Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản về một bộ phận, thể loại văn học Việt Nam tiêu biểu của thế kỷ XX,thơ cách mạng còn bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên và cuộc sống con
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG
Tác giả sáng kiến: TRẦN THỊ HẰNG
Mã sáng kiến: 38.51.01
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 2SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG
Tác giả sáng kiến: TRẦN THỊ HẰNG
Mã sáng kiến: 38.51.01
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ 1
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1
1 Lời giới thiệu 1
2 Tên sáng kiến 2
3 Tên tác giả sáng kiến 2
4 Chủ đầu tư sáng kiến: tác giả sáng kiến 2
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 2
6 Ngày sáng kiến được áp dụng: 2
7 Mô tả bản chất của sáng kiến 2
I VỊ TRÍ CỦA THƠ CÁCH MẠNG (1930-1945) TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 3
II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC THƠ CÁCH MẠNG (1930-1945) TẠI TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG 3
1 Nội dung, nghệ thuật các tác phẩm và phân phối thời gian của tác phẩm 3
2 Học sinh 4
2.1 Thực trạng về sự yêu thích thơ cách mạng (1930-1945) và sự hiểu biết khái quát về thơ cách mạng (1930-1945) của học sinh 4
2.2 Thực trạng về kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh 5
3.3 Biện pháp thứ 3: Hướng dẫn học sinh ra đề đọc – hiểu và nghị luận xoay quanh hai tác phẩm “Chiều tối” (Hồ Chí Minh), “Từ ấy” (Tố Hữu) 22
3.3.1 Ma trận đề đọc hiểu và đề nghị luận (Giáo viên cung cấp ma trận các dạng đề) 22
3.3.2 Hướng dẫn học sinh ra đề 25
3.4 Biện pháp thứ 4: Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh tác phẩm “Chiều tối” (Hồ Chí Minh) và “Từ ấy” (Tố Hữu) 26
3.4.1 Kiểu bài: Phân tích/cảm nhận đoạn thơ, tác phẩm thơ 26
3.4.2 Kiểu bài: Chứng minh một ý kiến 29
3.4.3 Kiểu bài so sánh hai đoạn trích/ 2 tác phẩm 36
3.3.4 Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 40
Trang 43.5 Biện pháp thứ 5: Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực 42
3.5.1 Mục tiêu, nội dung và cách thức đánh giá chung theo định hướng phát triển năng lực 423.5.2 Mục tiêu, nội dung và cách thức đánh giá môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 443.5.3 Đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Ngữ văn trong hai tác phẩm “Chiều tối” (Hồ Chí Minh), “Từ ấy” (Tố Hữu) 45
8 Những thông tin cần được bảo mật: không 50
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh học xong các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) theo phân phối chương trình của
Bộ GD&ĐT 50
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung sau: 50
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 5BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
M.Gorki từng nói “Văn học là nhân học” Đúng như vậy, mỗi tác phẩmvăn học có giá trị đều mang trong mình xứ mệnh thiêng liêng của nó Thơ cáchmạng Việt Nam giai đoạn (1930-1945) có vị trí quan trọng trong chương trìnhNgữ văn Trung học Phổ thông Đặc biệt, chức năng văn học của các tác phẩmthơ cách mạng vô cùng to lớn Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản về một bộ phận, thể loại văn học Việt Nam tiêu biểu của thế kỷ XX,thơ cách mạng còn bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên và cuộc sống con người; ýchí, nghị lực vượt lên trên hoàn cảnh, luôn lạc quan, yêu đời; có lý tưởng sốngcao đẹp,… Đồng thời thơ ca cách mạng (1930-1945) góp phần giúp học sinhphát triển năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học Đặc biệt năng lực đặcthù môn Ngữ văn là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Từ đó, hình thànhnhững phẩm chất “vàng” của thanh niên thế hệ mới: yêu nước, nhân ái, chămchỉ, trung thực và trách nhiệm
Thơ cách mạng (1930-1945) nằm trong bộ phận văn học không công khaitrước cách mạng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và phê bìnhvăn học Cho đến nay lịch sử nghiên cứu về thơ ca cách mạng (1930-1945)
tương đối dày dặn Tiêu biểu trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam 1900-1945 (Phan Cự Đệ - Trần Đình Hựu - Nguyễn Trác - Nguyễn
Hoành Khung - Lê Trí Dũng - Hà Minh Đức), NXB Giáo Dục, 2005 Sau đó có
các cuốn nghiên cứu riêng từng tác giả, tác phẩm như: Hoàng Trung Thông, Bác
Hồ làm thơ và thơ của Bác, trong Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979; Vũ Quần Phương, Suy nghĩ mới về Nhật
kí trong tù, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995; Tố Hữu tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, 2015; Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Văn hoá – Thông tin,
2001… Tuy nhiên thơ cách mạng (1930-1945) ở trường phổ thông cho đến nayvẫn chưa có nhiều công trình chuyên biệt, đầy đủ Trong thực tế giảng dạy ởtrường phổ thông, các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) dài, phân phối thờigian còn ít Học sinh có hứng thú nhưng hiểu biết còn hời hợt và cảm tính,…
Trong những năm gần đây, đổi mới Giáo dục và Đào tạo là nhiệm vụtrọng tâm của ngành giáo dục Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đặc biệt làNghị quyết Trung ương số 29 - NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiệnđại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay Thực hiện Nghị quyết, bêncạnh việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học thì kiểm tra đánh giá là vấn
đề quan trọng Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Ngữ văn nhằm cung cấp
Trang 6thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt vềphẩm chất, năng lực và những tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tậpthông qua việc hình thành và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói nghe.
