng không có mùi hôi, ngược lại còn cho con người ta có cảm giác tươi mát, thanh sạch dễ chịu Nó còn có tác dụng sát trùng, làm sạch không khí, rất có lợi cho cơ thể con người.

Ví dụ 5:

Khi học về bài IOT (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :

- GV : Hằng ngày, các em thường ăn muối gì ?

phải đảm bảo cho cơ thể hấp thụ với < 150 microgam iot Vậy iot có những tính chất như thế nào ? Bài IOT hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về tính chất của nguyên tố này

2.2 Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học

Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và

thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính

- HS : Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua, khi tác dụng với nước sinh

ra khí axetilen và canxi hydroxit

Khi dạy về bài FLO (lớp 10), sau khi học xong tính chất của axit HF, giáo viên

có thể liên hệ thực tế như sau :

- GV : Tại sao không đựng dung dịch HF trong bình thủy tinh

Trang 14

- HS : Dung dịch HF, tuy là axit yếu nhưng có tính chất đặc biệt là ăn mòn thủy tinh Do thành phần của thủy tinh chính là SiO2, khi cho dung dịch HF vào thì cóphản ứng :

SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O

Ví dụ 3:

Khi dạy về bài LƯU HUỲNH (ở lớp 10), sau khi học xong tính chất hóa học củalưu huỳnh tác dụng với kim loại, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :

- GV : Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét

mà nên rắc bột S lên trên ?

- HS : Thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất độc Vì vậy, khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi làm cho quá trình thu gom khó khăn Ta phải rắc bột S lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác

dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi

- GV : Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày ?

- HS : Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng :

- HS : Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng nhiệt, gọi

là sự đông tụ Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi đun

nóng sẽ bị kết tủa

Ví dụ 6:

Khi dạy về bài AXIT CACBOXYLIC (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực tếnhư sau :

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w