MỤC LỤCVI Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4 CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5 CHƯƠNG 2 – GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT 10 2.2 Các giải pháp
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
Tác giả sáng kiến: ĐỖ THỊ HẠNH
Mã sáng kiến: 12.51
Lập Thạch, năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
VI Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4
CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2 – GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT 10
2.2 Các giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh qua giờ đọc hiểu một
số truyện ngắn hiện đại lớp 11
11
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 33
3.4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 34
VII
I
Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 56
IX Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiếntheo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia ápdụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có)
57
X Danh sách các tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử 59
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
I Lời giới thiệu
Trang 31 Lí do chọn đề tài
Sinh thời Hồ Chí Minh khẳng định “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,
trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” theo Bác thì việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Chính vì thế Bác nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.Trong lĩch vực giáo dục Bác cũng yêu cầu phải
chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa
kỹ thuật lao động và sản xuất, đào tạo thế hệ trẻ thành người thừa kế xây dựng
xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” Nghị quyết trung ương II khóa VIII cũng nêu: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “Con người” được
coi là mục tiêu, là động lực quan trọng trong sự nghiệp phát triển của toàn xãhội Như vậy, đạo đức và tài năng là cả hai nội dung không thể thiếu được đốivới nhiệm vụ bồi dưỡng giáo dục trong đó đạo đức là gốc
Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt, có ưu thế trong việcgiáo dục đạo đức lối sống cho học sinh Việc hợp tác và khai thác hiệu quả giờhọc Ngữ văn, thực hiện việc lồng ghép, tích hợp dạy đạo đức sống cho học sinh
là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với
bốn mục tiêu quan trọng của giáo dục:“học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để khẳng định mình”
Bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp tham gia vào công việc
“Trồng người” tôi luôn ý thức rằng: việc nâng cao phẩm chất, năng lực cho học
sinh thông qua các giờ học trong môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết nhằm rènluyện nhân cách cho học sinh
Xuất phát từ những yêu cầu và thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn thực hiện
đề tài: Một số giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất người học qua giờ đọc
hiểu một số truyện hiện đại lớp 11.
2 Mục đích nghiên cứu
a Đối với giáo viên
Trang 4Nghiên cứu đề tài này là tôi muốn nắm được thực trạng của việc nâng caophẩm chất, năng lực học sinh trong nhà trường nói chung Đề xuất một số biệnpháp nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh trong việc giảng dạy bộ mônNgữ văn ở cấp THPT một cách có hiệu quả Từ đó, giúp thế hệ trẻ - các em HStrở thành những người công dân có ích, đáp ứng được mục tiêu của ngành giáodục nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng.
Nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu khoa học; thực hiệnđổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy năng lực của học sinh trong giờ đọc -hiểu văn bản văn học từ đó bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho học sinh
b Với học sinh
Được bồi dưỡng phẩm chất, năng lực nhằm góp phần hoàn thiện nhân
cách bản thân Học sinh sẽ phát huy năng lực để tăng sự hứng thú trong học tập,
kích thích sự tham gia, tìm tòi nghiên cứu và tư duy
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua theo dõi chất lượng giáo dục, đối chiếu so sánh với hệ thống cáctrường THPT trên địa bàn về thực tế, phẩm chất, năng lực học sinh hiện nay cònnhiều hạn chế Vì thế, thực hiện đề tài này bản thân tôi muốn tìm ra một số giảipháp để nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất, năng lực cho học sinh được tốthơn, đồng thời rút kinh nghiệm cho công tác quản lý việc Nâng cao phẩm chất,năng lực học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Sáng kiến tập trung nghiên cứu Một số giải pháp nâng cao năng lực,
phẩm chất người học qua giờ đọc hiểu một số truyện hiện đại lớp 11.
b Phạm vi
- Về lý luận, chúng tôi chỉ nghiên cứu các vấn đề năng lực, phẩm chất và
nâng cao năng lực phẩm chất trong môn Ngữ văn ở Trường THPT Ngô Gia Tự.
- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, chúng tôi mới chỉ tiến hành ở học
sinh lớp 11 Trường THPT Ngô Gia Tự huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trang 5Các tác phẩm thơ truyện ngắn hiện đại thuộc chương trình Ngữ văn 11 THPT
-5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện chúng tôi sửdụng các nhóm phương pháp sau:
a Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, so sánh
-đối chiếu, suy luận
b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra khảo sát,
phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kê
Dựa trên cơ sở thu thập những số liệu qua dự giờ các giờ đọc - hiểu vănbản trên lớp, chúng tôi đi sâu phân tích để làm cơ sở nghiên cứu và tổ chức dạyđọc - hiểu văn bản hướng tới việc bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất và hoàn thiệnnhân cách cho học sinh Đồng thời, tiến hành so sánh các tài liệu, các kết quảnghiên cứu để thấy được độ tin cậy, sự biến đổi Sau đó áp dụng phương pháptổng hợp để có những nhận định, đánh giá và luận điểm phù hợp với những kếtquả nghiên cứu đã đạt được
6 Đóng góp mới của sáng kiến kinh nghiệm
a Về lý luận
Thông qua nội dung bài viết này tôi muốn đóng góp thêm với các bạnđồng nghiệp dạy bộ môn Ngữ văn lớp 11 nói riêng và bộ môn Ngữ văn cấpTHPT nói chung về thực trạng vấn đề phát huy năng lực, phẩm chất học sinhtrong tình trạng hiện nay
b Về thực tiễn
Trong những năm gần đây, năng lực, phẩm chất của học sinh trong cácnhà trường còn nhiều hạn chế Hiện tượng học sinh ỉ nại, nhút nhát, rụt rè …trong công việc, dẫn đến năng lực, sở trường chưa được phát huy Đi sâu vàochuyên đề nâng cao phẩm chất năng lực học sinh thông qua giảng dạy bộ mônmình phụ trách, tôi muốn đưa ra một số giải pháp mà bản thân tôi đã thực hiện
trong quá trình giảng dạy tại Trường THPT Ngô Gia Tự với mong muốn đóng
Trang 6góp một phần nhỏ bé của mình vào việc thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục:đào tạo các em học sinh trở thành con người toàn diện
7 Cấu trúc của sáng kiến
Ngoài phần mở đầu và kết luận, sáng kiến kinh nghiệm gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các biện pháp Nâng cao phẩm chất, năng lực đọc hiểu truyệnngắn hiện đại – Ngữ văn lớp 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
II Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất
người học qua giờ đọc - hiểu một số truyện hiện đại lớp 11”.