Sáng kiến kinh nghiệm của tác giả nhằm mục đích đưa ra được một sốbiện pháp nâng cao hiệu quả ôn tập thơ cách mạng (1930-1945) trong chươngtrình Ngữ văn 11 ở trường THPT A Một số biện pháp này tác giả đã thựcnghiệm, đem lại hiệu quả nhất định Hy vọng được sự đóng góp, trao đổi kinhnghiệm từ các thầy cô bộ môn để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn và trở thànhtài liệu tham khảo hữu ích cho học sinh và giáo viên giảng dạy bộ môn
2 Tên sáng kiến
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ CÁCH MẠNG (1930-1945) TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 TẠI TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG
3 Tên tác giả sáng kiến
6 Ngày sáng kiến được áp dụng:
18 /2 /2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
Về nội dung của sáng kiến:
Trang 7I VỊ TRÍ CỦA THƠ CÁCH MẠNG (1930-1945) TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1 Ở nhà trường phổ thông, hai tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945)trong chương trình Ngữ văn 11 là hai tác phẩm có giá trị sâu sắc Giáo viên kháhứng thú trong quá trình dạy và học sinh cũng hứng thú trong khi học Tuy nhiêntrong thực tế giảng dạy, việc dạy học hai tác phẩm này ở trường trung học phổthông hiện nay chưa đạt kết quả như mong muốn.Việc dạy học thơ cách mạng(1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11 còn theo sở thích, cảm tính Làmthế nào để việc ôn tập thơ cách mạng (1930-1945) sao cho hiệu quả là việc bứcthiết ở nhà trường phổ thông hiện nay
2 Cấu trúc chương trình thơ cách mạng (1930-1945) ở lớp 11
Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, ban cơ bản gồm hai tác phẩm:
- “Chiều tối” - Tố Hữu, thời lượng 01 tiết.
- “Từ ấy” - Tố Hữu, thời lượng 01 tiết.
Ngoài ra đọc thêm: “Lai tân” (Hồ Chí Minh); “Nhớ đồng” (Tố Hữu)
II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC THƠ CÁCH MẠNG 1945) TẠI TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG
(1930-Để đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu quả ôn tập thơ cáchmạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11, tác giả sáng kiến đã tiếnhành khảo sát thực trạng dạy học thơ cách mạng (1930-1945) nơi tác giả đangcông tác
1 Nội dung, nghệ thuật các tác phẩm và phân phối thời gian của tác phẩm
Các tác phẩm được chọn dạy trong chương trình nhìn chung là những tácphẩm tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật Những tác phẩm đó đều thể hiện kháđầy đủ nội dung, nghệ thuật chủ đạo của thơ cách mạng (1930-1945) trongchương trình Ngữ văn 11 Tuy nhiên, sự phân phối thời gian lại quá ít Giáo viên
và học sinh có thể nhấn mạnh khâu này, lướt qua khâu kia nhưng dù sao cũngphải tổ chức các hoạt động dạy học qua những bước cụ thể từ tìm hiểu chung vềtác giả, tác phẩm, định hướng đọc – hiểu văn bản,… Điều đó khó tránh khỏi tìnhtrạng “cưỡi ngựa xem hoa”
Trang 82 Học sinh
2.1 Thực trạng về sự yêu thích thơ cách mạng (1930-1945) và sự hiểu biết khái
quát về thơ cách mạng (1930-1945) của học sinh
Để đánh giá được điều này tác giả sáng kiến đã tiến hành điều tra khảo sátkết quả học tập thông qua (Bài viết văn của khối 11 tại Nhà trường) Kết quảđược tác giả tổng hợp như sau:
Bảng tổng hợp điều tra kết quả học tập môn Ngữ văn khối 11
(Bài viết 90 phút ).
TT Tên lớp Số HS
Tỷ lệ kết quả kiểm tra bài viết
Giáo viên Giỏi Khá Trung
Thông qua bảng số liệu điều tra trên, cho thấy chỉ số phần trăm kết quả bàikiểm tra ở cột trung bình vẫn chiếm ở mức cao nhất (từ 45-65%) Điều này cho
thấy đa số vẫn ở mức độ trung bình Chứng tỏ rằng: Học sinh vẫn thiếu kiến
thức về văn học sử và lí luận văn học đặc biệt kiến thức khái quát về thơ cáchmạng (1930-1945); học sinh chưa có cái nhìn xuyên suốt thời kì nên giải quyếtvấn đề còn lúng túng, chưa sâu sắc, thấu đáo
Trang 92.2 Thực trạng về kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn
nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong
chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
Qua phiếu thăm dò ý kiến giáo viên về: Kĩ năng hệ thống hoá kiến thứctrọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cáchmạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
Trang 10PHIẾU KHẢO SÁT KĨ NĂNG DÀNH CHO GIÁO VIÊN TRỰC TIẾP DẠY MÔN NGỮ VĂN KHỐI 11
Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh trong quá trình học tập
Nhằm phục vụ cho mục đích đánh giá thực trạng, trên cơ sở đó đề xuấtgiải pháp nâng cao hiệu quả trong việc ôn tập thơ cách mạng (1930-1945) trongchương trình ngữ văn 11 tại trường THPT Hai Bà Trưng, xin quý thầy cô vuilòng đọc kỹ các biểu hiện và đánh dấu (+) vào ô tương ứng phù hợp với suynghĩ của mình
0 = Hoàn toàn học sinh không có các kĩ năng này.
1 = Đôi khi các kĩ năng này được học sinh thể hiện
2 = Các kĩ năng này học sinh thể hiện mức độ trung bình
3 = Các kĩ năng này học sinh thể hiện một cách thường xuyên, dễ dàng.
4 = Các kĩ năng này học sinh thể hiện ở mức độ rất sáng tạo, rất dễ dàng.