III Tác giả sáng kiến.
VI Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên vào học kì I năm học 2017 – 2018
VII Mô tả bản chất của sáng kiến Về nội dung sáng kiến:
Trang 7Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên ) “Năng lực là khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thànhmột loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Theo Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được quan niệm là thuộc
tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể; phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành
năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiên thức, kỹ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cư cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cản nhất định”.
Trang 8Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất
cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua họctập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống
b) Phẩm chất
Không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ýrèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống vànghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướngcộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việchọc tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổsung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển phẩm chất trong HS
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay
vật” Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình
cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau mộtquá trình giáo dục
Chương trình giáo dục phổ thông, “Phẩm chất là những tính tốt thể hiện
ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người”.
1.1.2 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc - hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từphương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăngcường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theohướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnhviệc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn
Trang 9cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương phápdạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằngviệc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nângcao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cầnnắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bịcũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lờitrong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phươngpháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh cácphương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạyhọc mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyếttrình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng: Dạy học phát triển phẩmchất, năng lực là phương pháp tích tụ dần các yếu tố của phẩm chất và năng lựcngười học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nộidung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn
đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau
giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người
học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất,
năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây Điều quan trọng hơn cả là nếu
so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ýtích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyếtvấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắnhoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập
Trang 10trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ýnghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập nhữngtri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ
đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phần truyện hiện đại Ngữ văn 11 không nhiều, chỉ có bốn văn bản, songđây là những bài học thể hiện tính chất thực tiễn cao, từ nội dung mà các vănbản đề cập giúp học sinh hình thành được những quan điểm đúng đắn, hànhđộng cụ thể phù hợp với xu thế phát triển của đất nước ở hiện tại và trong tươnglai
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồngnghiệp, qua nhiều năm, tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm truyện hiện đạitrong chương trình tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lựccủa học sinh Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảmnhận của giáo viên về văn bản Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn
là hình thành kỹ năng
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫnmang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường,giáo dục kỹ năng sống… một cách cứng nhắc Chưa làm cho học sinh huy độngkiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm
vụ học tập Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả,chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiêncác năng lực của học sinh chưa được phát triển
- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mangtính hình thức Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫndựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còndựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạtđược tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bìnhđẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân
Trang 11- Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chútrọng Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết, việc xử lí tình huống giả định,trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy mà học sinh ít có
cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hững thú, chưa hình thành được các kỹ năng và nănglực của người học
Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổicách thức tổ chức giờ học song kết quả chưa đạt được như mong muốn mànguyên nhân là:
+ Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không đượcthực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyềnthụ một chiều Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế một phần là do kỹ năng sử dụng máy chiếu hay bảng thông minh hạn chế, vì vậy
mà ngại áp dụng vì mất thời gian
+ Về phía học sinh: Học sinh đa số là ở vùng nông thôn nên việc tiếp cận
và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế Một số họcsinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòinghiên cứu bài học
Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người học đểsau mỗi bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà cònphải phát triển được năng lực bản thân, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu
về đổi mới giáo dục
và tiếp cận vấn đề phẩm chất, năng lực sau mỗi bài học học có nhiều khó khăn ở
cả GV và HS: GV “ngại, chưa đổi mới”, HS nhận biết được vấn đề nhưng chưa
Trang 12vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Vì thế chúng tôi hy vọng, với đề tài nàychúng ta sẽ tháo gỡ được những vướng mắc trên của GV và HS.
Tính hệ thống đòi hỏi nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh trườngTHPT không chỉ đọng lại ở một khối lớp mà nó bao gồm cả ba khối 10,11,12.Mặt khác tính hệ thống còn thể hiện ở chỗ các giải pháp được đề xuất đi từ cáichung đến cái riêng, từ cấp độ rộng đến cấp độ hẹp
2.1.2 Đảm bảo tính kế thừa
Nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh phổ thông nói chung và họcsinh Trường THPT Ngô Gia Tự nói riêng là một vấn đề có tính truyền thống,được các cấp quản lý, các nhà trường và các công trình nghiên cứu quan tâm từlâu Trong quá trình nghiên cứu và tổ chức thực hiện nâng cao phẩm chất, năng
Trang 13lực cho học sinh, đã có nhiều giải pháp được đề xuất và vận dụng vào thực tiễnquản lý, và qua đó có những giải pháp thể hiện tính hiệu quả của nó Vì vậy,trong khi nghiên cứu và đề xuất giải pháp mới nhằm nâng cao phẩm chất, nănglực qua dạy đọc hiểu truyện hiện đại (Ngữ văn 11), tôi có kế thừa những giảipháp trong rèn luyện nhân cách, phẩm chất và năng lực của HS trong thời kỳmới.