Theo các thầy cô: Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11 được học sinh thể hiện ở mức độ nào?
chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
2 Kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các
tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong
chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
Trang 11Tác giả sáng kiến đã thu được kết quả ở bảng tổng hợp dưới đây:
Bảng tổng hợp thực trạng về Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và
kĩ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm thơ cách mạng 1945) trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
mức độ Trung bình hoặc mức độ Đôi khi (mức 1, mức 2); Điều này cho thấy,
Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoayquanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11của học sinh còn nhiều hạn chế Học sinh thường ôm đồm, chưa xác định trọngtâm ôn tập nên trong quá trình làm bài chưa hiệu quả Hơn nữa, kĩ năng giảiquyết các đề văn nghị luận của các em còn lúng túng, làm bài lan man, chưatrọng tâm
Tóm lại: Kết quả điều tra, tìm hiểu cho thấy, trong thực tế giảng dạy ở
trường phổ thông, các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) dài, phân phối thờigian còn ít Học sinh có hứng thú nhưng hiểu biết còn hời hợt và cảm tính, kĩnăng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kĩ năng làm bài văn nghị luận xoayquanh các tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11của học sinh còn hạn chế Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực của học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới dạyhọc hiện nay Thực trạng trên đã đặt ra những vấn đề thực tiễn cần giải quyết,cần đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn tập thơ cách mạng(1930-1945) trong chương trình ngữ văn lớp 11
Trang 12III MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ CÁCH MẠNG (1930-1945) TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 TẠI TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG
3.1 Biện pháp thứ nhất: Ôn tập khái quát thơ cách mạng (1930-1945)
ca cáng mạng (1930-1945)
ở nước ta
Học sinh hiểu được hoàn cảnh lịch sử,
xã hội chi phối đến các chặng đường phát triển.
Vận dụng hiểu biết về các chặng đường phát triển của thơ cách mạng (1930-1945) ở nước ta vào việc đọc hiểu các tác phẩm
- Vận dụng hiểu biết
về các chặng đường phát triển của thơ cách mạng (1930- 1945) ở nước ta vào việc làm văn nghị luận xoay quanh tác phẩm thuộc giai đoạn Từ hiểu biết
đó lí giải được hoàn cảnh lịch sử xã hội chi phối như thế nào tới nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
Học sinh hiểu bản chất của các giá trị đó.
Học sinh vận dụng được kiến thức giá trị của thơ cách mạng (1930-1945) để phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm.
Học sinh phải đánh giá những những sáng tạo, mới mẻ của các tác giả trong cùng giai đoạn,…
3.1.2 Các chặng đường phát triển của thơ cách mạng (1930-1945)
Thơ cách mạng là một trong các thể loại của văn học cách mạng Dòngdòng văn học phát triển theo ý thức hệ của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản Việt Nam Văn học cách mạng thuộc bộ phận văn học khôngcông khai của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Támnăm 1945 Các chặng đường phát triển của thơ cách mạng Việt Nam (1930-1945):
Trang 13a Thời kì đầu: 1930-1935
- Cơ sở xã hội:
+ Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương
+ Sự lớn mạnh của cao trào Xô viết Nghệ -Tĩnh
+ Sự khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp đã tạo nên làn sóng căm phẫntrong quần chúng
- Mở đầu là sáng tác thơ gắn liền với cao trào cách mạng 1930-1931 màđỉnh cao nhất là Xô viết Nghệ - Tĩnh Đây là một nền văn học dân gian truyềnmiệng tự giác, tiền thân là nền văn học quần chúng sau này Từ tháng 5/1931đến năm 1933 là thoái trào của cách mạng Nhiều chiến sĩ vô sản bị bắt Thơcách mạng cũng rút vào nhà tù Bất kì dưới đề tài nào thơ nhà tù vẫn tràn đầylòng tin vào tương lai Dù bị cùm trói, người chiến sĩ “cứ huấn luyện, cứ tuyêntruyền, cứ cổ động” Họ viết:
“Còn non, còn nước, còn dài
Còn vừng trăng bạc, còn lời sắt son
Trăng kia, khuyết đó, lại tròn”
(Hồ Văn Ninh – “Thư về xã”)
b Thời kì giữa: 1936-1939
- Đây là thời kì Mặt trận Dân chủ Trước sự lớn mạnh của Mặt trận dân
chủ, Đảng đã tranh thủ thời gian hợp pháp để tuyên truyền cách mạng, kêu gọiquần chúng nhân dân
- Thơ cách mạng đã khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ cộngsản say mê lí tưởng, mang một tinh thần nhân đạo mới mẻ Tiêu biểu là các tácphẩm của Tố Hữu: “Từ ấy” Những bài thơ hừng hực lửa đấu tranh cách mạngcủa Tố Hữu đánh dấu một bước phát triển mới của thơ ca
c Thời kì cuối: 1939-1945
- Năm 1943, bản “Đề cương văn hoá” được viết ra để chỉ đạo công tác
văn hoá Lần đầu tiên quan điểm Mác – Lênin ở Việt Nam về vấn đề văn hoáđược trình bày rõ ràng
- Trước sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc, thực dân Pháp ra
sức đàn áp, văn học đi vào hoạt động bí mật nhưng văn học cách mạng vẫn toảánh sáng ra bên ngoài, thơ ca trong tù vẫn phát triển để cổ vũ phong trào cáchmạng
- Các sáng tác:
Trang 14+ Phần “Xiềng xích” trong tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu đã khắc hoạ hìnhtượng người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, sôi nổi căm hờn, lòng dặn lòng khôngbao giờ nản chí, không bao giờ chịu khuất phục quân thù.
+ Tập “Ngục trung nhật ký” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng tác trong cácnhà tù, bên kia biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) Tập thơ mà “Uy
vũ bất năng khuất”, “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”, là tiếng nóilạc quan, yêu đời, “một viên ngọc quý đánh rơi vào kho tàng văn học Việt Nam”(Nguyễn Trác)
…Nhìn chung thơ cách mạng (1930-1945) đã phản ánh đúng đặc trưng củathời đại góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hoá nền văn học nước nhà
3.1.3 Giá trị của thơ cách mạng (1930-1945)
a Giá trị nội dung:
- Chủ nghĩa yêu nước: Thơ cách mạng đã kế thừa truyền thống yêu nước
và phát triển lên mức cao hơn, sâu sắc và toàn diện hơn ở thời đại mới
+ Lòng yêu nước, thương dân cụ thể hơn xưa Dân không chỉ có dân tộc
mà còn có tính giai cấp, chủ yếu là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Họ
là những người nghèo khổ, bị áp bức bóc lột Yêu nước là phải chiến đấu giànhđộc lập, tự do, dân chủ gắn với giai cấp:
“Cướp chính quyền giao lại công nôngLập Xô viết, giữ non song Hồng LạcCõi đại đồng tiến lên cực lạc
Khắp năm châu, vạn quốc một nhà”
(“Nhìn lại phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh” – Nguyễn Thế Vỹ)+ Yêu nước luôn luôn tin tưởng ở tương lai, tin tưởng vào sự nghiệp cáchmạng Niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ chiến sĩ trong tù đày trong thơXuân Thuỷ:
“Ta nghĩ, ngày mai hết đói nghèoHết tù, hết tội, hết gieo neo
Trong, ngoài bốn bể anh em cả
Ôi đẹp! Vườn xuân những sớm chiều”
(“Không giam được trí óc”) Hay những vần thơ giản dị đậm chất nhân văn nhưng cũng chứa đầy
chất “thép” của Bác trong tập “Nhật kí trong tù” và những tiếng reo ca hứng
Trang 15khởi, ngập tràn say mê đối với lí tưởng cộng sản một cách rộn rã nhất trongthơ Tố Hữu…
- Nhân sinh cộng sản chủ nghĩa:
+ Người cộng sản tiếp thu thái độ coi khinh cái chết Họ quan niệm sống
là để đấu tranh Nếu cần phải chết, họ sẽ chết ý nghĩa nhất Người cộng sản tin ở
sự tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tin ở thắng lợi tất yếu của quần chúngnhân dân
+ Người cộng sản giàu tình cảm nhưng không phải là thứ tình cảm ích
kỉ, hẹp hòi vì mình, vì gia đình mà là thứ tình cảm rộng lớn hơn nhiều, vì giaicấp, vì dân tộc Với lập trường tư tưởng của mình người nghệ sĩ – chiến sĩ ấy đãgạt bỏ mọi ý nghĩa, tình cảm cá nhân; vui, buồn, sướng, khổ, sống, chết ra ngoàitầm tính toán hàng ngày để đem tất cả ra mà tận hiến cho Đảng, cho đồng bào,cho Tổ quốc
b Giá trị nghệ thuật
Thơ cách mạng (1930-1945) theo ý thức hệ vô sản, lực lựng sáng tácchủ yếu là những người chiến sĩ vô sản Lãnh tụ của họ là Nguyễn Ái Quốc.Ngay từ đầu thơ cách mạng đã có đóng góp về nghệ thuât Bên cạnh kế thừanghệ thuật của thơ trung đại như thể thơ, bút pháp,… thì thơ cách mạng đã manghơi thở riêng, đã khoác lên mình ý nghĩa hình tượng mới phù hợp với thời đại(ngôn ngữ thơ vừa hàm súc nhưng giản dị, gần gũi với đời thường; hình ảnh thơgiản dị, chân thực thấm đẫm nhân sinh quan người chiến sĩ cộng sản…)
Có thể nói, thơ cách mạng Việt Nam (1930-1945) là đã kế thừa văn họcdân gian nhất là thơ văn yêu nước chống Pháp trước đó Dưới sự lãnh đạo củaĐảng, thơ cách mạng (1930-1945) mang nhiều yếu tố của một thời đại mới, thờiđại xã hội chủ nghĩa Nó đã làm tròn nhiệm vụ đối với dân tộc một cách xuấtsắc Nếu văn học lãng mạn bế tắc trong mộng tưởng, không tìm được bến đỗ vàcâu trả lời; văn học hiện thực dù phản ánh nỗi đau đớn cả về thể xác lẫntinh thần của con người, nhưng cái kết cục vẫn là “bước đường cùng”, thì vănhọc cách mạng không những chỉ ra bản chất hiện thực mà còn vạch ra cả hướng
đi cho con người, để cải tạo xã hội bằng những cái mới tốt đẹp hơn Chính vìvậy, trong vòng mười lăm năm cuối cùng của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đấtnước ta, văn học cách mạng nói chung và thơ cách mạng nói riêng là dòng vănhọc duy nhất ngày càng phát triển rực rỡ Điều này sáng tỏ một chân lí: conđường cách mạng là con đường phát triển của văn học chân chính
Trang 163.2 Biện pháp thứ 2: Hệ thống hóa kiến thức cơ bản một số tác phẩm thơ cách mạng (1930-1945) trong chương trình Ngữ văn 11
Học sinh hiểu được hoàn cảnh sáng tác chi phối nội dung tác phẩm như thế nào?
Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
- Từ tác phẩm, khái quát được phong cách tác giả và lí giải được hoàn cảnh sáng tác chi phối như thế nào tới nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
2 Giá trị của
tác phẩm
Học sinh nhận biết được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Học sinh hiểu bản chất nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Học sinh vận dụng được kiến thức về nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm để làm văn nghị luận
Học sinh phải
những sáng tạo, mới mẻ về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
3.2.2 Kiến thức cơ bản tác phẩm “Chiều tối” (Hồ Chí Minh)
I Vài nét cơ bản về tác giả, tác phẩm
1 Tác giả:
- Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, danh nhân văn hoá thế giới
- Thơ văn Hồ Chí Minh là di sản văn hoá vô giá, là một bộ phận gắn bóvới sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh quan niệm văn học là vũ khí sắc bénphục vụ sự nghiệp cách mạng Mỗi khi viết, Người luôn tự hỏi: “Viết cho ai?”,
“viết để làm gì?”, sau đó mới quyết định: “viết cái gì?” và “viết như thế nào?”