2.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ, tác động vào các khâu của quá trình nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh
Các giải pháp đưa ra phải đồng bộ, từ khâu thiết kế bài dạy, thực hiện dạyhọc và kiểm tra đánh giá Các vấn đề năng lực, phẩm chất cần hình thành phảitác động trực tiếp vào HS Quá trình nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinhchịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó bao gồm các yếu tố chủ quan và kháchquan Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực cho họcsinh trong giờ Ngữ văn phải có tính thống nhất, có tính khoa học nhằm phát huytốt những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tích cực, hạn chếnhững ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố đó
2.1.4 Đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc này đòi hỏi, khi đưa ra các giải pháp nâng cao phẩm chất,năng lực cho HS qua giờ dạy học Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bànhuyện phải thực hiện được và đảm bảo hiệu quả cao Muốn vậy, nâng cao phẩmchất, năng lực phải phù hợp với nhu cầu, hứng thú, tình cảm của từng độ tuổi.Phải chú ý đến việc hướng dẫn các hoạt động chủ đạo phù hợp với các đối tượnggiáo dục Trong quá trình xây dựng các giải pháp Nâng cao phẩm chất, năng lựccho học sinh thì hệ thống các nguyên tắc nêu trên phải được quán triệt thực hiệnmột cách nghiêm túc để có thể đạt được hiệu quả cao nhất khi đưa vào vận dụngtrong thực tiễn
Trang 142.2 Các giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh qua giờ đọc hiểu một số truyện hiện đại lớp 11
2.2.1 Giải pháp 1: Xác định rõ những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho HS.
a) Các năng lực cần hình thành cho HS
Chương trình GDPT mới hướng đến hình thành 10 năng lực cho học sinh.
Đây là những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thôngqua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là:
- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng việt; Sử dụng ngoại ngữ
- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biếtcách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng cáccông cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tìnhhuống có ý nghĩa toán học
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên:
+ Hiểu biết kiến thức khoa học;
+ Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên;
+ Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêucầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Năng lực tìm hiểu xã hội:
+ Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội; + Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiêncứu cơ bản của khoa học xã hội;
+ Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người;
+ Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống
Trang 15- Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nềnkinh tế tri thức
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cáihài, cái chân, cái thiện, cái cao cả);
+ Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ;
+ Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ
- Năng lực thể chất:
+ Sống thích ứng và hài hòa với môi trường;
+ Nhận biết và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống;
+ Nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; + Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao;
+ Đánh giá hoạt động vận động
- Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trìnhgiáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năngkhiếu) của học sinh
- Các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến:
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
+ Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ
Trang 16b) Các phẩm chất cần hình thành cho HS
Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu lên 5 phẩm chấtchủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là:
- Yêu nước
- Nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người
- Chăm chỉ: Ham học; Chăm làm
- Trung thực
- Trách nhiệm:
+ Có trách nhiệm với bản thân;
+ Có trách nhiệm với gia đình;
+ Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội;
+ Có trách nhiệm với môi trường sống
Trang 172.2.2 Giải pháp 2: Xác định rõ các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
2.2.2.1 Phương pháp tổ chức
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổimới phương pháp dạy học của chương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bênngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học,đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh
Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạyhọc khám phá, dạy học theo dự án,… cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và
sở thích của mỗi học sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học
để có cách tổ chức dạy học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡngphương pháp tự học, qua đó hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nềntảng văn hóa cho bản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệmcủa cá nhân trong cuộc sống Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác củahọc sinh trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, traođổi, thảo luận,…vận dụng các phương pháp dạy học theo đặc thù của môn học
và các phương pháp dạy học chung một cách phù hợp nhằm từng bước nâng cao
hiệu quả dạy học Ngữ văn
Để nâng cao phẩm chất, năng lực cho HS thông qua giờ đọc hiểu truyệnhiện đại (Ngữ văn 11) Tôi xin được đề xuất các phương pháp tổ chức sau:
a) Phương pháp Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là PPDH trong đó "HS được phân chia thành từng nhómnhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiệnthông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệtđược tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung"
Trang 18Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS thamgia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia
sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nộidung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhauhợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung
Trong quá trình giảng dạy, để tiết học diễn ra có hiệu quả khi áp dụngphương pháp thảo luận nhóm, giáo viên cần có sự phân chia khoa học các bướctrong khi thảo luận nhóm
a.1 Các bước khi thảo luận nhóm
Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhómkhoảng từ 4 - 6 người
Bước 2: Giao nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết cho từng nhóm
Bước 3: Giám sát hoạt động của từng nhóm
Bước 4: Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm Cácnhóm khác có thể phản biện
Bước 5: Tổng kết đánh giá
Giáo viên nên nhân xét bài thuyết trình của từng nhóm sau khi các nhómtrình bày xong và đã có ý kiến phản biện của các nhóm khác Cuối cùng giáoviên chốt lại các ý kiến, đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ saukhi thảo luận
a.2 Phân loại phương pháp thảo luận
- Thảo luận có hướng dẫn: Toàn lớp hay nhóm nhỏ cùng đề tài thảo luậnhoặc khác đề tài thảo luận, nhằm đưa ra nhiều ý kiến kết quả khác nhau từ đóthống nhất chung lại
- Báo cáo sau thảo luận: Sau khi báo cáo chuyên đề, người nghe sẽ đónggóp ý kiến hoặc nêu thắc mắc, một hoặc nhiều người sẽ trao đổi ý kiến vớingười nghe, dẫn đến kết luận
- Tọa đàm
a.3 Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy học tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Trang 19GV có thể chú ý đến biện pháp thảo luận bằng cách chia lớp ra thành 3hoặc 4 nhóm:
- Nhóm thứ nhất, tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Thạch Lam
- Nhóm thứ hai, GV yêu cầu HS thảo luận đối thoại về Bức tranh phốhuyện buổi chiều tàn
- Nhóm thứ ba, GV yêu cầu HS thảo luận, đối thoại về Bức tranh phốhuyện lúc vào đêm
- Nhóm thứ tư, GV tiếp tục yêu cầu HS thảo luận, đối thoại Bức tranh bốhuyện khi đoàn tàu đi qua
Sau khi hoàn thành xong, đại diện từng nhóm trình bày ý kiến, kết quả, cácnhóm khác lắng nghe để nhận xét, đánh giá Biện pháp này không chỉ giúp HSthoải mái thảo luận, trao đổi với nhau mà còn trao đổi, đối thoại với cả GV đểlàm rõ các vấn đề chưa hiểu Từ đó phát huy được tính tích cực, sự mạnh dạn vàkhả năng sáng tạo cũng như những cảm nhận sâu sắc của các em đối với thơ vănông
Như vậy, có thể nói, nhờ áp dụng biện pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờdạy học tác phẩm “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) thêm sôi động, hấp dẫn hơn Từ đógiúp HS giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắc hơn nhữnggiá trị đặc sắc trong sáng tác của Thạch Lam
b) Phương pháp Dạy học giải quyết vấn đề
b.1 Bản chất của dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống
có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủđộng, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rènluyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản củadạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "tư duy chỉbắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho
HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượtqua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá
Trang 20trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điềuchỉnh kiến thức sẵn có Nghĩa là tình huống có vấn đề có tác dụng kích thích tưduy nảy sinh và thúc đẩy nó phát triển Tình huống có vấn đề buộc con ngườiphải suy nghĩ, động não tạo nên những vận động tích cực bên trong của trí tuệcon người.
Như vậy, để trở thành những tình huống có vấn đề, cần phải có những yếu
tố, những điều kiện nhất định bởi không phải tình huống nào cũng là tình huống
có vấn đề Điều này có nghĩa là để tạo ra các tình huống có vấn đề đích thực,bản thân GV phải phát hiện trong tài liệu học tập của HS đâu là vấn đề có “vấnđề”, phải thiết kế thế nào để chúng trở thành các tình huống có vấn đề và phảinêu vấn đề thế nào để khơi gợi hứng thú, sự tích cực tham gia giải quyết của HS.Bởi có vấn đề nhưng không phải vấn đề nào cũng thành vấn đề của HS, khôngphải cứ nêu vấn đề là sẽ lập tức lôi cuốn HS hay khơi gợi được những vận động
tư duy, trí tuệ của các em
b.2 Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo PP nêu và giải quyết vấn đề
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Phát biểu kết luận;
+ Đề xuất vấn đề mới
Trang 21Trong dạy học theo PP nêu và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thứcmới, vừa nắm được PP lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo,được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời vàgiải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
b.3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động khởi động khi dạy
bài “Chí Phèo” (Nam Cao).
GV chiếu cho HS xem một trích đoạn vi deo trong bộ phim “Làng Vũ Đạingày ấy” GV đặt câu hỏi cho HS Câu hỏi: Đoạn clip em vừa xem có nhữngnhân vật nào? Nhân vật đó gợi cho em nhớ đến tác phẩm văn học nào? Ai là tácgiả? HS trả lời câu hỏi và GV dẫn vào bài
c) Đọc diễn cảm
Đọc là hoạt động rất quan trọng và là phương pháp đầu tiên trong quá trìnhphân tích, khám phá tác phẩm văn chương Nhờ có hoạt động đọc mà giúp HSphá vỡ được lớp ngôn ngữ ban đầu để đi sâu, khám phá những thông điệp thẩm
mỹ được tác giả gửi gắm vào nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Trong quá trình đọc, phải chú ý tới đọc đúng và đọc diễn cảm Đọc đúng làngười đọc phải trung thành với tác phẩm, không sai về ngữ âm, ngữ pháp, chính