- Phong cách nghệ thuật độc đáo, đa dạng Văn chính luận của Ngườithường ngắn gọn, súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, bằng chứng giàu sứcthuyết phục và đa dạng về bút pháp Truyện và kí rất hiện đại, giàu tính chiếnđấu và nghệ thuật trào phúng sắc bén Thơ nghệ thuật của Người có sự kết hợphài hoà giữa cổ điển và hiện đại; giữa chất trữ tình và chất thép; giữa sự trongsáng, giản dị và sự hàm súc, sâu sắc
Trang 172 Tác phẩm:
- Xuất xứ: Là bài thơ số 31 của tập thơ “Nhật kí trong tù” gồm 134 bài
thơ Trong khoảng thời gian Bác Hồ sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợcủa cộng sản quốc tế thế giới, chuyến đi ấy vào tháng 8-1942 Mục đích đi củaBác vì cách mạng nhưng trên đường đi đến huyện Túc Vinh, Bác đã bị hươngcảnh bắt giam vì nghi là “gián điệp” Chúng đày đọa Bác trong suốt mười batháng (tháng 8-1942 đến tháng 9-1943) Trong khoảng thời gian ấy Bác đã giãibày tâm tư, tình cảm của mình Bác đã phơi bày hiện trạng của xã hội TrungQuốc và nhà tù xã hội Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch
- Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ “Chiều tối”:
+ Bài thơ được Hồ Chí Minh viết vào khoảng tháng 10-1942, trong tiết
cuối thu, trên đường bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, chặng đườngđầu tiên của con đường khổ ải; ở đó người tù ngậm mối oan hờn mà đặt bànchân lên khắp miền đất Quảng Tây rộng lớn
+ Trên đường đầy ải ấy, Hồ Chí Minh tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mangvòng xích, có sáu người lính mang súng giải đi Phía trước, trong đêm chờ đờiNgười là một xà lim rét mướt, với đống rạ bẩn, đầy rệp; trên đó người tù phảingủ mà không được cởi trói, thậm chí còn bị xiềng tréo đôi chân
“Gian khổ như vậy, nhưng Cụ vẫn vui vẻ Cụ sung sướng được thấyphong cảnh thay đổi Cụ vừa đi vừa ngân nga Thỉnh thoảng Cụ Hồ làm thơ”(Trần Dân Tiên)
“Chiều tối” ra đời trong hoàn cảnh ấy
- Đề tài: Giãi bày tâm tư, tình cảm nỗi lòng của Người Đây là đề tài
hướng nội và người ta gọi là nhật kí tâm tư của Người
- Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt
- Bố cục: chia 2 phần:
+ Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên
+ Hai câu cuối: Bức tranh cuộc sống sinh hoạt
- Chủ đề: vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh:
yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên hoàn cảnh,luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống
II Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
1 Nội dung
1.1 Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên:
a Hình ảnh cánh chim:
Trang 18- Cổ điển:
+ Cánh chim gợi ra bóng chiều là thi liệu quen thuộc trong thơ xưa Trongquan niệm của các nhà thơ xưa nếu chưa có cánh chim thì bóng chiều chưa được
rõ Cánh chim chiều xuất hiện trong ca dao: “Chim bay về núi tối rồi” hay trong
thơ bà Huyện Thanh Quan “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” cánh chim trong
thơ Nguyễn Du “Chim hôm thoi thót về rừng” …
+ Thời điểm chiều tà thường xuất hiện trong thơ xưa Đó là khoảng thờigian gợi thương gợi nhớ, nhất là những khách tha phương Như Thôi Hiệu đãtừng viết “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu”(“Hoàng Hạc lâu”)
- Hiện đại:
+ Trong thơ xưa những cánh chim bay về nơi vô định, gợi sự xa xăm chialìa, phiêu bạt Trong thơ Lý Bạch: “Chúng điểu cao phi tận” hay trong thơ củaLiễu Tôn Nguyên “Thiên sơn điểu phi tuyển” Nhưng trong thơ Bác: cánh chimbay có mục đích, có phương hướng, có điểm dừng rõ ràng Cánh chim đang bay
do còn Bác đang mất tự do, …
-> Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình về thế giới thực tại
b Hình ảnh chòm mây cô đơn trôi lững lờ trên tầng không:
- Cổ điển:
+ Là thi liệu quen thuộc trong thơ Đường: “Bạch Vân thiên tải không dudu” (“Hoàng Hạc lâu” – Thôi Hiệu) hay “Cô vân độc khứ nhàn” (“Ngồi mộtmình ở núi Kính Đình” – Lý Bạch)… Đó đều là hình ảnh chòm mây cô độc trôigiữa bầu trời gợi lên sự cô độc thanh cao, sự phiêu diêu thoát tục và sự khắckhoải của con người
+ “mạn mạn”: vừa là thần thái của cảnh vật, vừa là phong thái ung dung
nhàn hạ của con người trong khoảnh khắc rất thi sĩ
- Hiện đại: chòm mây cô đơn, lẻ loi bay giữa bầu trời -> gợi sự liên tưởngvới cảnh ngộ của Bác: cô đơn, lẻ loi, vô định mất phương hướng
-> Tiểu kết: Bức tranh thiên nhiên ở đây không chỉ là bức tranh ngoạicảnh mà còn là bức tranh tâm cảnh Qua bức tranh thiên nhiên đó, người đọc
Trang 19thấy được sự cô đơn, mệt mỏi của người tù nhân; thấy được tình yêu thiên nhiêncủa thi nhân; thấy được bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng Dù
bị gông cùm xiềng trói, dù đang bị chuyển lao cô đơn, mất phương hướng nhưngngười chiến sĩ ấy vẫn hưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên và tái hiện trong thơ
Đó chính là tinh thần thép, là ý chí nghị lực của người chiến sĩ cách mạng HồChí Minh
1.2 Hai câu cuối – Bức tranh cuộc sống sinh hoạt
a Hình ảnh con người:
- Trung tâm của bức tranh: thiếu nữ xóm núi đang xay ngô Hình ảnh này
tỏa sáng lấp lánh ba vẻ đẹp:
+ Vẻ đẹp của tuổi trẻ: “thiếu nữ”: tuổi căng tràn sức sống.