tả, đọc rõ ràng, trôi chảy từng câu, từng đoạn và cả tác phẩm Đây là yêu cầu bắtbuộc đối với người đọc Đọc diễn cảm: là kiểu đọc ở mức độ cao hơn so với đọcđúng Đọc diễn cảm là giọng đọc phải thật truyền cảm, làm cho câu chữ trongtác phẩm được hiện lên thật sống động qua các sự vật, hình ảnh như nó vốn cótrong cuộc sống, đồng thời thể hiện được ý đồ nghệ thuật của tác giả gửi gắmvào trong từng câu, chữ Do đó, để đọc diễn cảm, trước hết người đọc phải amhiểu thật tường tận, sâu sắc tác phẩm thì mới thật sự có cảm xúc, nhập tâm vàotừng nhân vật Có như thế, người đọc mới làm cho câu chữ trở nên mềm mại,uyển chuyển, lên xuống đúng theo giọng điệu, ngữ điệu mà tác giả muốn truyềntải, đồng thời còn tạo được sự rung động trái tim người nghe, khiến mọi ngườiđồng cảm với người đọc và tác giả Tuy nhiên, để đọc cho diễn cảm thì theochúng tôi, GV cần nên đọc mẫu, sau đó hướng dẫn và yêu cầu HS đọc lại nhằmlột tả cho được tư tưởng, tình cảm của tác giả đã gửi gắm vào từng câu, chữ
Trang 22được thể hiện qua các nhân vật, những sự kiện, sự việc trong tác phẩm Điềuquan trọng là bản thân HS phải thấu hiểu được nội dung tác phẩm thì việc đọcdiễn cảm mới tốt được
Chẳng hạn như khi dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam cao, GV có thể
hướng dẫn HS đọc diễn cảm để gợi hứng thú nhập cuộc cho HS dựa trên việcxác định đúng giọng điệu tác phẩm GV hướng dẫn HS căn cứ vào kết cấu củatác phẩm tự tìm ra cách đọc thích hợp với từng đoạn, từng giọng điệu để có thểdiễn tả được cảm xúc phong phú và đa dạng của bài văn Mặt khác, khi đọc, chú
ý cách ngắt nhịp theo đúng các dấu câu tứ tự, song quan, cách cú, gối hạc, kếthợp hài hòa các giọng điệu tùy theo từng đoạn, từng câu trong tác phẩm Đọcdiễn cảm phải được thực hiện đan xen trong suốt giờ dạy học chứ không phải chỉđọc một lần duy nhất ở đầu giờ
Như vậy, việc xác định đúng giọng điệu, cách ngắt nhịp và nhịp điệu câuvăn giúp GV có thể hướng dẫn HS đọc diễn cảm để tìm ra con đường thâm nhậpvào thế giới nghệ thuật của nhà văn Đọc diễn cảm với tất cả sự rung động từđáy lòng mình để cảm nhận được tầng sâu ý nghĩa nghệ thuật còn ẩn chứa trongtác phẩm
d) Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành
để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây
là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đềbằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một
sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình Trong môn ngữ văn,phương pháp đóng vai được thực hiện trong một số nội dung học tập sau: vàovai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thể một văn bản văn họcthành một kịch bản sân khấu, xử lý một tình huống giao tiếp giả định, trình bàymột vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau… Chẳng hạn như: khi dạyđoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng),
GV có thể cho HS đóng vai các nhân vật: Xuân tóc đỏ, ông Phán, cụ Cố Hồng…
và diễn một đoạn kịch ngắn để phát huy hết những năng lực tiềm ẩn trong HS
Trang 23e) Phương pháp nghiên cứu tình huống là một phương pháp dạy học,
trong đó trọng tâm của quá trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn
đề của một trường hợp (tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn Với phươngpháp này, học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết cácvấn đề của tình huống đặt ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Cáctình huống được đưa ra là những tình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống,tình huống đó đã gặp hoặc có thể gặp hàng ngày Những tình huống đó chứađựng vấn đề cần giải quyết Để giải quyết các vấn đề đó đòi hỏi có những quyếtđịnh dựa trên cơ sở những giải pháp được đưa ra để giải quyết Trong nghiêncứu trường hợp học sinh không phải ghi nhớ lý thuyết mà quan trọng là vậndụng kiến thức đã học vào việc giải quyết những tình huống cụ thể Trong mônhọc Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiện trong một số nộidung sau: Phân tích một tình huống giao tiếp, tìm hiểu một văn bản văn học tiêubiểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống để tạo lập mộtvăn bản
Chẳng hạn, khi dạy truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, GV đặt
HS vào tình huống giả định Nếu em là Liên, em sẽ làm gì khi nhìn thấy nhưngđứa trẻ “con nhà nghèo…” trong buổi chợ tàn? Em sẽ làm gì khi phố huyệnchìm dần trong đêm? Và em có đợi đoàn tàu đến chỉ để nhìn thấy một thế giớihoàn toàn khác so với cuộc sống nơi phố huyện không? Trước các câu hỏi đó,
HS sẽ đặt mình trong tình huống cụ thể để giải quyết vến đề, từ đó tạo cơ sở đểviệc đọc hiểu có hiệu quả hơn
g) Phương pháp dạy học theo dự án
g.1 Khái niệm Dạy học theo dự án (DHDA)
DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành, tạo racác sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính
tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kếhoạch đến việc thực hiện dự án kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kếtquả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHDA
Trang 24- Thảo luận nhóm để xử lý thông tin.
- Trao đổi và xin ý kiến GV hướng dẫn
Bước 3: Tổng hợp kết quả
- Tổng hợp kết quả, xây dựng sản phẩm
- Báo cáo kết quả dự án
- Đánh giá và nhận thông tin phản hồi
- Rút ra bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án
g.3 Dạy học dự án bài “Chí Phèo” của Nam Cao
- Xác định chủ đề và yêu cầu của dự án
Để giúp cho HS khám phá nội dung sáng tác của Nam Cao thì GV cần xâydựng chủ đề và yêu cầu của dự án có liên quan đến nội dung bài học trên lớp Cụthể, GV cung cấp số đề tài liên quan đến bài học về tác giả Nam Cao, tác phẩm
Chí Phèo cho HS lựa chọn thực hiện
Dạy học bài Chí Phèo, GV có thể cung cấp các đề tài xoay quanh chủ đề
“Người nông dân” hoặc “người trí thức tiểu tư sản” cho HS lựa chọn để thựchiện Với những chủ đề lớn và các đề tài nhỏ được đặt ra, GV yêu cầu mỗi nhóm
HS tùy vào sở trường và sở thích, năng lực, năng khiếu của từng cá nhân, nhóm
mà chọn lựa để thể hiện sản phẩm của mình bằng bài viết nghiên cứu, hay tờ rơi,tập báo ảnh, hoặc clip, phim, Sau khi các nhóm thực hiện xong sản phẩm dự
án thì tiến hành báo cáo, công bố giới thiệu trước tổ, lớp, khối hay cả trường
- Mục đích của dự án:
Trang 25+ Giúp HS hiểu sâu về con người và tác phẩm của Nam Cao luôn gắn liềnvới những giá trị hiện thức xã hội và giá trị nhân đạo sâu sắc.
+ Phát triển kĩ năng thu thập thông tin qua sách báo, tranh ảnh, tài liệutham khảo, trang mạng, tham quan,… và cả ách xử lí thông tin để trình bàynhững hiểu biết của bản thân HS liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp Nam Cao.+ Nhằm giáo dục và nâng cao ý thức cho HS giữ gìn và phát huy những giátrị văn học và giá trị văn
+ Giúp HS phát triển kĩ năng trình bày trước đám đông cũng như tự bộc lộ,bày tỏ những suy nghĩ, quan điểm thái độ của bản thân về cuộc đời, sự nghiệpcủa Nam Cao
- Cách thức thực hiện
Bước 1) Xây dựng kế hoạch thực hiện
Để tổ chức thành công các chủ đề dự án trên, GV hướng dẫn HS biết cáchxây dựng kế hoạch, đảm bảo các mặt (thời gian, phân công công việc trongnhóm, phương pháp tiến hành, thiết bị cần dùng, kinh phí,…)
Bước 2) Thực hiện dự án
Mỗi nhóm cần xây dựng bản kế hoạch chi tiết cho từng công việc và luônthể hiện tinh thần làm việc nhóm, khả năng tư duy sáng tạo, khả năng suy nghĩđộc lập và cách giải quyết các vấn đề theo sự sáng tạo riêng Lưu ý, trong quátrình thực hiện, GV cần động viên, khích lệ HS nhằm phát huy được tất cảnhững sở trường, năng lực cá nhân để thực hiện đề tài dự án đạt hiệu quả caonhất
Bước 3) Thu thập kết quả
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng bài viết nghiên cứu,báo cáo, hay tờ rơi, báo tường, tập tranh ảnh, clip,… Bài viết có thể được trìnhbày trên phần mềm powerpoint, hay dạng văn bản viết, hoặc là các ấn phẩm(bản tin, báo, áp phích), phim, ảnh,…
Bước 4) Công bố sản phẩm
Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS và được giớithiệu trong toàn trường
Trang 26Bước 5) Đánh giá dự án
Đây là giai đoạn kết thúc dự án, ngoài GV kiểm tra, đánh giá thì bản thân
HS, cũng như những người tham dự đều tham gia đánh giá Từ đó giúp cho mỗi
HS tự nhận thấy được mặt ưu và mặt khuyết của mình để rút kinh nghiệm choviệc thực hiện đề án tiếp theo
Tất cả những biện pháp, kĩ thuật dạy học trên sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho GVtrong việc dạy học chủ đề truyện hiện đại (Ngữ văn - lớp 11)
b) Hình thức tổ chức
Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh là một trongnhững nhân tố góp phần không nhỏ vào sự thành công trong việc nâng cao hiệuquả của công tác giáo dục ở trường trung học phổ thông
Dạy học môn ngữ văn ở trường THPT thường được tổ chức dưới bốn hìnhthức: dạy học trong lớp, dạy học ngoài lớp, tổ chức cho HS học ngoài thực địa
và tổ chức các hoạt động ngoại khóa: HS đóng kịch, sắm vai, liên quan đến
các nội dung học tập Trong đó hai hình thức cơ bản là: hình thức tổ chức dạy
học trong lớp và ngoài lớp
Hình thức tổ chức dạy học trong lớp là hình thức tổ chức dạy học trongcác giờ học chính khóa Trong đó giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động học tập chohọc sinh theo các nội dung học tập Hình thức tổ chức dạy học này được thựchiện theo các cách sau: Học theo cá nhân, học theo nhóm, học theo góc Hoạtđộng học theo góc là hình thức tổ chức hoạt động học tập mà người học thựchiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứngnhiều phong cách học khác nhau và người học có quyền lựa chọn các phongcách phù hợp, tạo cơ hội khám phá, thực hành, mở rộng, phát triển, sáng tạo, đọchiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; cơ hội cá nhân tự
áp dụng và trải nghiệm Do vậy học theo góc kích thích người học tích cựcthông qua hoạt động; mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoảimái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữathầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi
Trang 27Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp học là hình thức quan trọng, gắn cácnội dung học tập với việc vận dụng vào thực tiễn Hình thức tổ chức này gópphần tạo ra một không gian học tập mở, giúp học sinh có thêm các cơ hội để thểhiện năng lực học tập của mình Có thể tổ chức hoạt động ngoài lớp học dướidạng các hoạt động ngoại khóa như: tổ chức câu lạc bộ văn học dân gian, câu lạc
bộ thơ; hội thi sáng văn chương cho học sinh (viết truyện, thơ, kịch bản vănhọc…), hội thi hùng biện về chủ đề xã hội hay văn học đang được quan tâm,hoặc tổ chức các cuộc giao lưu giữa học sinh với các nhà văn, nhà thơ… đểkhuyến khích tài năng sáng tác văn học của học sinh, đồng thời qua đó học sinhđược trải nghiệm mình ở vị trí người sáng tác để cảm nhận và hiểu rõ hơn quyluật sáng tạo văn chương chính là quy luật của tình cảm, cảm xúc
2.2.3 Giải pháp 3: Xây dựng cách thức tổ chức và thiết kế giờ dạy đọc hiểu hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
a) Cách thức tổ chức giờ đọc hiểu
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồidưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡngphương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thúhọc tập cho người học
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổimới mạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên Trong thiết kế, giáo viênphải cho thấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu Với giáo viên,phương pháp thuyết trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chứchoạt động cho học sinh bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án
Trong giờ dạy, giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giảiquyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâuhơn kiến thức mới Theo tinh thần đó, thiết kế bài học được biên soạn theo cácbước sau:
Bước 1: Chuẩn bị bài dạy
Trang 28Trong kế hoạch bài dạy giáo viên cần xác định rõ các yêu cầu về Kiếnthức, kỹ năng, thái độ và các năng lực, phẩm chất hướng đến Bằng việc xácđịnh mục tiêu này trong quá trình dạy học giáo viên sẽ có thể lựa chọn đượcphương pháp giảng dạy phù hợp, cách thức tổ chức lớp học theo đúng mục tiêu
đã định