+ vẻ đẹp của công việc lao động đời thường bình dị Trong thơ xưa, hình
ảnh thiếu nữ thường đặt trong không gian “phòng khuê”, với thú vui cầm, kì, thi,họa Thế nhưng trong thơ Bác người thiếu nữ gắn liền với công việc vất vả, laođộng khỏe khắn đang “xay ngô” để chạy đua với thời gian Hơn nữa, điệp cuốiđầu “ma bao túc” – “bao túc ma hoàn” đã gợi sự sự liên hoàn nhịp nhàng khôngdứt của những vòng xay ngô Chính vòng quay liên tục đó đã gợi lên được sựkhỏe khoắn trong công việc lao động, gợi ra sự cần mẫn, chăm chỉ của người laođộng
+ Vẻ đẹp của quan niệm mỹ học mới mẻ về mối quan hệ giữa con người
và thiên nhiên: Thơ xưa hình ảnh con người xuất hiện giữa thiên nhiên thườngnhỏ bé, lặng lẽ và mất hút Hình ảnh con người với nỗi quan hoài trong thơ bàHuyện Thanh Quan: “Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng tavới ta” hay con người mang nặng nỗi sầu nhân thế “Tựa gối buông cần lâuchẳng được/ Cá đâu đớp động dưới chân bèo” (Nguyễn Khuyến) Thế nhưng,con người trong thơ Bác là trung tâm, nổi bật không bị lu mờ trước thiên nhiên
b Hình ảnh sự sống:
- Cổ điển: dùng ánh sáng để chỉ bóng tối, dùng hình ảnh lò than rực hồng
để thể hiện bóng tối Câu thơ dịch “Cô em xóm núi xay ngô tối”, chữ “tối” đãphạm vào điều tối kị của thơ “mạch kị nông, ý kị lộ”
- Hiện đại: Chữ “hồng” nhãn tự của bài thơ Một chữ “hồng” “nó sáng
bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với 27 chữ khác dầu nặng đến mấy đichăng nữa” (Hoàng Trung Thông) Nếu hai mươi bảy chữ ở trên là cảnh chiềuthì một chữ “hồng” thể hiện sự vận động từ chiều đến tối, từ lạnh lẽo đến ấm áp(của lò than, của tình người), từ cô đơn đến sum vầy, từ nỗi buồn đến niềm vui
Đó là nhân sinh quan của người chiến sĩ cách mạng Sự vận động đó thể hiện sựlạc quan, tin tưởng của người chiến sĩ cách mạng
-> Tiểu kết: Từ bức tranh cuộc sống sinh hoạt, người đọc thấy nổi bật lên
vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: trong bất kì tình huống nào cũng hướng vềphía sự sống và ánh sáng, chủ nghĩa lạc quan luôn gắn liền với lòng nhân ái
Trang 213.2.3 Kiến thức cơ bản tác phẩm “Từ ấy” (Tố Hữu)
I Vài nét cơ bản về tác giả, tác phẩm
1 Tác giả:
a Cuộc đời: Tố Hữu (1920-2002)
- Tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành
- Quê quán: Thừa Thiên Huế
- Xuất thân trong một gia đình nho nghèo Cha mẹ Tố Hữu đều là nhữngngười yêu thơ văn và văn học dân gian
- Đến với cách mạng từ rất sớm (từ phong trào mặt trận dân chủ 1939) Năm 1938 được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng
1936 Từ khi được kết nạp Đảng đến năm 1986, Tố Hữu liên tục được giữnhững chức vụ quan trọng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước
b Sự nghiệp sáng tác:
- Những tập thơ chính: “Từ ấy” (1937-1946), “Việt Bắc” (1946-1954),
“Gió lộng” (1955-1961), “Ra trận” (1962-1971), “Máu và hoa” (1972-1975),
“Một tiếng đờn” (1992), “Ta với ta” (1999) Mỗi chặng đường thơ của Tố Hữuđều gắn liền chặng đường thơ với chặng đường cánh mạng
- Phong cách nghệ thuật:
+ Về nội dung: Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tớicái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách
mạng, của cả dân tộc Ngoài ra, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi: Luôn đề cập
đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Cảm hứng chủ đạotrong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử - dân tộc, không phải là cảm hứng thế sự -
đời tư Hình tượng trung tâm là con người của sự nghiệp chung, mang phẩm chất tiêu biểu cho cả dân tộc, mang tầm vóc lịch sử và thời đại
+ Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà: thể thơ:
thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc (lục bát,…);
ngôn ngữ (sử dụng từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc, phát huy cao độ
tính nhạc phong phú của tiếng Việt, sử dụng tài tình các từ láy, các thanh điệu,các vần,…; giọng thơ mang chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành,ngọt ngào, tha thiết
2 Tác phẩm:
*Tập thơ: “Từ ấy”
- Là tập thơ đầu tay của Tố Hữu
Trang 22- Sáng tác trong suốt 10 năm từ 1937 đến 1946 Dung lượng gồm 71 bài,chia làm ba phần (“Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng”)
*Bài thơ: “Từ ấy”
- Xuất xứ: Nằm trong phần “Máu lửa” của tập thơ “Từ ấy”.
- Hoàn cảnh sáng tác: tháng 7 năm 1938, Tố Hữu được kết nạp Đảng.
- Nhan đề: “Từ ấy” phiếm chỉ, không nói rõ là khi nào nhưng người đọc
đều biết đó là sự kiện Tố Hữu kết nạp Đảng, nhắc đến bước ngoặt quan trọngtrong tư tưởng, tình cảm của Tố Hữu
- Bố cục: 3 phần:
+ Khổ 1: Niềm vui sướng say mê khi gặp lí tưởng của Đảng
+ Khổ 2: Sự chuyển biến trong tư tưởng, nhận thức
+ Khổ 3: Sự chuyển biến trong tình cảm
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm vui lớn của Tố Hữu khi giác ngộ lí tưởng
cộng sản, sự gắn bó khăng khít của cá nhân với quần chúng nhân dân và niềmtin tưởng lạc quan của nhà thơ vào tương lai tươi sáng của dân tộc
II Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
1 Nội dung
1.1 Khổ 1: Niềm vui sướng say mê khi gặp lí tưởng của Đảng:
* Hai câu đầu: Bút pháp tự sự: kể lại kỉ niệm sâu sắc khó quên trong cuộc đời mình.