Do yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các nội dung chủ đề đặt ratrong từng văn bản ở các truyện ngắn hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dâncủa mỗi học sinh đã khiến việc chuẩn bị kiến thức hỗ trợ chủ đề truyện ngắnhiện đại mang một ý nghĩa tích hợp rộng hơn.Yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên phảichuẩn bị kỹ các nhiệm vụ giao cho HS, GV giao cho các nhóm HS cùng sưu tầm
các tư liệu ngoài văn bản liên quan đến chủ đề trên các nguồn thông tin đại
chúng (phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âmnhạc ) làm chất liệu cho dạy đọc hiểu truyện ngắn hiện đại
Với chủ đề truyện ngắn hiện đại lớp 11, GV có thể chuẩn bị những cliplên quan đến nội dung bài dạy như: đoạn trích trong bộ phim “Làng Vũ Đạingày ấy”; hình ảnh làng quê Việt Nam trong những năm trước cách mạng; đoạntrích phim “Số đỏ”; các hình ảnh về Chữ thư pháp của các nhà Nho thời xưa…Ngoài ra GV phải chuẩn bị tất cả các thiết bị chuẩn bị cho giờ dạy một cách chuđáo, kỹ lưỡng
Bước 2: Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt ra các vấn đề, các câu hỏi, giao nhiệm vụ cho HS (cho nhóm HS),
từ đó sẽ hình thành các phẩm chất năng lực mà người học hướng tới Chẳng hạnkhi giao nhiệm vụ cho HS để đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao), GVnêu vấn đề: Theo em làng quê Việt Nam ngày nay có giống với làng Vũ Đạitrong truyện ngắn “Chí Phèo” không? Từ đó em thấy mình có trách nhiệm gì đểđóng góp, xây dựng quê hương đất nước Khi trả lời câu hỏi này các em đã hìnhthành năng lực: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề vàsáng tạo; Năng lực ngôn ngữ…Từ đó hình thành phẩm chất yêu nước, trungthực, trách nhiệm…
Trang 29Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ: HS làm bài tập, thực hiện nhiệm vụ GV đã
giao cho (Thực hiện ở nhà)
Bước 4: Báo cáo kết quả học tập: Trên các nhiệm vụ được giao HS sẽ
báo cáo kết quả trước lớp, các bạn khác cho ý kiến
Bước 5: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trên cơ sở nội dung báo
cáo của các nhóm, GV nhận xét bổ sung và chốt ý
b) Thiết kế bài dạy đọc hiểu nhằm phát triển phẩm chất, năng lực b.1 Hoạt động khởi động
* Mục đích của hoạt động
– Hoạt động khởi động giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng
để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới
– Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới
– Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về nhữngvấn đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học
* Nội dung, hình thức khởi động
– Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau vềmột vấn đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đãhọc ở cấp/lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹnhàng
– Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: một số hoạt động yêu cầu học sinhđọc diễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học.Các hoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi,nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới
– Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứngthú trước khi vào bài học mới Các trò chơi này cũng cần có nội dung gắn vớimỗi bài học
Hoạt động khởi động khi dạy tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam GVgiao nhiệm vụ cho học sinh đóng đoạn kịch (đoạn hai chị em Liên chờ tàu) Gvhỏi: đoạn kịch trên thuộc tác phẩm nào? Đoạn nào của tác phẩm?
Trang 30Hs trả lời, gv dẫn vào bài mới: Nói đến xu hướng văn học lãng mạn Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945, chúng ta không thể không nói đến nhà văn Thạch Lam Thạch Lam chỉ sáng tác trong khoảng 6 năm và mất khi mới 32 tuổi; nhưng ông đã có những đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện đại hóa Ông là cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc, đã đem đến cho văn học một phong cách nghệ thuật truyện ngắn độc đáo với tư tưởng nhân đạo, sâu sắc mới mẻ Điều đó được thể hiện qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ”.
b.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệthống các bài tập/nhiệm vụ
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt vàTập làm văn trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:
Đọc hiểu văn bản
Bước này yêu cầu học sinh đọc văn bản và chú thích Giáo viên có thểgiao nhiệm vụ cho học sinh đọc trước ở nhà Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bàingắn và một vài lưu ý trong chú thích Sau đó giáo viên thiết kế những hoạtđộng hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tậphợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kếthợp tự luận; thiết kế các hoạt động kích thích, sáng tạo… Nội dung các bàitập/nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại,nội dung, nghệ thuật của văn bản
Tích hợp kiến thức kỹ năng Tiếng Việt
Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản Giáo viên đưa ra một số bàitập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt Các khái niệmthuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kỹ năng, giúp họcsinh dễ tiếp nhận hơn
Trang 31Tích hợp kiến thức, kỹ năng làm văn
Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và TiếngViệt Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm vănđược giảm tải và chuyển hóa thành kỹ năng
Lưu ý:
– Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bàitập/nhiệm vụ để có phương án giải quyết Có thể kích thích lại hứng thú hoặc rabài tập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dầnhiểu biết của các em
– Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân,hoạt động nhóm Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả vàthảo luận với giáo viên
Với truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao Khi hướng dẫn HS đọc hiểu,
GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học và PPDH phù hợp với đặc trưng thểloại Khi tổ chức Hoạt động hình thành kiến thức, GV chia nhóm và giao nhiệm
vụ cụ thể:
Nhóm 1: Lai lịch, tính cách của Chí Phèo trước khi vào tù?