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim”
- Trạng ngữ chỉ thời gian: “Từ ấy” mốc son chói lọi, mở ra bước ngoặthuy hoàng trong cuộc đời Tố Hữu
+ Trước mốc son ấy: Tố Hữu là người yêu nước, thương dân, giàu nhiệthuyết, đau đớn khi thấy nước mình mất chủ quyền, dân mình trở thành người nô
lệ nhưng không biết làm gì? Tố Hữu đã có lúc đứng trước sự lựa chọn hoặc tiếptục cuộc sống bình yên giả tạo, ngột ngạt, chán nản của trí thức tiểu tư sản; hoặcdũng cảm đứng lên theo con đường đấu tranh cách mạng khó khăn, gian khổ.Cuối cùng Người thanh niên trẻ ấy đã tìm đến con đường cách mạng, đấu tranhgiải phóng dân tộc
+ Sau mốc son ấy: Tố Hữu cảm thấy yên tâm với con đường đấu tranhgiải phóng dân tộc, dù chông gai nhưng mở ra tương lai tươi sáng
- Các hình ảnh ẩn dụ diễn tả niềm vui sướng, say mê của tác giả:
+ Hình ảnh “nắng hạ”: nguồn sáng rực rỡ, đầy sức sống, tràn trề nănglượng, tràn trề sinh lực -> niềm hạnh phúc, sung sướng đang chan chứa trongtâm hồn nhà thơ
+ Hình ảnh “mặt trời chân lí”: tỏa ra ánh sáng của Đảng, của cách mạng,chủ nghĩa Mác – Lê-nin rực rỡ, chói lọi Thứ ánh sáng ấy vĩnh viễn, cần thiếtnhư mặt trời và đúng đắn như chân lí
Trang 23-> Hai hình ảnh này là sự liên kết mới mẻ gợi ra nguồn sáng báo hiệunhững điều tốt lành.
- > Nhà thơ khẳng định: Lí tưởng cách mạng giống như một nguồn sángmới, đã làm thức tỉnh lí trí, mang đến cho nhà thơ nguồn sức mạnh kì diệu
- Dùng những động từ mạnh:
+ “bừng”: nguồn ánh sáng mạnh, diễn ra đột ngột
+ “chói”: sự lan tỏa xuyên thấu của nguồn sáng ấy
-> Không chỉ tác động đến thị giác mà còn tác động đến trái tim -> ánhsáng của Đảng, của cách mạng đã xua tan hoàn toàn sương mù của ý thức hệ tưsản, mang đến một chân trời mới cho nhận thức và tình cảm
* Hai câu cuối: Bút pháp trữ tình: Diễn tả trực tiếp niềm hạnh phúc, vui sướng, say mê:
“Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
- Biện pháp tu từ so sánh (so sánh mở rộng, ý thơ tràn xuống câu thơ)+ Vườn hoa lá được đón nhận ánh sáng của mặt trời của nắng hạ trở nênđậm hương sắc và rộn tiếng chim -> trở nên và tràn trề hương sắc và rộn rã âmthanh
+ Tâm hồn Tố Hữu được đón nhận ánh sáng của lí tưởng cộng sản, củaĐảng, của cách mạng cũng trở nên đầy sinh lực, tràn trề hạnh phúc, có ý nghĩa
- Lối vắt dòng thể hiện niềm vui lớn lao, tràn trề nên không thể diễn tảtrong khuôn khổ chật hẹp của một dòng thơ mà phải tràn xuống dòng thơ tiếptheo
1.2 Khổ 2: Nhận thức mới về lẽ sống
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời.”
- Cái “tôi”: là cái tôi chung, hòa nhập, gắn kết với cộng đồng, không bơ
vơ lạc lõng giống như cái “tôi” trong Thơ mới
- Cấu trúc tuơng đồng, có sự phân tách rõ rệt: bên này câu thơ là những gìthân thuộc về cá nhân (“lòng tôi”, “hồn tôi”), phía bên kia câu thơ là những gìthuộc về quần chúng nhân dân rộng lớn, nhân dân không tách biệt mà hòa hợp,xích lại gần quần chúng nhân dân, được diễn tả qua hàng loạt động từ:
+ “buộc”: nghĩa đen: sự kết nối, thắt chặt những vật thể tách rời không thểriêng rẽ Trong câu thơ, đó là tinh thần tự nguyện của Đảng viên trẻ tuổi chủđộng gắn bó chặt chẽ cuộc đời với “mọi người” xung quanh “Mọi người” là tất
cả các giai cấp, các tầng lớp, không có sự phân biệt, không có sự kì thị -> TốHữu đã vượt lên rào cản giai cấp
+ “trang trải”: sự vươn xa, phủ khắp theo chiều rộng không cùng -> diễn
tả sự gửi trao những tình cảm tha thiết nồng thắm của tác giả đến với “trăm nơi”
Trang 24“Trăm nơi” là con số ước lệ cho những đích đến không có giới hạn mà tình cảmnhà thơ gửi gắm đến với mọi miền của Tổ quốc.