Nhóm 2: Sự thay đổi về nhân hình, nhân tính và ý nghĩa tiếng chửi củaChí Phèo sau khi ra tù?
Nhóm 3: Qúa trình thức tỉnh của Chí Phèo (Diễn biến khi gặp Thị Nở)Nhóm 4: Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí
Nhóm 5: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm?
Khi HS giải quyết được các nhiệm vụ GV giao cho, các em sẽ hình thànhcác năng lực: Năng lực hợp tác; Năng lực tự học, Năng lực sáng tạo; Năng lựcgiải quyết vấ đề… Từ cuộc đời của Chí Phèo, học sinh sẽ nhận thức được vấn đề
b.3 Hoạt động luyện tập – thực hành
* Mục đích của hoạt động
Yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạtđộng hình thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Thông qua
Trang 32đó giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức
độ nào
* Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ
– Hoạt động thực hành gồm các bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng
có các tri thức vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan
– Các bài tập/nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự; Đọc hiểuvăn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn
– Các bài tập/nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đếnviệc hình thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hìnhthành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức Đây là hoạt độnggắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn…
b.4 Hoạt động ứng dụng
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giảiquyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế “Thực tế” ở đây được hiểu là thực tếtrong nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học sinh Hoạt động này
sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biếtcủa mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải quyếtvấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực, phẩm chất học tập với gia đình
và cộng đồng
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Trang 33Các bài tập ứng dụng gồm các loại:
– Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng vănhọc, văn hóa khác tương ứng Ví dụ: giải thích các câu tục ngữ, phân tích các bài
ca dao, nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa…
– Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đềnhư: giải nghĩa, từ loại, xác định cấu tạo từ… trong các hiện tượng ngôn ngữ củacuộc sống
– Tiếp tục rèn luyện kỹ năng làm văn
Lưu ý:
Hoạt động ứng dụng khác với Hoạt động thực hành Hoạt động thực hành
là làm các bài tập cụ thể do giáo viên hoặc sách hướng dẫn đặt ra, còn Hoạtđộng ứng dụng là hoạt động được triển khai ở nhà, cộng đồng; động viênkhuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo; giúp học sinh gần gũi với gia đình,địa phương, tranh thủ sự hướng dẫn của gia đình, địa phương Học sinh tự đặt rayêu cầu cho mình, trao đổi và thảo luận với gia đình và cộng đồng để cùng giảiquyết Tuy nhiên Hoạt động ứng dụng vẫn có thể được tổ chức trên lớp nếu giáoviên thấy cần thiết và có thời gian
1.5 Hoạt động bổ sung
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng Hoạtđộng này dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của học sinh là khôngngừng, như vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rènluyện sau mỗi bài học cụ thể
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể
– Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
– Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thânnghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa câu chuyện…
– Tìm đọc sách, báo, mạng internet…một số nội dung theo yêu cầu
Lưu ý:
Trang 34– Các nhiệm vụ trong Hoạt động bổ xung được thiết kế cho học sinh tựlàm việc ở nhà.
– Hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, đồng thời yêu cầuhọc sinh làm các bài tập đánh giá năng lực
Thời gian cho mỗi hoạt động cần được xác định sao cho phù hợp với sốtiết học được phân bố cho từng cụm bài/chủ đề, thời khóa biểu lên lớp của giáoviên
Trong thiết kế bài học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực chohọc sinh cấp THPT nói trên, giáo viên cần xác định và nêu rõ các cách thức tổchức hoạt động cho cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt độngchung cả lớp, hoạt động với cộng đồng
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bàitập/nhiệm vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả nănghoạt động độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bàitập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù Giáo viêncần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh
sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kỹ năng sẽkhông được rèn luyện một cách tập trung
+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm: là những hoạt động nhằm giúphọc sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng.Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung bàitập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm Thôngthường, hình thức hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp,những bài tập cần sự chia sẻ Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nộidung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…Hình thức hoạt độngnhóm được sử dụng trong trường hợp cần sự hợp tác
+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đônghọc sinh Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thầnđoàn kết, sự chia sẻ, tinh thần chung sống hài hòa
Trang 35+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động của học sinh trong mốitương tác với xã hội Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơngiản như: tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địaphương….
Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực,phẩm chất của học sinh cấp THPT trên đây là một hướng đi mới đáp ứng đổimới PPDH
Tiểu kết chương 2
Nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh trường trung học là một quátrình lâu dài và phức tạp Đó là quá trình thực hiện đồng bộ giữa nâng cao nhậnthức và hình thành thái độ, cảm xúc, niềm tin và thói quen hành vi theo cácchuẩn mực đạo đức Để quá trình đó mang lại hiệu quả như mong muốn, sángkiến đã căn cứ vào kết quả khảo sát thực trạng và dựa vào cơ sở lí luận của quản
lý nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh trường trung học THPT đã đề xuất
ra những giải pháp cụ thể để hình thành phẩm chất, năng lực cho HS thông quagiờ đọc hiểu văn bản cụ thể Từ những phẩm chất, năng lực được hình thành các
em học sinh sẽ dần hoàn thiện bản thân và nhân cách