+ “gần gũi nhau”: là sự gần gũi “tôi” với “bao hồn khổ” -> sự tương táchai chiều, người Đảng viên chính thức được đón nhận vào với quần chúng nhândân
- Kết quả cuối cùng của sự hòa nhập là “mạnh khối đời” “Khối đời” làcuộc đời chung, cuộc đời lớn, không thể nhìn thấy, không thể cân đo đong đếm,
là khái niệm trừu tượng -> Nhấn mạnh sức mạnh của sự đoàn kết trong đấutranh cách mạng: mỗi cá nhân sẽ làm cho khối đời chung trở nên mạnh hơn,ngược lại, khối đời chung ấy sẽ giúp cho mỗi cá nhân tăng thêm sức mạnh, vữngtâm hơn, tin tưởng hơn
1.3 Khổ 3: Những chuyển biến trong tình cảm
“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ…”
- Cái “tôi” đứng giữa quần chúng lao khổ, hòa nhập vào quần chúng laokhổ, trở thành thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ
- Biện pháp lặp cấu trúc cú pháp 3 lần: “là….của” -> Khẳng định sự chắcchắn, vững vàng trong nhận thức và tình cảm của nhà thơ Tố Hữu sau khi đượcgiác ngộ lí tưởng cộng sản
- Cách tự xưng: “là con”, “là anh”, “là em” -> Thể hiện mối quan hệ gắn
bó như ruột thịt khi gắn bó với đại gia đình quần chúng Diễn tả trách nhiệm lớnlao: làm sao để cứu vớt những cuộc đời, những số phận lao khổ
- Đại gia đình, những người thân thiết ruột thịt, đó là “vạn nhà”, “vạn kiếpphôi pha”, “vạn đầu em nhỏ/ không áo cơm cù bất cù bơ”
- Từ chỉ số nhiều “vạn” là con số ước lệ, không cùng, không giới hạn,đồng nghĩa với việc tình cảm bao la của tác giả dâng tặng cho mọi người là baola
- Gọi thành những kiếp sống lầm than là biểu hiện của sự xót thương,đồng cảm, chia sẻ; đồng thời cũng là biểu hiện của sự căm phẫn những bất côngngang trái trong xã hội cũ Chính tình cảm mãnh liệt trở thành động lực để tácgiả hành động, đấu tranh giải phóng cho những kiếp sống lầm than
=> Tóm lại: Nội dung bài thơ “Từ ấy”:
- Biểu hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt trong buổi đầu gặp gỡ lítưởng cộng sản
- Nêu lên những tác động to lớn, mạnh mẽ của lí tưởng đối với nhận thức
và tình cảm của người Đảng viên mới
- Mốc son đánh dấu của một đời người, đồng thời cũng là mốc son khởiđầu của một hồn thơ
Trang 252 Nghệ thuật:
- Sử dụng các biện pháp tu từ với mật độ dày đặc
- Cách ngắt nhịp thay đổi linh hoạt kết hợp với phép điệp… tạo nên tínhnhạc cho bài thơ, giọng thơ trở nên náo nức, say mê, sảng khoái, phù hợp vớinội dung bài thơ và tâm trạng của tác giả
- Kết hợp bút pháp tự sự và bút pháp trữ tình để đạt hiệu quả nghệ thuậtcao nhất
SƠ ĐỒ TƯ DUY BÀI “TỪ ẤY” (TỐ HỮU)
Trang 263.3 Biện pháp thứ 3: Hướng dẫn học sinh ra đề đọc – hiểu và nghị luận
xoay quanh hai tác phẩm “Chiều tối” (Hồ Chí Minh), “Từ ấy” (Tố
tư tưởng/ quan điểm/
thái độ của tác giả.
Hoặc:
- Nêu ý nghĩa/ tác dụng của việc sử dụng thể loại/ phương thức biểu đạt/ từ ngữ/
chi tiết/ hình ảnh/
biện pháp tu từ trong văn bản.
Hoặc:
- Lí giải một nét đặc sắc về nghệ thuật theo đặc trưng thể loại (thơ/truyện/kịch/kí…) hoặc một vài nét đặc sắc về nội dung của văn bản
- So sánh, đối chiếu văn bản
đã cho với các văn bản khác để
chung và khác biệt về nội dung
và hình thức nghệ thuật.
Hoặc:
- Nhận xét tư tưởng/ thái độ/
tình cảm của tác giả trong văn bản.
Hoặc:
- Nhận xét một giá trị nội dung/
nghệ thuật của văn bản.
- Vận dụng
những hiểu biết từ văn bản để giải quyết một vấn đề/tình huống thực tiễn.
Hoặc
- Từ văn
bản, rút ra bài học/giá trị sống cho bản thân và những người xung quanh
1 1.0 10%
1 1.0 10%
4 3.0 30%
Trang 27rõ ràng;
- Xác địnhđúng vấn đềnghị luận
- Viết đúngchính tả,dùng từ, đặtcâu
- Hiểu đượcvấn đề nghịluận
- Chia vấn
đề nghịluận thànhnhững luậnđiểm phùhợp
Các luậnđiểm đượctriển khaitheo trình tựhợp lí, có sựliên kết chặtchẽ; sử dụngtốt các thaotác lập luận;
biết kết hợpgiữa nêu lí lẽ
chứng
Bài viết cósáng tạotrong suynghĩ vàdiễn đạt
Số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ:
1,0 10%
1,0 10%
4,0 40%
1 1,0 10%
1 7,0 70%
Trang 28* Kiểu bài: Chứng minh một ý kiến
- Xác định đúng vấn đề nghị luận chứng minh môt ý kiến bàn về tác phẩm.
- Viết đúng chính tả, dùng
từ, đặt câu.
Hiểu được nội dung của
ý kiến để chỉ
ra vấn đề nghị luận.
- Chia vấn đề nghị luận thành những luận điểm phù hợp.
Vận dụng các kiến thức về tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu ra trong đề bài.
Vận dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và dẫn chứng.
Bài viết có sáng tạo trong suy nghĩ và diễn đạt: Đưa ra nhận xét, đánh giá của
cá nhân về ý kiến.
Số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ:
1,0 10%
1,0 10%
4,0 40%
1 1,0 10%
1 7,0 70%
* Kiểu bài so sánh hai đoạn trích/ 2 tác phẩm
- Xác định đúng vấn đề
- Hiểu được các bình diện của vấn đề.
- Vận dụng các thao tác lập luận, kiến thức về tác phẩm để tạo lập văn bản.
- Bài làm có
sáng tao trong suy nghĩ trong diễn đạt.